BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGÔ TẤT TỐ - NHÀ BÁO
THÀNH TỰU XUẤT SẮC QUA MẢNG TẠP VĂN - TIỂU PHẨM
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5-04-33
LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học :
GS - PTS TRẦN HỮU TÁ
Người thực hiện:
TRẦN VẦN DỮNG
1997
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ Hồ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGÔ TẤT TỐ - NHÀ BÁO
THÀNH TỰU XUẤT SẮC QUA MẢNG TẠP VĂN - TIỂU PHẨM
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ : 5-04-33
tặng cho những công trình đặc biệt xuất sắc, đã đƣợc công bố hoặc sử dụng kể từ ngày
thành lập nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đến nay. Theo đánh giá của Hội đồng trao giải,
tất cả 77 cụm công trình, tác phẩm đƣợc tặng thƣởng đợt này đều có giá trị cao về khoa học,
văn học nghệ thuật, có ảnh hƣởng rộng lớn, lâu dài trong đời sống nhân dân, cũng nhƣ góp
phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển đất nƣớc.
Nhƣ vậy, sự nghiệp văn chƣơng của Ngô Tất Tố, thêm một lần nữa đƣợc khẳng định
ở vị trí xứng đáng trong nền văn học Việt Nam. Tác phẩm của ông từng làm say mê nhiều
thế hệ độc giả, trong đó có tôi.
(Lần đầu tiên tôi đƣợc làm quen với tác giả Ngô Tất Tố qua tác phẩm Tắt đèn, cách
đây đã hơn hai mƣơi năm). Không khí náo động, căng thẳng, ngột ngạt của làng Đông Xá
trong vụ thuế, dƣới thời Pháp thuộc đƣợc ông miêu tả nhƣ vẫn còn in đậm trong trí nhớ của
tôi: cổng làng đóng chặt, việc đồng áng đình đốn, dân làng bị dồn lại và bọn
(1)
Vũ Trọng Phụng viết trên tờ Thời vụ năm 1939, trích lại trong Lịch sử Văn học Việt Nam, tập V, NXB Giáo
dục 1978, trang 213.
1
Luận án thạc sĩ
cƣờng hào bắt đầu đốc thuế bằng gậy gộc, cùm kẹp. Giữa tiếng thúc giục dồn dập của "mõ
cá trên cột đình", "trống cái dƣới xá đình", ngƣời nông dân đầu óc căng thẳng, hoặc chạy
ngƣợc chạy xuôi vay nợ, cầm đồ, hoặc kêu khóc thảm thiết. Sau lũy tre xanh, làng Đông Xá
êm đềm, lặng lẽ bỗng trở thành một bãi chiến trƣờng. Tôi vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây
tiếng kêu uất ức của chị Dậu và hình dung đƣợc cảnh chị nghiến hai hàm răng lại, thách
thức và đánh ngã hai tên bộ hạ hung hăng của quan phụ mẫu và cụ lý.
Mỗi lần đọc lại hai câu thơ cùa Tố Hữu:
lớp đàng hoàng, đã từng viết tiểu phẩm báo chí, nhƣng khi đƣợc hỏi về tạp văn - tiểu phẩm
của Ngô Tất Tố thì tỏ ra xa lạ, vì chƣa đƣợc đọc đến bao giờ. Có ngƣời nghĩ đó là những
tiểu phẩm đã "xƣa nhƣ trái đất", đáng đƣợc đƣa vào bảo tàng, không còn cần thiết đối với
những ngƣời làm báo thời hiện đại. Nghĩ nhƣ vậy là chƣa hiểu nhiều về nhà báo Ngô Tất
Tố.
Là ngƣời yêu thích văn chƣơng của ông, tôi chọn "mảng không đƣợc mấy ngƣời biết
đến" này để làm luận án tốt nghiệp cao học. Đề tài đƣợc mang tên : Ngô Tất Tố - nhà báo
(những thành tựu xuất sắc qua mảng tạp văn - tiểu phẩm).
Nghiên cứu tạp văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, chúng tôi muốn góp phần làm sáng
tỏ tƣ tƣởng tiến bộ và quan niệm của ông về nghề làm báo và viết văn, đồng thời qua đó
khẳng định tài năng của ông trên lĩnh vực báo chí, đồng thời khẳng định lại vị trí của các tác
phẩm báo chí, trong toàn bộ sự nghiệp văn chƣơng của ông. Thực tế cho thấy, các tác phẩm
Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng trƣớc khi in thành sách, một số đoạn đã đƣợc đăng trên các
báo dƣới dạng những bài văn ngắn, điều đó có nghĩa là tất cả đƣợc bắt đầu từ báo chí mà ra.
Theo chúng tôi cả hai chức năng nhà văn và nhà báo ở ông đều hòa chung trong một nhân
cách, nhƣng ở góc độ nhà báo ông có phần sắc sảo hơn. Chúng tôi sẽ lý giải điều này trong
phần nội dung của luận án.
Làng báo Việt Nam hiện nay, đang bƣớc vào giai đoạn đổi mới trong bối cảnh đổi
mới chung của đất nƣớc, với số lƣợng báo chí phát hành nhiều, có hình thức trình bày trang
nhã, nội dung phong phú đa dạng, thì việc đòi hỏi các nhà báo vừa có chuyên môn cao đƣợc
đào tạo qua trƣờng lớp, vừa phải thực hành giỏi để tạo ra những tác phẩm báo chí có sức
sống lâu dài trong lòng độc giả, là một nhu cầu cấp thiết. Nhƣng theo nhận xét của riêng tôi,
trong giáo trình báo chí đƣợc giảng dạy ở các trƣờng đào tạo chuyên ngành hiện nay, có
phần nặng về trang bị lý luận hơn là nghiệp vụ thực hành qua các thể loại. Vì vậy, việc
nghiên cứu tạp văn - tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, là một việc làm cần thiết mang ý nghĩa bổ
sung vào vốn kiến thức chuyên môn cho bản thân mình, đồng thời giúp cho những ngƣời đã,
đang hoặc sắp sửa bƣớc vào nghề báo có thêm tài liệu để tham khảo.
3
chuyện trên đời, cứ chửi loạn xà ngầu (miễn đừng chửi Tây là đƣợc), chửi chí chết, nếu chửi
tục, chửi dơ dáy, thỉnh thoảng xen vào vài câu dâm dục thì càng đƣợc hoan nghênh"(2).
Xung quanh mình, phần đông là các nhà báo nhƣ thế đấy, nhƣng suốt thời gian cùng sống và
viết với họ, Ngô Tất Tố vẫn sống đứng đắn, viết nghiêm túc, ông giữ đƣợc mình và ngòi bút
của mình trong sạch. Chính vì vậy, ông đƣợc bạn bè đồng nghiệp nể phục về đức độ cũng
nhƣ văn tài.
Vũ Bằng luôn dành cho Ngô Tất Tố một tình cảm hết sức kính trọng "Anh em tòa
soạn gồm 7, 8 ngƣời ai cũng hăng say đi tìm cái lạ... Nguyễn Triệu Luật, Ngô Tất Tố, Phùng
Bảo Thạch là những bạn phụ trách các bài đứng đắn , còn Vũ Liên, Nguyễn Nhƣ Hoàn, Vũ
Trọng Phụng và tôi có nhiệm vụ viết "Pô-tanh" tiểu thuyết, ký sự, phóng sự, chuyện vui tòa
án... Sau này, Ngô Tất Tố nổi tiếng về mục "phim hàng ngày" chính vì viết nhũng bài sâu
sắc, đau đớn, chua chát, ngộ nghĩnh trong mục "nói hay đừng" của tờ Công dân”(3). Sau khi
tờ Công dân bị đình bản các ông tiếp tục làm tờ Tương lai. Mãi những năm về sau này, tình
cờ lƣợm đƣợc một tờ báo Tương lai cũ đọc lại mà Vũ Bằng vẫn còn cảm giác "buồn se sắt
khi nhớ lại một quãng đời làm báo đã qua và nhiều lúc tôi ngạc nhiên: Sao lúc ấy, anh em lại
có thể viết đƣợc những bài hay nhƣ những bài "phim" của Ngu Công..."(4), (bút hiệu của
Ngô Tất Tố khi viết cho tờ Tương lai).
(1)
Sđd trang 52.
Sđd trang 48.
(3)
Sđd trang 94.
(4)
Sđd trang 109.
(2)
6
Mạnh. Ông không thể không suy nghĩ khi viết Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim
(1938), Mặc tử (1942), Lão Tử (1942) và Kinh dịch (1944). Tuy chƣa có một quan điểm
khoa học, mác-xít để tiến hành nghiên cứu và phê phán Nho giáo một cách triệt để, nhƣng
rõ ràng Ngô Tất Tố không phải là ngƣời nhắm mắt phục cổ, suy tôn Nho giáo một chiều...
Tuy là môn đệ của Khổng Mạnh, nhƣng nhiều lúc Ngô Tất Tố đã thẳng thắn phê phán giáo
lý của các nho gia, đặc biệt tỏ thái độ "bất kính" đối với cụ Khổng".
8
Luận án thạc sĩ
Ngô Tất Tố tích cực nghiên cứu, đánh giá lại các học thuyết cổ của Trung Quốc vốn có ảnh
hƣởng sâu sắc đến đời sống tƣ tƣởng của các thế hệ nhà nho Việt Nam trong các thế kỷ
trƣớc. Với bản lĩnh của một cây bút có tƣ tƣởng độc lập và luôn luôn muốn vƣơn lên cho kịp
thời đại, với tinh thần tiếp thu có phê phán những giá trị tinh thần cũ của các thế hệ nhà nho,
những tác phẩm của Ngô Tất Tố ít nhiều có ý nghĩa chống lại phong trào phục cổ, phong
trào suy tôn Khổng giáo và bảo tổn quốc tuy... mà Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và một
số ngƣời khác đang ra sức hô hào cổ vũ.
Nội dung tƣ tƣởng này xuyên suốt quá trình sáng tác của ông. Ngòi bút của Ngô Tất
Tố theo sát từng diễn biến của phong trào cách mạng nƣớc ta, có các sự kiện nào nổi bật ông
đều xoáy vào đó để bộc lộ tƣ tƣởng và quan điểm chính kiến của mình. "Lập trƣờng chiến
đấu của Ngô Tất Tố là lập trƣờng của một nhà nho nghèo, yêu nƣớc, thƣơng dân. Ngô Tất
Tố cũng là một ngƣời có cảm tình với cách mạng, trƣớc sau thủy chung với cách mạng. Tuy
nhiên cho đến những năm trƣớc 1945, Ngô Tất Tố vẫn chƣa đứng hẳn vào hàng ngũ cách
mạng. Ông chƣa thấy đƣợc lực lƣợng hùng hậu của phong trào quần chúng cũng nhƣ chƣa
tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cách mạng... Những hạn chế trong thế giới quan của một
nhà nho trí thức cũng phần nào ảnh hƣởng đến thái độ đối với cách mạng... Ngô Tất Tố chƣa
hề đặt vấn đề phải làm cách mạng để lật đổ chế độ thực dân Pháp. Cho nên chúng ta không
lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy ông đƣa ra những biện pháp của chủ nghĩa cải lƣơng tƣ sản
(đề nghị cải cách chế độ quan lại, dùng trí thức cải tạo đời sống cho nông dân). Mặc dù còn
Phụng, mà đây là một sự phê phán xã hội đứng trên lập trƣờng của một ngƣời trí thức yêu
nƣớc. Chính lập trƣờng đó đã làm cho tiếng cƣời của Ngô Tất Tố có nội dung xã hội sâu
sắc, lành mạnh, lạc quan và nói chung lúc nào cũng nhằm trúng đích, bắn chính xác vào kẻ
thù của dân tộc và của quần chúng bị áp bức bóc lột"(2).
Nghiên cứu về nhà báo Ngô Tất Tố và những thành tựu của ông qua mảng tạp văn
tiểu phẩm, Phan Cự Đệ bắt đầu từ điểm xuất phát của Ngô Tất Tố là một nhà nho nghèo
yêu nƣớc tiến bộ, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Và triển khai
phân tích chứng minh, đánh giá những thành tựu của Ngỗ Tất Tố theo sự tiến bộ về tƣ
tƣởng của ông trong từng thời kỳ phát triển của cách mạng Việt Nam, đồng thời phê phán
những mặt hạn chế về tƣ tƣởng của Ngô Tất Tố.
- Công trình tiếp theo là Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, 1930 -1945, Nhà xuất bản
Giáo dục, năm 1978) của nhóm tác giả: Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung,
Nguyễn ĐăngMạnh, Nguyễn Trác trong đó có một chƣơng viết về "Ngô Tất Tố- nhà báo"
do giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn. Tác giả đã nêu khái quái về cuộc đời làm báo
của Ngô Tất Tố, và chỉ quan tâm đến những bài báo đƣợc Ngô Tất Tố viết trong thời kỳ
Mặt trận Dân chủ. "Báo chí phát triển rất mạnh, ngƣời ta phát biểu sôi nổi xung quanh việc
dự thảo tập dân nguyện, ngƣời ta hăng hái tranh luận về các vấn đề thời sự, chính trị, xã
hội, nghệ thuật, triết lý... Là con ngƣời luôn luôn băn khoăn đến thời thế, đến vận mệnh của
dân tộc, Ngô Tất Tố lúc này càng hết sức tung hoành trong trƣờng ngôn luận. Ông đã đứng
vững trên lập trƣờng dân chủ, chiến đấu kịch
(1)
(2)
Sđd trang 57.
Sđd trang 61-62.
10
Hồng biên soạn (khoa ngữ văn - báo chí - Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, ấn
hành 1987 - 1988, lƣu hành nội bộ). Phần viết về Ngô Tất Tố, thầy Trần Ngọc Hồng chỉ
dừng lại ở việc nêu những thành tựu của Ngô Tất Tố, qua hai tác phẩm Việc làng, và Tắt
đèn không thấy đề cập đến các tác phẩm báo chí. Tuy nhiên ở phần kết luận, thầy có nhắc:
"Ngô Tất Tố là một nhà văn tiêu biểu của trào lƣu hiện thực 1930 - 1945. Ông không chỉ là
nhà văn, nhà báo mà còn là nhà khảo cứu dịch thuật có tên tuổi...". Tóm lại trong giáo trình
này, thầy chỉ nhắc đến chức năng nhà báo của Ngô Tất Tố, không phân tích tác phẩm báo
chí nào của ông.
Năm 1993, Nhà xuất bản Văn học cho in Tuyển tập Ngô Tất Tố (2 tập) do Phan Cự
Đệ sƣu tầm tuyển chọn, Trƣơng Chính sắp xếp giới thiệu. Trong lời giới thiệu về Ngô Tất
Tố in ở tập 1, Trƣơng Chính đã nêu. Do điều kiện khách quan của xã hội lúc đó là báo chí
sách vở chịu sự kiểm duyệt gắt gao của chế độ thực dân Pháp, ngƣời viết báo hầu hết là trẻ
và Tây học, nhu cầu của chúng độc giả là thích đọc những bài báo ngắn có mang chút ít tính
chất hiện thực. Vì vậy, một nhà nho nhƣ Ngô Tất Tố, khi đã quyết định sống bằng ngòi bút
thì phải phấn đấu vƣơn lên thay đổi về tƣ tƣởng và văn phong cho ngang tầm thời đại. Xuất
phát từ yêu cầu của thực tế khách quan đó, Ngô Tất Tố đã vƣợt qua mọi sự ràng buộc của tƣ
tƣởng nho giáo, ông phê phán những quan niệm lạc hậu của nó, điều đó chứng tỏ ông "là
một ngƣời tƣ tƣởng độc lập, không chịu nhắm mắt theo những thành kiến của cổ nhân". Nổi
bật nhất ở Ngô Tất Tố cũng là lòng yêu nƣớc, thƣơng dân, tƣ tƣởng này nhất quán từ đầu
đến cuối, chẳng những đƣợc thể hiện một lần mà nhiều lần trong tạp văn cũng nhƣ trong các
sáng tác văn học, các công trình khảo cứu, dịch thuật. Bất cứ trong hoàn cảnh nào, Ngô Tất
Tố cũng giữ vững khí tiết của một nhà nho yêu nƣớc, thƣơng dân "phú quí không ham,
nghèo hèn không đổi dạ, uy quyền không thể khuất phục". Giáo sƣ Trƣơng Chính đã đặt tạp
văn của Ngô Tất Tố cạnh tạp văn của những nhà văn khác để phân tích và làm rõ quan niệm
nghiêm túc của Ngô Tất Tố về làn báo và viết văn "báo chí, sách vở theo Ngô Tất Tố phải
thật sự là "cơ quan
13
đi "hạ sơn" về Trung du và vùng Yên Thế để đón bác Tố lên họp lại càng thấy vui hơn. Nhìn
Ngô Tất Tố áo vải, vai đeo chéo cái khăn bông cũng nhuộm nâu chống gậy qua Đèo Khế, có
anh bạn đi sau đã bỏ nhỏ vào tai tôi, giọng anh nghịch: "Trông kém gì năm đói chạy đói
vùng xuôi để lên khất thực ở thƣợng du". Đó là hồi ức của Nguyễn Tuân về sự hiện diện của
Ngô Tất Tố giữa núi ngàn Việt Bắc kháng chiến.
Gần đây, trong một bài viết đăng trên báo Tuổi trẻ chủ nhật, Vƣơng Trí Nhàn có đề
cập đến những nhà văn tiền chiến và nghề báo: "Nhất Linh và Khái Hƣng, Nguyễn Công
Hoan và Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân và Thạch Lam, Thế Lữ và Xuân Diệu... Bấy nhiêu tên
tuổi, nếu nhƣ không nói là hầu nhƣ gần hết các nhà văn "có tên có tuổi" hồi tiền chiến, đều
từng là ngƣời viết báo, đóng góp của họ cho nền văn hóa đất nƣớc còn đó với kho tàng báo
chí sống động đƣơng thời, và đến nay vẫn chƣa đƣợc khai thác hết"(1). Riêng phần nói về
Ngô Tất Tố, có đoạn viết: "Một ngƣời nhƣ Ngố Tất Tố từ lúc bỏ quê lên Hà Nội sống hẳn
bằng nghề cầm bút, đã cộng tác với nhiều tờ báo hàng ngày bằng cách viết các loại tiểu
phẩm đó, và ký các bút danh khác nhau: Hy Cừ, Lộc Hà, Phó Chi, Xuân Trào, Thôn Dân...
May cho Ngô Tất Tố là ngay từ những năm 60, lúc các thƣ viện ở Hà Nội còn khá nền nếp,
tác phẩm của ông đƣợc Nhà nƣớc chú ý, nên gom về gần nhƣ không sót chút gì. Thử tính sơ
sơ thì thấy trong toàn bộ tác phẩm của Ngô Tất Tố đã sƣu tầm đến nay là 1200 trang (theo
Ngô Tất Tố - Tác phẩm, NXB Văn học, 1977): phần tiểu thuyết, bao gồm cả tiểu thuyết lịch
sử, chỉ chiếm già nửa (620 trang), còn lại phóng sự chiếm 160 trang và tiểu phẩm tới 420
trang..."(2).
Nhìn chung, những nhà văn nhà báo hiện nay, khi đọc lại tạp văn của Ngô Tất Tố,
tuy theo cách cảm thụ mà mỗi ngƣời có thể tự rút ra những bài học bổ ích cho bản thân
mình. Còn các nhà nghiên cứu, khi đọc tạp văn của Ngô Tất Tố thì quan tâm đến việc làm
nổi bật những tƣ tƣởng mới, những quan niệm tiến bộ của một nhà nho trong buổi giao thời,
từ đó làm phong phú thêm cho nền văn học nói chung và báo chí nƣớc nhà nói riêng.
Trong quá trình triển khai luận án này, chúng tôi tiếp thu nhiều ý kiến của hai tác giả
Phan Cự Đệ và Trƣơng Chính, đƣợc thể hiện trong hai bài giới thiệu về nhà báo Ngô Tất Tố.
Trên cơ sở đó, chúng tôi làm rõ thêm những nhận định của hai ông về Ngô Tất Tố.
Ngô Tất Tố là một nhà báo kỳ cựu trong làng báo Việt Nam, giai
một thiệt thòi lớn cho nền báo chí nƣớc nhà.
Mặc dù những công trình nêu trên không có liên quan đến nhà báo Ngô Tất Tố,
nhƣng chúng tôi vẫn đề cập đến, với mong muốn các nhà biên soạn giáo trình đào tạo cán bộ
báo chí lƣu ý đến một cây bút tài hoa của làng báo Việt Nam nhƣ nhà báo Ngô Tất Tố.
3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đứng trên lập trƣờng quan điểm của chủ nghĩa duy vật chúng tôi,
18
Luận án thạc sĩ
nhìn nhận và đánh giá vấn đề một cách khách quan, có căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể,
đặt nhà báo Ngô Tất Tố và các tác phẩm báo chí của ông trong hoàn cảnh kinh tế - chính trị
- xã hội và tình hình báo chí Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 để xem xét. Trong quá trình
nghiên cứu, chúng tôi dùng phƣơng pháp so sánh, đặt Ngô Tất Tố cạnh các nhà văn - nhà
báo cùng thời, cùng viết về một loại đề tài và thể loại tạp văn tiểu phẩm, để đánh giá nhằm
làm nổi bật: Ngô Tất Tố là một nhà nho "có óc phê bình, có trí xét đoán, có tƣ tƣởng mới",
là ngƣời cầm bút có trách nhiệm làm báo hay viết văn là để nói lên tiếng nói của dân, để đấu
tranh vì quyền lợi của dân tộc, không phải là phƣơng tiện giải trí, giết thì giờ hay phƣơng
tiện kiếm ăn. Ngô Tất Tố là nhà báo giàu lòng yêu nƣớc, thƣơng dân. Khi nghiên cứu, chúng
tôi dùng phƣơng pháp đối chiếu, để khẳng định "cách nghĩ cách làm" của Ngô Tất Tố cách
nay hơn nửa thế kỷ vẫn rất gần gũi với quan niệm của chúng ta ngày nay về đạo đức của
ngƣời làm báo, năng lực và cách viết tạp văn - tiểu phẩm.
4. GIỚI HẠN ĐẾ TÀI
Ngô Tất Tố đã viết gần nhƣ đủ các loại văn, nào phóng sự, tiểu thuyết, rồi biên khảo,
dịch thuật, phê bình và rất nhiều bài văn ngắn. Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong luận
án này chỉ giới hạn ở các bài văn ngắn của ông đƣợc đăng trên báo, khoảng thời gian từ năm
1929 đến 1943. Ngô Tất Tố đã viết bao nhiêu bài văn ngắn nhƣ thế, đến nay vẫn chƣa ai có
tháng Tám năm 1945.
2. Nhà báo Ngô Tất Tố - cuộc đời và sự nghiệp.
3. Quá trình chuyển biến tƣ tƣởng của Ngô Tất Tố từ một nhà nho yêu nƣớc trở
thành một nhà báo tiến bộ.
4. Quan niệm của Ngô Tất Tố về làm báo và viết văn.
5. Nhân cách của ngƣời viết tạp văn - tiểu phẩm.
Chương II: Nội dung tư tưởng của tạp văn - tiểu phẩm Ngô Tất Tố.
1. Tố cáo những thủ đoạn bóc lột của bọn tƣ sản, bọn làm giàu bất chính trên sự đau
khổ của nhân dân.
2. Lên án bọn quan lại phong kiến, bọn đầu cơ chính trị.
3. Đả kích thực dân Pháp cùng những chính sách cai trị tàn bạo của chúng.
Chương III: Nghệ thuật viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố.
1. Đặc điểm của thể loại văn tiểu phẩm
2. Kết cấu .
3. Ngôn ngữ nghệ thuật
4. Giọng điệu nghệ thuật.
Kết luận
- Thư mục tham khảo.
- Mục lục
20
Luận án thạc sĩ
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I: TƢ TƢỞNG VÀ QUAN NIỆM CỦA NGÔ TẤT
TỐ VỀ LÀM BÁO VIẾT VĂN
1. Tình hình báo chí nước ta từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến
những lực lƣợng xã hội mới, đó là giai cấp công nhân và giai cấp tƣ sản. Các cuộc đấu tranh
của giai cấp công nhân từ tự phát dần dần có tổ chức tự giác. Do tác động của Cách mạng
tháng Mƣời Nga, việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân
và phong trào yêu nƣớc đã hình thành nên các tổ chức cách mạng và tổ chức yêu nƣớc. Giai
cấp tƣ sản cũng phân hóa thành hai bộ phận: tƣ sản mại bản thì ôm chân đế quốc, chống lại
nhân dân, còn tƣ sản dân tộc do bị đế quốc chèn ép, nên trong một chừng mực nào đó họ
cũng có tƣ tƣởng chống đế quốc phong kiến.
Phong trào cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ do tầng lớp thanh niên tân tiến chịu ảnh
hƣởng của Cách mạng tháng Mƣời hoặc có quan hệ với giai cấp công nhân lãnh đạo, hoặc
do lớp trí thức xuất thân từ giai cấp tƣ sản dân tộc khởi xƣớng. Các tổ chức đảng phái cách
mạng có xu hƣớng công nhân hoặc xu hƣớng tƣ sản đã đề ra đƣợc những nét lớn về cƣơng
lĩnh chính trị của mình. Trong thời kỳ này, các đảng pha cách mạng cũng đã biết vận dụng
nhiều hình thức đấu tranh phong phú nhƣ: bãi khoa, đình công, biểu tình, kết hợp đấu tranh
bất hợp pháp là đấu tranh hợp pháp, xuất bản báo chí bí mật, lợi dụng báo chí hợp pháp.
Việc thông tin liên lạc giữa các miền trong nƣớc đƣợc thuận tiện hơn, tao điều kiện cho
phong trào lan nhanh và có qui mô toàn quốc.
Trên lĩnh vực giáo dục, thực dân Pháp bãi bỏ việc học và thi cử bằng chữ Hán, mở
các trƣờng dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Việc thay đổi nội dung giảng dạy trong các
trƣờng đã đem lại những thay đổi lớn trong đội ngũ trí thức nói chung và đội ngũ ngƣời viết
báo nói riêng. Tầng lớp trí thức mới do Pháp đào tạo ngày càng đông. Việc dạy chữ quốc
ngữ đã tạo ra lớp công chúng độc giả của báo chí tiếng Việt. Nhiều nhà tƣ sản bản xứ đã bỏ
vốn ra mở nhà in, đƣa công nghiệp in vào làm cho ngành in phát triển, giúp cho việc in báo
tiếng Việt đƣợc dễ dàng hơn trƣớc. Tình hình trên có ảnh hƣởng lớn đến hoạt động báo chí ở
nƣớc ta.
Thi hành chính sách cải lƣơng, thực dân Pháp không giữ độc quyền về báo chí nhƣ
trƣớc, chúng đã cho một số ngƣời thuộc tầng lớp trên trong xã hội đƣợc phép xuất bản báo
chí. Tất nhiên là phải tuân theo
22
để trợ cấp cho các tờ báo là công cụ của chúng. Chính quyền thực dẩn còn xuất công quỹ ra
mua một khối lƣợng lớn bản in và bắt các làng xã bỏ tiền công ra mua các tờ báo tay sai để
phát không cho ngƣời đọc...). Những tờ báo của thực dân là vậy Còn các tờ báo do những
nhà tƣ sản bản xứ chủ trƣơng thì một mặt tuyên truyền cho "chính sách khai hóa"
23