BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ
CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG
CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
HÀ NỘI - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ
CỦA NHÓM TÍNH TỪ CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG
CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 9.22.90.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học
1. PGS.TS LÊ THỊ LAN ANH
2. GS.TS NGUYỄN VĂN HIỆP
Nguyễn Thị Thanh Hương
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu.........................2
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................3
5. Đóng góp của luận án....................................................................................4
6. Bố cục của luận án........................................................................................5
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
CƠ SỞ LÍ THUYẾT..................................................................................6
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.............................................................6
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ......................................6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của tính từ tiếng Việt............19
1.2. Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài.......................................................22
1.2.1. Khái quát về nghĩa của từ......................................................................22
1.2.2. Khái quát về kết trị của từ.....................................................................36
Tiểu kết............................................................................................................48
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VÀ KẾT TRỊ CỦA NHÓM TÍNH TỪ
CHỈ ĐẶC ĐIỂM VỀ LƯỢNG CỦA SỰ VẬT TRONG TIẾNG VIỆT KHI
DÙNG VỚI NGHĨA GỐC...............................................................................49
2.1. Khái quát về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong
tiếng Việt.......................................................................................................49
2.1.1. Quan niệm về tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt....49
2.1.2. Tiêu chí nhận diện tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt..52
2.1.3. Phân loại tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt...............55
2.1.4. Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt...57
2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN.....................................................143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................144
DANH MỤC BẢNG BIỂU
TT
Bảng 2.1
Tên gọi
Danh sách tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật
Trang
59
Bảng 2.2
trong tiếng Việt
Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm về lượng
76
khi nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật
Bảng 3.1
dùng với nghĩa gốc
Thống kê tham tố chỉ sự vật mang đặc điểm khi
nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng phát triển nghĩa
120
115
của sự vật trong tiếng Việt khi phát triển nghĩa
MỘT SỐ QUY ƯỚC VIẾT TẮT
TT
1
2
3
4
5
Chữ viết tắt
TTCĐĐVL
GD
Nxb
VBNT
VBKH
Nội dung
Tính từ chỉ đặc điểm về lượng
Giáo dục
Nhà xuất bản
Văn bản nghệ thuật
Văn bản khoa học
1
2
số công trình nghiên cứu. Nhưng nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt
dưới ánh sáng của lí thuyết kết trị thì chưa có một công trình khoa học chuyên
sâu nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện.
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: Đặc điểm ngữ nghĩa
và kết trị của nhóm tính từ chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng
Việt làm đề tài cho luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, mục đích của luận án là làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa và kết
trị của nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt, từ đó khẳng định mối
quan hệ chặt chẽ giữa ngữ nghĩa và kết trị của nhóm tính từ này trong sự hiện
thực hóa ngôn ngữ.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án phải thực hiện những
nhiệm vụ sau:
- Xây dựng khung lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài: Lí thuyết
kết trị (khái niệm kết trị, tham tố, phân loại tham tố, nguyên tắc và thủ pháp
xác định kết trị …), lí thuyết ngữ nghĩa ( nghĩa của từ, hiện tượng nhiều nghĩa
và sự chuyển biến ý nghĩa của từ, ý niệm, phạm trù, miền, miền nguồn, miền
đích…), lí thuyết về TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt (khái niệm, tiêu
chí nhận diện, phân loại…).
- Phân tích, miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của nhóm TTCĐĐVL
của sự vật trong tiếng Việt khi dùng với nghĩa gốc.
- Phân tích, miêu tả sự phát triển ngữ nghĩa và thay đổi kết trị của nhóm
TTCĐĐVL trong tiếng Việt.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn ngữ liệu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngữ nghĩa và kết trị của
thức cũng như nội dung của các tham tố.
4
4.2. Phương pháp phân tích cú pháp
Phương pháp này chúng tôi sử dụng nhằm giải mã những vấn đề của câu
về mặt hình thức, từ đó làm cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và giải mã các vấn
đề về mặt ngữ nghĩa. Nhờ đó, mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa kết trị
và ngữ nghĩa được sáng tỏ.
4.3. Thủ pháp thống kê, phân loại
Thủ pháp này được dùng để thống kê lượng từ ngữ, phân loại nhóm
TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt ở các nguồn ngữ liệu và những biểu thức
ngôn ngữ có chứa những tính từ này dựa trên những đặc điểm giống nhau về
ngữ nghĩa, kết trị. Đây là cơ sở giúp đề tài mang tính khách quan và thuyết phục.
4.4. Thủ pháp mô hình hóa
Thủ pháp này được sử dụng để xác lập mô hình kết trị của nhóm tính từ
trong hệ thống cũng như trong hoạt động hành chức.
4.5. Thủ pháp so sánh
Chúng tôi sử dụng thủ pháp so sánh để làm rõ những điểm tương đồng,
khác biệt về ngữ nghĩa cũng như về kết trị của nhóm TTCĐĐVL khi được dùng
với nghĩa gốc và sự phát triển ngữ nghĩa ở hai loại văn bản: VBKH và VBNT.
Ngoài phương pháp miêu tả và các thủ pháp trên, chúng tôi còn sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học khác để giải quyết các nhiệm vụ
của luận án.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Về mặt lí luận
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa và kết trị của
nhóm TTCĐĐVL của sự vật trong tiếng Việt. Thông qua việc nghiên cứu,
luận án thêm một bước làm rõ hơn lí thuyết về kết trị và ngữ nghĩa trong sự
chỉ đặc điểm về lượng của sự vật trong tiếng Việt
Ở chương 3, chúng tôi sẽ miêu tả và phân tích sự phát triển ngữ nghĩa
cũng như sự thay đổi mô hình kết trị và các tham tố của nhóm TTCĐĐVL
trong sự hiện thực hóa.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Ngữ nghĩa và kết trị của từ là một trong những vấn đề cần được quan
tâm khi nghiên cứu ngôn ngữ. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình đề cập
đến nội dung này theo các góc độ khác nhau. Vì vậy, trong chương này, luận
án điểm lại một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xác
định cơ sở lí luận có tính đường hướng cho đề tài.
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu về nghĩa và kết trị của từ
Vấn đề ngữ nghĩa từ xưa cho đến nay luôn được các nhà nghiên cứu
ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm. Hầu như, các công trình nghiên cứu ngôn
ngữ nào cũng đề cập đến nghĩa ở một mức độ nhất định. Trong phần này,
chúng tôi chỉ điểm lại một cách sơ lược nhất về vấn đề nghiên cứu ngữ nghĩa
trên thế giới và ở Việt Nam.
1.1.1.1. Tình hình nghiên cứu về nghĩa của từ
a. Những nghiên cứu trên thế giới
Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn độc lập hình thành vào khoảng
cuối thế kỉ XIX và được đánh dấu bằng công trình “Essai de Sémantique”
(1877) của Michel Bréal. Ông được xem là người đi tiên phong trong nghiên
cứu khoa học ngữ nghĩa. Dù công trình của M. Bréal ra đời sau, nhưng được
giữa chúng luôn có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau. Đây là bước tiến
lớn trong nhận thức về nghĩa của tín hiệu – từ.
Làm rõ hơn một bước, C.K. Ogden và I.A. Richards (1923) đã đề xuất một
sơ đồ gọi là “tam giác nghĩa”. Trong đó, một đỉnh là biểu hiệu, một đỉnh là tư
duy và một đỉnh là sở chỉ, giữa chúng luôn có mối quan hệ lẫn nhau. “Quan hệ
giữa biểu hiệu và tư duy là quan hệ biểu trưng; quan hệ giữa tư duy hay sự quy
chiếu với sở chỉ là quan hệ quy chiếu; quan hệ giữa biểu hiệu với sở chỉ là quan
8
hệ thay thế tên gọi”. [dẫn theo 35, tr.37] Cũng bàn tới vấn đề này, G. Stern
(1931) và S. Ullmann (1962) cũng đưa ra sơ đồ cải tiến tam giác nghĩa và giải
thích mối quan hệ giữa các thành tố của nghĩa. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra ba
nhân tố nghĩa và thay đổi một số thuật ngữ. Đáng chú ý là các tác giả đưa thêm
khái niệm nội dung liên hội như một loại nghĩa của tín hiệu từ.
Theo quan niệm truyền thống, John Lyons (1977) coi “khái niệm là
nghĩa của từ”. Ông đã cải tiến sơ đồ tam giác nghĩa và giải thích: “Hình thức
của từ có thể nói là “biểu nghĩa” cho cả “khái niệm’ mà các “sự vật” được
gộp vào đó (bằng sự “trừu tượng” khỏi các đặc tính “ngẫu nhiên” của
chúng) và cả bản thân các “sự vật” đó nữa”. [dẫn theo 35, tr.38] Lúc này, cái
quy chiếu không còn được xem là nghĩa nữa mà nghĩa là nội dung khái niệm,
là nội dung liên hội và nghĩa biểu thị.
Bên cạnh các tác giả với những công trình nghiên cứu trên, trong ngữ nghĩa
học thế giới, chúng ta còn gặp nhiều quan niệm với các khuynh hướng khác
nhau như: Kurt baldinger, V.A. Zveginxev, Ju.D. Appressian, Ju.X. Stepanov…
Về hiện tượng chuyển nghĩa của từ cũng được các nhà nghiên cứu bàn tới
với những khuynh hướng nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến ba khuynh
hướng chính trên thế giới như sau: (1) Khuynh hướng nghiên cứu theo nghiên
cứu theo lôgic học mà Paul là người khởi xướng. Những quan niệm của ông
học tri nhận cũng nhận thấy ẩn dụ ý niệm là cách thức tư duy, hé lộ cho biết
cách nghĩ và văn hóa dân tộc.
b. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, so với nghiên cứu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thì ngữ nghĩa
học, đặc biệt nghĩa học ngữ pháp (grammatical semantics) là một chuyên
ngành chưa có chiều dày. Sự xuất hiện ban đầu của ngữ nghĩa học gắn liền
với từ vựng học. Vì vậy, những tri thức ban đầu của ngữ nghĩa học chủ yếu
được đề cập trong những giáo trình cơ sở từ vựng học. Nhìn chung, các nhà
nghiên cứu đã quan tâm đến bản chất ý nghĩa từ vựng, các kiểu ý nghĩa từ
vựng, các quan hệ nghĩa, hiện tượng chuyển nghĩa …
10
Năm 1998, cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng của Đỗ Hữu Châu ra đời.
Lần đầu tiên ở Việt Nam, các vấn đề lí thuyết ngữ nghĩa học được giới thiệu.
Có thể nói, Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm nhất và có nhiều công
trình về lí thuyết nghĩa của từ. Chính ông đã góp phần xây dựng cơ sở nền
tảng cho ngữ nghĩa học từ vựng tiếng Việt. Theo ông, “Nghĩa của từ là hợp
điểm, là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo
nên nghĩa. Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ
và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ”. [17, tr.98] Quan niệm này của
Đỗ Hữu Châu không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm nghĩa của từ mà còn
bàn tới các thành phần ý nghĩa của từ. Tác giả đã xác định các nhân tố ngoài
ngôn ngữ là (1) sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, có thể thuộc thế
giới nội tâm, có thể thuộc thế giới ảo tưởng; (2) sự hiểu biết của con người
về nhân tố thứ (1), và (3) nhân tố lịch sử xã hội (mỗi thời đại và các tập thể
xã hội khác nhau cũng ảnh hưởng đến nghĩa của từ, khiến cho mỗi từ có thể
có những vẻ nghĩa riêng). Còn các nhân tố thuộc ngôn ngữ là: (1) toàn bộ
hệ thống ngôn ngữ với những quan hệ giữa chúng; (2) chức năng tín hiệu
Châu không khác nhau nhiều. Nhưng hệ thuật ngữ thì có khác nhau. Nếu như
Đỗ Hữu Châu gọi các thành phần nghĩa của từ là “nghĩa biểu vật, nghĩa biểu
niệm và nghĩa biểu thái” [18] thì Nguyễn Thiện Giáp dùng: “nghĩa sở chỉ,
nghĩa sở biểu và nghĩa sở dụng” [34]. Ở một số công trình khác, Nguyễn
Thiện Giáp cũng đã đề cập đến ngữ nghĩa học từ vựng như: “sự biển đổi ý
nghĩa của từ ngữ, những quan hệ về nghĩa của từ, trường nghĩa…” [35].
Tiếp theo là Tập bài giảng về Ngữ nghĩa học của Lê Quang Thiêm [82]
Đây có thể coi như một công trình xác lập ngữ nghĩa học với tư cách là một
bộ môn ngôn ngữ học riêng. Ngoài việc giới thiệu những thành tựu về ngữ
nghĩa học, tác giả cũng thể hiện cách lí giải về “tầng nghĩa và kiểu nghĩa
chức năng từ vựng”,“tầng nghĩa và kiểu nghĩa trong các phạm trù ngữ
pháp”, “tầng nghĩa và kiểu nghĩa hiển ngôn của lời”… Trong công trình này,
không chỉ nghĩa học từ vựng mà nghĩa học ngữ pháp và nghĩa học ngữ dụng
cũng được Lê Quang Thiêm bàn tới. Đây là cái mới của công trình này.
12
Tiếp nối và triển khai sâu rộng quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt
Hùng [49] đã trình bày những quan niệm cơ bản về các bình diện nội dung
của tín hiệu ngôn ngữ và vai trò của nghĩa trong hoạt động cũng như sự chi
phối của các nhân tố giao tiếp đến việc sử dụng và lĩnh hội nghĩa.
Có thể nói, ngữ nghĩa học đã từng bước được các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ học Việt Nam tiếp cận và vận dụng trong nghiên cứu về tiếng Việt. Với
mong muốn “là một trong những cách làm thiết thực để thúc đẩy sự phát
triển của ngữ nghĩa học ở Việt Nam nói chung, đặc biệt là ngữ nghĩa học ngữ
pháp nói riêng” [60, tr.8], Nguyễn Văn Hiệp đã dịch cuốn Ngữ nghĩa học dẫn
luận của John Lyons ra tiếng Việt. Đây là cuốn dẫn luận ngữ nghĩa học đầu
tiên của nước ngoài được chính thức giới thiệu ở Việt Nam, cung cấp một cái
nhìn bao quát về ngữ nghĩa trên một phổ rộng, từ ngữ nghĩa từ vựng, ngữ
đây, trong Việt Ngữ học, hướng nghiên cứu ngữ nghĩa trong mối quan hệ với
kết trị của một từ loại được quan tâm với các công trình tiêu biểu:
Nguyễn Mạnh Tiến [88] đã làm rõ sự chi phối của ý nghĩa đối với kết
trị của động từ tiếng Việt. Theo tác giả, ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ
luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ đó, ý nghĩa giữ
vai trò chi phối kết trị. Sự chi phối của ý nghĩa đối với thuộc tính kết trị của
động từ thể hiện ở chỗ: “ý nghĩa của động từ quy định số lượng kết trị bắt
buộc (số lượng diễn tố) có thể có bên nó”, “quy định ý nghĩa và hình thức
ngữ pháp của các diễn tố”và “quy định sự hiện thực hóa kết trị của động từ
trong lời nói”. [88, tr.35]
Bùi Thị Nga [62] ngoài việc thống kê các vị từ kết nối trong tiếng Việt
đã vận dụng lí thuyết ngữ nghĩa chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa chung của vị từ
kết nối: hợp nhất, nối kết và tác tạo các đối tượng. Tác giả đã phân tích năm
hướng chuyển nghĩa của các vị từ nối kết, bước đầu lý giải cội nguồn hiện
tượng chuyển nghĩa của vị từ nối kết trong tiếng Việt.
Cùng hướng nghiên cứu với Bùi Thị Nga, Phạm Thị Mỹ Việt [100] đã
xác lập được hệ thống các vị từ quá trình tiêu biểu trong tiếng Việt. Tác giả
14
đã làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ này khi dùng với nghĩa gốc và
nghĩa chuyển. Với bốn hướng chuyển nghĩa biểu thị thời gian, hoạt động trí
tuệ của con người, trạng thái tâm lý- tình cảm và cuộc đời, mối quan hệ giữa
ngữ nghĩa và kết trị của từ nói chung và vị từ quá trình trong sự hiện thực
hóa ngôn ngữ được sáng tỏ.
Gần đây, Bùi Minh Toán, Lê Thị Lan Anh [95] đã làm sáng tỏ và cụ thể
hóa mối quan hệ giữa những đặc điểm ngữ nghĩa của từ (nghĩa từ vựng,
nghĩa ngữ pháp, trường nghĩa, sự chuyển nghĩa, sự chuyển trường) với đặc
điểm kết trị (số lượng, kiểu loại) của nó trên ngữ liệu tiếng Việt. Nghĩa của
sung, làm rõ nghĩa cho động từ đó. Mỗi loại động từ, tùy vào bản chất của
mình, sẽ đòi hỏi một số lượng nhất định các diễn tố với những đặc tính riêng
biệt. Bên cạnh đó, L. Tesnière cũng đưa ra quan điểm về khái niệm kết trị của
động từ. Đó là “thuộc tính hay khả năng của động từ hút vào mình một khối
lượng nhất định các diễn tố”. [dẫn theo 58, tr.199] Quan điểm này của L.
Tesnière gắn với lí thuyết ngữ pháp phụ thuộc có tầm ảnh hưởng không chỉ ở
Pháp mà còn ở một số nước khác.
Khác với L. Tesnière, S.D. Kasnelson đưa ra cách hiểu về kết trị và phân
biệt kết trị với khả năng tham gia vào các mối quan hệ cú pháp nói chung. Theo
ông, “kết trị là thuộc tính của lớp từ nhất định kết hợp vào mình những từ khác…
nhưng không có nghĩa là tất cả các từ đều có kết trị mà chỉ những từ có khả
năng tạo ra các “ô trống” đòi hỏi làm đầy trong các phát ngôn mới có kết trị”.
[dẫn theo 57, tr.27] So với L. Tesnière, S.D.Kasnelson đã đưa ra khái niệm kết
trị một cách chặt chẽ hơn, cụ thể hơn. Nó là khả năng tạo ra các vị trí xung
quanh mình của các lớp từ chứ không phải là khả năng kết hợp chung chung.
Bên cạnh đó, S.D.Kasnelson cũng đã có sự phân biệt kết trị nội dung và kết trị
hình thức. Những điều này là những đóng góp mới của S.D. Kasnelso góp
phần làm cho lí thuyết kết trị trở nên sâu sắc hơn.