BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------
NGUYỄN THỊ THU CHANG
ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG
TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN:
KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
HÀ NỘI, NĂM 2015
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------
NGUYỄN THỊ THU CHANG
ĐẠI TỪ CHỈ ĐỊNH ĐÂY, NÀY, ĐẤY, ĐÓ, KIA, ẤY TRONG
TIẾNG VIỆT NHÌN TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN:
KẾT HỌC, NGHĨA HỌC VÀ DỤNG HỌC
Chuyên ngành
: Ngôn ngữ học
Sinh viên
3
Nguyễn Thị Thu
Chang
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Chủ ngữ:
CN
Vị ngữ:
VN
Danh từ:
DT
Động từ:
ĐT
Tính từ:
TT
Danh từ chỉ vị trí:
DTCVT
Ví dụ:
VD
Vị tố:
VT
Vị tố trung tâm:
VTTT
Tham thể bắt buộc:
TTBB
Tham thể mở rộng:
TTMR
Bị đồng nhất thể:
BĐNT
Đồng nhất thể:
Việt. Tuy nhiên, nó lại khá quan trọng, đa dạng và phức tạp trong cách phân loại và
sử dụng. Có nhiều quan điểm khác nhau về nhóm từ này, bởi đây là nhóm từ đặc
biệt. Nó dùng để trỏ người và vật được xác định trong không gian hay thời gian hay
để thay thế một đơn vị ngữ pháp nào đó trong ngữ cảnh [31, 80]. Nó phản ánh mối
liên hệ định vị của sự vật trong thực tại. Khi người Việt nói Tôi thích cái áo kia có
khác gì khi họ nói Tôi thích cái áo này? Cùng sự vật cái áo nhưng khi đi với kia và
này, nó đã định vị sự vật trong thực tế ở những khoảng cách vị trí khác nhau so với
người nói.
1.3. Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy cũng đã được một số nhà ngôn
ngữ học đề cập đến. Tuy nhiên, chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu một cách
đầy đủ và toàn diện nhóm từ này trên ba bình diện của ngôn ngữ. Hầu hết các tác
giả chỉ tìm hiểu đại từ chỉ định trên một khía cạnh, phương diện nào đó mà thôi.
Lựa chọn đề tài luận văn “Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong
tiếng Việt nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học”,
chúng tôi mong muốn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu nhóm từ này trong tiếng
Việt một cách sâu sắc và toàn diện hơn trên quan điểm của ngữ pháp chức năng.
7
Đây là một việc làm cần thiết và là một hướng đi mới mẻ và hứa hẹn những phát
hiện bất ngờ, thú vị.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học
Trong luận văn này, trên cơ sở của lí thuyết ba bình diện, người viết chủ yếu
đi sâu nghiên cứu đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt ở
phương diện từ loại. Tuy nhiên, khi đi vào hoạt động hành chức, các đại từ này lại
không tồn tại độc lập, riêng lẻ mà gắn với câu – một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ.
Bởi vậy, cần phải xem xét các từ loại này trong mối quan hệ với câu chứa chúng.
cứu mối quan hệ giữa các kí hiệu với hiện thực được nói tới), dụng học (nghiên cứu
mối quan hệ giữa các kí hiệu với người lí giải chúng).
Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu câu còn
mới chỉ là những bước đầu và cũng chịu ảnh hưởng lớn từ trường phái cấu trúc
luận. Các nhà ngữ pháp tiêu biểu là Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Đái
Xuân Ninh, Diệp Quang Ban,... Từ sau năm 1990 đến nay, đặc biệt là khoảng
hơn mười năm trở lại đây, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã nhanh chóng tiếp
thu những thành tựu của ngữ pháp chức năng để vận dụng vào việc nghiên cứu
ngữ pháp tiếng Việt nói chung và câu nói riêng nhằm giúp ngôn ngữ học Việt
Nam theo kịp các bước tiến của ngôn ngữ học thế giới. Các lí thuyết của ngữ
pháp chức năng đặc biệt là lí thuyết ba bình diện đã được vận dụng vào việc
nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt. Có thể nói ngữ pháp chức năng lúc này đã trở
thành cơ sở lí luận cho các nhà Việt ngữ nghiên cứu.
Người có công đưa ngữ pháp chức năng vào Việt Nam và ứng dụng nó vào việc
nghiên cứu ngôn ngữ là Cao Xuân Hạo với cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng (1991).
Đây là công trình ngữ pháp có ý nghĩa to lớn trong việc đánh dấu sự ra đời của ngữ pháp
chức năng ở Việt Nam. Lần đầu tiên, các vấn đề của ngôn ngữ được tác giả tiếp cận,
nghiên cứu dưới ánh sáng của lí thuyết này. Và điều đó đã mang đến cho nền ngôn ngữ
của chúng ta lúc bấy giờ một luồng gió mới, tạo ra một bước ngoặt mới cho việc nghiên
cứu cú pháp tiếng Việt. Mỗi ngôn ngữ khác nhau đều có những đặc trưng khác nhau.
Theo Cao Xuân Hạo, với những đặc trưng riêng của tiếng Việt, đây là cách tiếp cận phù
hợp nhất. Trong công trình này, ngoài việc nêu lên các vấn đề cơ bản của việc nghiên
cứu câu (câu là gì, câu và các đơn vị của ngôn ngữ, cấu trúc chủ vị và cấu trúc đề
thuyết...), Cao Xuân Hạo còn đưa ra các mô hình lí thuyết ba bình diện trong ngôn ngữ
9
học hiện đại và chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa ba bình diện: kết học, nghĩa học và
dụng học và cả ranh giới phân biệt ba bình diện này.
10
là đại từ chỉ định sự vật vừa là đại từ chỉ định thời gian; từ đó, kia vừa là đại từ chỉ
định sự vật vừa là đại từ chỉ định không gian.
Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983), Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, các tác
giả gọi các từ đây, này, đấy, đó, kia, ấy... là đại từ không gian, thời gian và xếp
chúng vào một nhóm nhỏ thuộc tiểu loại đại từ sự vật (đại từ dùng để trỏ sự vật).
Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng những từ như: này, kia, ấy, đó, này... là những
từ có đặc điểm của một thứ phụ từ thường làm phụ tố chỉ vị trí cho một chính tố là
danh từ. [40, 88].
Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại (1996), Lê Biên xếp đại từ vào lớp từ
loại trung gian giữa thực từ và hư từ. Tác giả chia đại từ ra làm 6 loại: Đại từ xưng
hô, đại từ chỉ định, đại từ để hỏi, đại từ chỉ khối lượng, tổng thể; đại từ phiếm chỉ và
các đại từ thế, vậy. Lê Biên dựa vào nghĩa, chia đại từ chỉ định làm hai tiểu loại: Đại
từ xác định (đây, này, nay) và đại từ không xác định (ấy, đó, nọ, kia, đấy...). Ông
còn lưu ý cách sử dụng cặp đại từ chỉ định: đây đó, đi đây, đi đó, này...nọ; trường
hợp đấy, ấy, đây làm đại từ xưng hô; trường hợp đó, đấy, đây làm phương tiện liên
kết các đoạn văn trong văn bản.
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt từ loại (2010), ở chương VI, khi nói về đại
từ, Đinh Văn Đức cũng đề cập tới các đại từ chỉ định. Trước hết, ông cho rằng trong
hệ thống từ loại, đại từ không xếp vào thực từ hay hư từ mà nằm ở vị trí trung gian.
Tiếp đó, ông chỉ ra hai cách để phân loại đại từ. Nếu coi đại từ là một từ loại với
chức năng ngữ pháp chung là chỉ trỏ, thay thế thì nội bộ đại từ sẽ được phân loại
thành hai loại nhỏ: đại từ chỉ người và đại từ chỉ định. Về đại từ chỉ định, tác giả
cho rằng những đại từ chỉ định đây, đấy, đó, kia... được dùng khá cơ động về
phương diện chức năng (thay thế, chỉ trỏ). Những từ này, kia, ấy... là những từ phụ
của danh từ, làm phần cuối của danh ngữ với tư cách là những định tố (mang ý
nghĩa chỉ trỏ, xác định). Này và kia là hai từ hạt nhân của nhóm chỉ định.
Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học (2012), Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên),
học, nghĩa học và dụng học. Trong bài viết, tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu từ
“ấy” trên lí thuyết ba bình diện và với tư cách là những từ loại khác nhau: đại từ, trợ
từ, thán từ,... Từ đó, phân tích bản chất ngữ pháp và chức năng của nó khi đi vào
hoạt động hành chức.
Trên đây là những công trình nghiên cứu về đại từ chỉ định mà chúng tôi
đang tiến hành khảo sát, chúng tôi nhận thấy hầu hết các công trình chỉ mới đề cập
12
đến một mặt riêng lẻ của nhóm đại từ này, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu
một cách toàn diện trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học. Dựa trên
việc kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi tiến hành
tìm hiểu sáu đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trên cả ba bình diện: kết học,
dụng học, nghĩa học.
3. Ý nghĩa của luận văn
3.1. Về mặt lí luận
Tiến hành đề tài “Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt
nhìn từ lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học”, chúng tôi muốn
có được những đóng góp nhất định về phương diện lí luận vào việc nghiên cứu
3.2.
nhóm đại từ chỉ định này trên ba bình diện.
Về mặt thực tiễn
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng những đại từ chỉ định mà chúng tôi chọn
để tìm hiểu có tần xuất sử dụng vô cùng lớn trong thực tiễn. Kết quả nghiên cứu của
đề tài sẽ giúp cho việc dạy và học tiếng Việt trong nhà trường thuận lợi hơn. Người
dạy và người học có thể hiểu rõ hơn về một nhóm từ loại khá phức tạp để từ đó hiểu
5. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và tư liệu khảo sát
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là 6 đại từ chỉ định: đây, này, đấy, đó,
5.2.
-
kia, ấy trong tiếng Việt.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu đại từ chỉ định, không nghiên cứu các nhóm đại từ khác
-
như đại từ nhân xưng, đại từ chỉ tổng lượng...
Chúng tôi chỉ nghiên cứu 6 đại từ chỉ định: đây, này, đấy, đó, kia, ấy mà không
nghiên cứu các các đại từ chỉ định khác (ví dụ như: nọ, nay, nãy...). Sở dĩ như vậy là
bởi vì theo chúng tôi đây là những đại từ chỉ định tiêu biểu và có tần số sử dụng
cao, phổ biến. Hơn nữa, chúng mang những đặc trưng cơ bản của nhóm đại từ chỉ
5.3.
định.
Tư liệu khảo sát
Để giải quyết những vấn đề mà đề tài luận văn đặt ra, chúng tôi đã tiến hành
khảo sát những đại từ chỉ định này trên những tư liệu sau:
- Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan (2012), NXB Văn học Hà Nội
- Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2005), NXB Hội nhà văn
- Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam (2012), NXB Văn học Hà Nội
Ngoài ra, chúng tôi còn lấy một số câu nói trong giao tiếp đời thường, lời bài
để phân tích vai trò của đại từ chỉ định trong cấu trúc vị tố - tham thể (cấu trúc
nghĩa miêu tả).
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.
Trong đó, phần nội dung chính là phần trọng tâm của luận văn và được chia làm 3
-
chương. Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Ở chương 1, chúng tôi sẽ trình bày các vấn đề lí thuyết cơ bản mang tính
chất lí luận: lí thuyết ba bình diện (kết học, nghĩa học và dụng học) của ngữ pháp
chức năng, khái niệm từ loại và sự phân định từ loại tiếng Việt. Đồng thời, chúng tôi
cũng khái quát về đại từ tiếng Việt (khái niệm, phân loại). Các đại từ chỉ định đây,
này, đấy, đó, kia, ấy sẽ được tìm hiểu trên những cơ sở lí thuyết này. Nói cách khác,
đây là cơ sở tiền đề quan trọng để chúng tôi nghiên cứu nhóm đại từ chỉ định này
trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học.
- Chương 2: Đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó, kia, ấy trong tiếng Việt trên bình diện
kết học và nghĩa học.
Trong chương 2, chúng tôi xem xét nhóm đại từ chỉ định này trên hai bình
diện: kết học, nghĩa học. Trên bình diện kết học, đại từ chỉ định đây, này, đấy, đó,
kia, ấy được tìm hiểu ở hai vấn đề chủ yếu là: khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp
trong câu. Còn trên bình nghĩa học, chúng tôi sẽ tìm hiểu các ý nghĩa của 6 đại từ
chỉ định và vị trí, vai trò của chúng trong cấu trúc nghĩa miêu tả, từ đó tìm ra những
kết luận mới.
15
1.1.1. Bình diện kết học
Kết học (syntactics) theo Ch. Morris đó là lĩnh vực nghiên cứu kí hiệu trong các
mối quan hệ kết hợp với các kí hiệu khác. Nói cách khác, kết học là lĩnh vực của các
quy tắc kết hợp tín hiệu thành một thông điệp. Trong ngôn ngữ, kết học cũng chính là
bình diện ngữ pháp của câu. Trong Câu tiếng Việt, Nguyễn Thị Lương cho rằng: bình
diện ngữ pháp câu nghiên cứu các quy tắc, cách thức liên kết các từ thành cụm từ (gọi
là cú pháp cụm từ) và thành câu, các kiểu câu (gọi là cú pháp câu). Cú pháp cụm từ
nghiên cứu cấu tạo ngữ pháp của các loại cụm từ, đặc biệt là cụm từ chính phụ. Cú
pháp câu nghiên cứu đặc điểm, chức năng của các thành phần câu; cấu tạo ngữ pháp
của các kiểu câu theo kết cấu C –V, các kiểu câu theo mục đích nói. [23, 23]
Có thể nói đây là bình diện của các mối quan hệ ngữ pháp giữa các đơn vị
ngữ pháp và các kiểu cấu tạo ngữ pháp trong câu. Riêng về việc nghiên cứu các
thành phần ngữ pháp của câu chính là xem xét cấu tạo, đặc điểm hình thức, ý nghĩa
và chức năng ngữ pháp của các thành phần ngữ pháp và quan hệ giữa các thành
phần đó trong câu. Trong cuốn Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Bùi Minh
Toán cho rằng kết học là bình diện của sự tổ chức hình thức cấu trúc ngữ pháp. Và
17
ông chia bình diện này thành hai lĩnh vực: thành phần ngữ pháp trong câu và kiểu
cấu trúc ngữ pháp của câu.
1.1.2. Bình diện nghĩa học
Xuất phát từ bình diện nghĩa học của tín hiệu (mối quan hệ giữa tín hiệu và
sự vật mà tín hiệu biểu hiện), bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) của câu được hình
thành và trở thành vấn đề quan tâm trong ngôn ngữ học hiện đại, đặc biệt là trong
trào lưu ngữ pháp chức năng. Nghĩa học (semantics) là phương diện của các quan
hệ giữa tín hiệu với hiện thực được nói tới trong thông điệp (vật được quy chiếu
trong thông điệp). Hay nói cách khác, bình diện nghĩa học nghiên cứu về mối quan
Nghĩa biểu hiện và nghĩa tình thái là hai thành phần tạo nên bình diện nghĩa của
câu. Chúng không tách bạch, cô lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
1.1.3. Bình diện dụng học
Dụng học (pragmatics) là bình diện được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đặc
biệt quan tâm. Ngay từ năm 1937, B. Malinowski đã viết: Nếu như chức năng sớm
nhất, cơ bản nhất của ngôn ngữ là chức năng ngữ dụng – tức là chức năng điều
khiển (direct), kiểm soát (control) và liên kết hoạt động của con người – thì hiển
nhiên không có một sự nghiên cứu ngôn từ nào tách khỏi ngữ cảnh (context of
situation) lại được xem là một nghiên cứu hợp lí.” (Dẫn theo Đỗ Hữu Châu, [11,
8]). Charles William Morris định nghĩa: “dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu
với người lí giải chúng”. Theo định nghĩa này thì rõ ràng đối tượng nghiên cứu của
ngôn ngữ lúc này đã thoát ra khỏi quan điểm nội tại trong nghiên cứu ngôn ngữ của
trường phái cấu trúc luận cổ điển. Trường phái cấu trúc luận cổ điển chỉ tập trung
chú ý vào cấu trúc nội tại của ngôn ngữ xét trong bản thân nó và vì bản thân nó,
xem nhẹ hoạt động của ngôn ngữ trong việc thực hiện chức năng giao tiếp, tức nhân
tố ngoại tại của ngôn ngữ. Dụng học ra đời đã khắc phục được những hạn chế này.
Ngữ dụng học đã hướng ngôn ngữ ra ngoài xã hội, quan tâm đến chức năng của
ngôn ngữ trong xã hội.
Nói cách khác, ngữ dụng là bình diện của mối quan hệ giữa câu và việc sử dụng
câu trong hoạt động giao tiếp. Ở bình diện này, câu luôn được xem xét trong các mối
quan hệ với người sử dụng, mục đích sử dụng, hoàn cảnh sử dụng... Đó cũng chính là
các nhân tố trong hoạt động giao tiếp. Sau này, A. G. Smith nói rõ hơn về khái niệm
này: Kết học nghiên cứu quan hệ giữa các tín hiệu, nghĩa học nghiên cứu quan hệ giữa
19
tín hiệu với sự vật và dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người dùng. (Dẫn
theo Đỗ Hữu Châu, [11, 11])
20
Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung cũng đưa ra quan điểm của mình: Từ
loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp. Đó là những lớp từ có
chung bản chất ngữ pháp, được biểu hiện trong các đặc trưng thống nhất dùng làm
tiêu chuẩn tập hợp và quy loại.
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại, Đinh Văn Đức cho rằng từ loại là
những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa, theo khả
năng kết hợp với các từ ngữ khác trong ngữ lưu và thực hiện những chức năng ngữ
pháp nhất định ở trong câu. [16, 23]
Có một điều dễ dàng nhận thấy khi đưa ra khái niệm từ loại, nhìn chung các
nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến bản chất, đặc trưng ngữ pháp của từ loại. Và
chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng từ loại là kết quả phân định các từ theo
bình diện ngữ pháp. Nó là những lớp từ được phân chia theo những đặc điểm ngữ
pháp giống nhau. Những từ có đặc điểm ngữ pháp giống nhau được quy vào một
loại từ.
1.2.2. Sự phân định từ loại
1.2.2.1. Mục đích của sự phân định từ loại
Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên khẳng định sự phân định từ loại
tiếng Việt là một việc làm rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Đó là nhu cầu của
nhận thức, là yêu cầu khách quan của bản thân hệ thống ngôn ngữ, là đòi hỏi của việc
chuẩn ngữ pháp tiếng Việt hiện đại. Để sử dụng một ngôn ngữ nào đó, người ta cần
phải có một vốn từ nhất định và quan trọng là phải nắm được những quy tắc về dùng
từ, tạo câu để từ đó vận dụng vào thực tế sử dụng nhằm nói và viết đúng đạt được hiểu
quả giao tiếp. Mục đích của việc phân định từ loại là thiết lập một danh sách các từ loại
của một ngôn ngữ cụ thể. Đặc biệt, mục đích chủ yếu đó chính là nhằm phát hiện bản
chất ngữ pháp, tính quy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các lớp từ
loại trong quá trình thực hiện những chức năng cơ bản của ngôn ngữ: làm công cụ
giao tiếp, để tư duy trừu tượng. Từ đó có thể sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc, hợp
Thứ ba là tiêu chuẩn về chức vụ cú pháp. Trong hoạt động ngôn ngữ, ở cấu
trúc câu, mỗi từ loại trong tiếng Việt đều có khả năng đảm nhận một chức vụ ngữ
pháp nhất định trong câu. Mỗi chức vụ cú pháp cụ thể có thể do những từ thuộc các
từ loại khác nhau đảm nhiệm. Nói cách khác, việc nghiên cứu cú pháp của từ là xem
xét từ đó sẽ đảm nhiệm chức năng ngữ pháp gì trong câu, xem xem từ đó sẽ thực
hiện nhiệm vụ gì trong câu (nối kết, thể hiện quan hệ ý nghĩa tình thái trong câu...).
22
Mỗi từ loại khi đi vào trong câu, nó có cả một chùm chức vụ cú pháp đặc trưng cho
chức năng của từ đó. Trong chùm chức vụ của mỗi từ loại, bao giờ cũng có một
chức vụ nổi lên như là một chức vụ trung tâm. Một từ có thể giữ nhiều chức năng
cú pháp trong câu nhưng cần phải xem xét chức năng ngữ pháp nào của từ là chủ
yếu để làm căn cứ phân loại. Ví dụ như danh từ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, định
ngữ,... nhưng chủ yếu nó thường làm chủ ngữ trong câu.
1.2.2.3. Hệ thống từ loại tiếng Việt
Từ loại trong tiếng Việt có sự phân chia khá đa dạng, phong phú và vô cùng
phức tạp. Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những cách phân chia khác nhau. Nhưng
nhìn chung, căn cứ vào các tiêu chuẩn nói trên, hầu hết các nhà nghiên cứu đã chia
các lớp từ tiếng Việt thành hai loại lớn: thực từ và hư từ. Và trong luận văn này,
-
theo quan điểm của chúng tôi, từ loại tiếng Việt được chia ra thành ba nhóm:
Thực từ: danh từ, động từ, tính từ
Hư từ: phụ từ, tình thái từ, quan hệ từ
Trung gian: số từ, đại từ
Có thể mô hình hóa hệ thống từ loại trong tiếng Việt như sau:
cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ. Về khả năng kết hợp, hư từ
thường không làm thành tố chính, một số làm thành tố phụ trong cấu trúc ngữ pháp
để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái. Đa số hư từ dùng làm yếu tố liên kết
cú pháp (chức năng liên kết). Trong câu, hư từ không có khả năng độc lập tạo ra câu
và không đảm nhận chức vụ ngữ pháp chính của câu.
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, đại từ có một vị trí đặc biệt. Nó nằm ở
nhóm trung gian giữa thực từ và hư từ.
Ý nghĩa khái quát của đại từ không rõ ràng. Đại từ không có nghĩa sở chỉ,
không gọi tên sự vật (định danh) sự vật, khái niệm, hiện tượng trong thực tế
khách quan. Nó mang ý nghĩa chỉ trỏ và thay thế. Ý nghĩa của đại từ không trực
tiếp là nội dung phản ánh thực tại như yếu tố từ vựng có mặt trong ý nghĩa của
DT, ĐT, TT. Mối quan hệ giữa thực tại và ý nghĩa đại từ là một sự gián tiếp.
Về khả năng kết hợp, đại từ có điểm giống với hư từ. Đại từ thường không
giữa vai trò là thành tố trung tâm mà thường giữ vai trò là thành tố phụ của đoản
24
ngữ. Có đôi khi đại từ làm trung tâm của đoản ngữ (VD: bốn chúng tôi) nhưng
những trường hợp này trong tiếng Việt trên thực tế rất hiếm, và chỉ mang tính chất
lâm thời, khả năng tập hợp các thành tố phụ chung quanh nó sẽ rất hạn chế so với
khả năng của các thực từ.
Về chức vụ cú pháp, đại từ rất giống thực từ. Đại từ có quan hệ mật thiết với
các thực từ cơ bản như DT, ĐT, TT và nhất là DT. Nó rất gần với thực từ vì nó có
chức năng thay thế cho thực từ. Cũng giống như thực từ, đại từ có thể làm nhiều
thành phần khác nhau trong câu như: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ,... Chẳng
hạn như nhóm đại từ nhân xưng có khả năng làm chủ ngữ của câu rất cao. Chức
năng ngữ pháp của đại từ trong khi làm thành phần câu cũng rất cơ động.
Có thể thấy rằng đại từ là từ loại vừa giống hư từ lại vừa giống thực từ. Nó
rất gần với thực từ nhưng lại không phải là đại từ đích thực vì nó chiếm số lượng