TRIẾT HỌC HIỆN SINH
Ngay ở Pháp hiện nay cũng khó tìm được một cuốn sách viết về triết học Hiện
Sinh vừa đầy đủ, vừa dễ hiểu như cuốn của Trần Thái Đỉnh, do nhà Thời Mới in
năm 1967 tại Sài Gòn. Võ Phiến, lúc đó là chủ nhà xuất bản Thời Mới, ghi lại: "Hai
cuốn sách bán được nhanh nhất và nhiều nhất (thời ấy) là hai cuốn liên quan đến
triết học tức là cuốn Triết Học Hiện Sinh của Trần Thái Đỉnh và cuốn Những Trào
Lưu Lớn Của Tư Tưởng Hiện Đại, dịch của André Maurois" (Văn Học Miền Nam
Tổng Quan, Nxb Văn Nghệ, 1986). Tại sao cuốn sách best sellers năm 1967
không phải là tiểu thuyết mà lại là sách về triết học? Đó là câu hỏi cần được đặt
ra. Hiện tượng này mang nhiều ý nghĩa: Phải chăng thời kỳ những năm 60-70
triết học đã đi vào đời sống thường ngày? Phải chăng các giáo sư thời ấy đã thành
công ít nhiều trong việc giảng dạy môn triết ở nhà trường và đại học, họ đã bình
dân hóa triết học hơn các thời kỳ khác và đó có thể cũng là một trong những lý
do khiến miền Nam, sau 54, đã có những thành tựu đáng kể trong việc đổi mới
văn học, với những tác giả đào sâu vào nỗi đau nội tâm, vào bi kịch phi lý của
cuộc hiện sinh con người như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan,
Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Huỳnh Phan Anh,
Nguyễn Đình Toàn, Trần Thị NgH. v.v...
Tác dụng triết học vào sáng tác thời ấy, đem lại cho văn học một chiều sâu mới.
Tác dụng này đã được giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, cựu khoa trưởng Đại Học Văn
Khoa, Sài Gòn, tức nhà thơ Trần Hồng Châu nhắc đến bằng những lời sau đây:
"Thời 60-70, triết học phương Tây tương đối phát triển mạnh ở miền Nam [...]
Triết lý này phát triển mạnh ở đại học Pháp [sau thế chiến], sau đó bước hẳn vào
đời sống, đặc biệt ở thị thành với giới trí thức và thanh niên. Dĩ nhiên sang Việt
Nam, cũng đồng hoàn cảnh chiến tranh, đồng tâm lý hoang mang, chán nản và
mất hướng, những hạt giống hiện sinh tha hồ nẩy nở. Nhất là lúc đó, từ nửa sau
thập niên 50, có một số trí thức Việt Nam du học ở pháp và Bỉ, về nước đã phổ
biến các triết thuyết Hiện Sinh, hình thái Sartre và Merleau Ponty. Cộng thêm vào
đó là lý thuyết phi lý (théorie de l?absurde) của Camus, rồi tới trào lưu nhân vị,
personnalisme, của E. Mounier, một hệ tư tưởng được bồi đắp và đề cao ở Việt
Trần Thái Đỉnh còn có bút hiệu là Trần Hương Tử, viết Triết Học Nhập Môn, Triết
Học Hiện Sinh (1967), Triết Học Kant (1969), Biện Chứng Pháp Là Gì (1969),
Hiện Tượng Học Là Gì (1969). Lê Tôn Nghiêm viết Heidegger Trước Sự Phá Sản
Của Tư Tưởng Tây Phương (1969), Đâu Là Căn Nguyên Tư Tưởng (1970). Trần
Văn Toàn viết Hành Trình Đi Vào Triết Học (1965), Xã Hội Và Con Người (1965),
Tìm Hiểu Triết Học Karl Marx (1965), Tìm Hiểu Đời Sống Xã Hội (1967). Nguyễn
Văn Trung viết rất nhiều tác phẩm, vừa triết học thuần túy, vừa triết học áp dụng
vào văn chương, vào phê bình văn học, phê bình chính trị, phê bình xã hội v.v...
Tác phẩm của Nguyễn Văn Trung gồm những cuốn như Biện Chứng Giải Thoát
Trong Phật Giáo (1958), Nhận Định (5 tập), Xây Dựng Tác Phẩm Tiểu Thuyết
(1962), Lược Khảo Văn Học (3 tập), Chủ Nghĩa Thực Dân Pháp Ở Việt Nam, Thực
Chất Và Huyền Thoại (1963), Nhà Văn, Người Là Ai? Với Ai? (1965), Hành Trình
Trí Thức Của Karl Marx (1966), Ca Tụng Thân Xác (1967), Ngôn Ngữ Và Thân Xác
(1968), v.v... Nguyên Sa Trần Bích Lan viết những sách về văn học và triết học:
Quan Điểm Văn Học Và Triết Học (1959), Descartes Nhìn Từ Phương Đông
(1966), Một Bông Hồng Cho Văn Nghệ (1967), Một Mình Một Ngựa (1971).
Nếu trong một ngày gần đây, những cuốn sách của các tác giả này được lần lượt
tái bản ở trong nước, thì hẳn chúng sẽ giúp đỡ rất nhiều cho giới trẻ, phần lớn còn
thiếu vốn ngoại ngữ, nhưng muốn tìm hiểu tiến trình tư tưởng của con người
trong thế kỷ XX. Đối với những văn nghệ sĩ muốn cách tân thơ văn, vấn đề lại
càng khẩn thiết. Vì hầu như mọi hình thức văn nghệ đều gắn bó với các trào lưu
tư tưởng, mà muốn cập nhật hóa văn nghệ thì trước hết phải cập nhật hóa tư
tưởng.
Ở ngoài nước, vấn đề cũng không khác: Các tác giả ngoài nước có cảm tưởng
rằng sự tự do và đọc được ngoại ngữ sẽ đương nhiên đưa tới việc đổi mới và cập
nhật với văn chương thế giới. Mọi sự có lẽ không đơn giản như vậy: Từ việc biết
ngoại ngữ để làm việc sinh sống, đến việc tìm hiểu tư tưởng của thế kỷ để đào
học Hiện Sinh. Bẩy chương sau vết về bẩy triết gia hiện sinh: Kierkergaard, ông
tổ hiện sinh chính thực, Nietzsche, ông tổ hiện sinh vô thần, Husserl, ông tổ văn
chương triết lý Hiện tượng luận, Jasper, hiện sinh hướng về siêu việt, Marcel, hiện
sinh và huyền nhiệm, Sartre, hiện sinh hư vô, Heidegger, hiện sinh và hiện hữu.
Trong phần đầu, trình bầy lập trường của triết học Hiện Sinh, Trần Thái Đỉnh lược
kể mục đích của triết học cổ điển từ Aristote đến Hegel, để người đọc có thể so
sánh sự khác biệt giữa triết học cổ điển với triết học Hiện Sinh và đó cũng là mấu
chốt sâu xa của sự khác biệt giữa văn học cổ điển và hiện đại.
Triết học cổ truyền Tây phương, thay vì giúp con người suy nghĩ về thân phận và
định mệnh mình, lại chỉ khuyến khích con người quên mình để tìm hiểu những lẽ
huyền vi của tạo hóa. Câu định nghĩa của triết học kinh viện là: Triết học là khoa
học về vạn vật, lấy những nguyên nhân tối cao để giải nghĩa chúng. Như thế, con
người không có chỗ đứng riêng, con người cũng bị coi là trong hàng vạn vật.
Trong cả bộ triết học Aristote, không dành phần nào cho con người hiện sinh hết,
không bàn đến tự do, không bàn đến nhân vị, không bàn đến định mệnh và
những gì đợi chúng ta sau khi chết. Vũ trụ to quá, át tất cả. Con người bị bỏ
quên. (trang 11, 12).
Vũ trụ quan của Aristote cho ta thấy một con người bị chìm trong vũ trụ.
Descartes với sự khám phá ra chủ thể tính con người và tự do mang nặng chất
hiện sinh, đã hé nhìn thấy đường đi của triết học. Đối với Descartes, không thể có
triết học về vũ trụ mà chỉ có khoa học về vũ trụ và triết học về tinh thần. (trang
15)
Đáng tiếc là Descartes đã chỉ dừng lại ở tinh thần con người mà không tìm hiểu
con người như một thực thể sinh tồn, có thần, có xác.
chúa đời xưa, của lãnh đạo, lãnh tụ đời nay, của ông thầy hay của bất cứ ai ban
bảo. Mà là nhãn quan của cá nhân mình.
Tự do ở đây không phải là cái tự do của thế giới tự do. Tự do ở đây là tự do hiện
sinh, tức là tự do bên trong, tự do phát xuất từ bản thể. Tự do lựa chọn, tự do
quyết định. Tự do ở đây là dám là mình. Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở trên bảo
sao tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống như một sinh
vật, chưa sống cái kiếp người của tôi. Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để sinh tồn,
sống như cây cỏ đó, Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là
tầm thường, và con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường, buồn nôn, phi
lý, thì phải vượt lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique), phải là một
chủ thể độc đáo (sujet unique). Độc đáo ở đây không có nghĩa lập dị mà chỉ có
nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước người khác và cũng
không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc đáo là tự xác định nhân vị
của mình. Nhân vị và tự do là nội dung của Hiện Sinh.
Về mặt hình thức, tri thức của triết gia cổ truyền là tìm biết bản tính sự vật và cả
bản tính con người nữa. Thí dụ, triết học cổ truyền cho biết: bản tính con người là
"một con vật có lý trí". Vì có lý trí nên có suy luận, có suy luận thì biết chọn điều
thiện, bỏ điều ác v.v... (trang 29)
Văn chương cổ điển rập theo khuôn khổ triết học cổ điển ấy, cũng tìm hiểu tâm lý
nhân vật, giải thích tại sao người này làm thế này, tại sao lại làm thế kia, nhân
vật này nghĩ thế này, nhân vật kia nghĩ thế kia v.v... Tóm lại, triết học cổ truyền
chủ trương rằng con người có thể biết được bản tính của sự vật và con người.
Triết học Hiện Sinh, ngược lại, cho rằng chỉ có Thượng Đế mới biết được bản tính
của muôn loài, còn chúng ta, con người, chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật. Vì
chúng ta chỉ có cái nhìn phiến diện về sự vật nên đã phát sinh trường phái cái
nhìn (Ecole du regard) trong tiểu thuyết mới: tức là nhà văn phải nhìn nhiều lần
sự vật trong nhiều chiều hướng khác nhau, mỗi lần nhìn, nhà văn biết rõ thêm
của triết học Hiện Sinh. Sau này, Sartre, Camus, Simone de Beauvoir và những
tác giả có khuynh hướng hiện sinh khác, như các nhà văn trong phong trào tiểu
thuyết mới v.v... hầu như tất cả đều viết về mình, đều tra khảo chính mình để
tìm hiểu sự thật dưới các dạng thức khác nhau. Triết học của Kierkergaard là triết
học nghiệm sinh trên cá nhân tác giả.
Kierkergaard nhìn thấy trong kinh nghiệm sống của mình, ba giai đoạn hiện sinh:
Giai đoạn đầu là giai đoạn hiếu mỹ: thời còn sinh viên, chìm đắm trong sắc dục,
bị cám dỗ. Kierkergaard bắt đầu suy nghĩ về tội lỗi, về buồn chán, về khổ đau.
Những tội lỗi mà Kierkergaard luôn luôn nhắc đến, có thể chỉ là trụy lạc trong trí
tưởng tượng, trụy lạc của cảm giác thẩm mỹ. Giai đoạn thứ nhì là giai đoạn đạo
hạnh: Kierkergaard yêu người con gái tên Régine Olsen, ông chấm dứt thời kỳ
phiêu đãng, ăn chơi. Ông muốn người yêu cùng với mình vươn lên tới giai đoạn
thứ ba: giai đoạn tôn giáo. Đặc tính của đời sống tôn giáo gồm hai chữ độc đáo
và tin yêu. Theo Kierkergaard, con người tôn giáo là con người đã tìm được nhân
vị của mình, không còn bị trói buộc bởi những luật lệ phổ quát của luân lý nữa.