ĐỀ TÀI CÁC TỪ HÔ GỌI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU XÉT TỪ LÍ THUYẾT BA BÌNH DIỆN KẾT HỌC - NGHĨA HỌC - DỤNG HỌC - Pdf 36

O Ụ

ƢỜN



O

ƢP

O

M

N

-----o0o-----

NGUYỄN THỊ MỸ LỆ



Ô

ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU

CỦA NGUYỄN U XÉ
KẾT HỌC - N

Ừ LÍ
ĨA



LỜ

AM OAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Thị Lương.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 12 tháng 09 năm 2014
Học viên

Nguyễn Thị Mỹ Lệ


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS. TS Nguyễn Thị Lương, người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu,
sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của cô đã giúp tôi vượt qua nhiều khó
khăn trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học chuyên ngành
Ngôn ngữ học, đã truyền đạt những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu
ích và giúp tôi nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu.
Cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện
thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè những người luôn ở bên cổ vũ,
động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài.


2.2.

Các từ hô gọi trong Truyện Kiều xét theo cấu tạo ngữ pháp

38

2.3.

Phân loại các từ hô gọi trong Truyện Kiều có cấu tạo là

40

cụm từ
2.4.

Mô hình cấu tạo cụm danh từ đầy đủ nhất

51

2.5.

Nghĩa từ vựng của các từ hô gọi trong Truyện Kiều

59


MỤC LỤC
MỞ ẦU .......................................................................................................... 1
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI .................................................................................. 1

Ô
N

DIỆN KẾT HỌ

ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU
ĨA

ÊN ÌN

ỌC............................................................ 35

2.1. Kết quả khảo sát ....................................................................................... 35
2.2. Các từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện kết học ......................... 38
2.2.1. Cấu tạo................................................................................................... 38
2.2.1.1. Các từ hô gọi trong Truyện Kiều có cấu tạo là từ .............................. 38
2.2.1.1. Các từ hô gọi trong Truyện Kiều có cấu tạo là cụm từ ...................... 40
2.2.2. Khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp .................................................. 44
2.2.2.2. Các từ hô gọi với tƣ cách là danh từ .................................................. 50
2.3. Các từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện nghĩa học ..................... 58
Tiểu kết chương 2........................................................................................... 65
hƣơng 3:



Ô

ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU

ÊN ÌN

đen, những ngƣời đại diện tôn giáo đến giới trung lƣu thấp cổ bé họng sống trong
cảnh trên đe dƣới búa, quan trên trông xuống nhòm ngó tài sản, xã hội đen nhìn vào
thì tự do bắt nạt hiếp đáp và bộ phận dân làng đƣợc thể hiện qua hệ thống những
nhân vật, nhƣ: Hồ Tôn Hiến, Hoạn thƣ, Tú bà, Từ Hải, Kim Trọng, Thúy Kiều,
Thúy Vân, Vƣơng ông, Vƣơng bà, sƣ Giác Duyên, kẻ vô danh bàng quan đến nhà
Tú bà coi Kiều tự sát cho thỏa lòng hiếu kì hoặc chỉ biết chép miệng ngấm nguýt
chê tên Sở Khanh là bất nghĩa vô lƣơng hay ngƣời dân vô danh ở Hàng Châu kể cho
Kim Trọng biết tin tức Thúy Kiều… thế giới đủ mọi hạng ngƣời, nhân vật này đã
đƣợc Nguyễn Du sử dụng các lớp từ hô gọi khác nhau trong hội thoại giữa các nhân
vật một cách phong phú và đa dạng, góp phần nâng cao giá trị của tác phẩm. Tuy
nhiên, từ trƣớc tới nay chƣa có một công trình khoa học riêng biệt nào miêu tả thật
chuyên sâu, chi tiết và đầy đủ về các từ hô gọi trong tác phẩm trên ba bình diện kết
học, nghĩa học và dụng học, mà chỉ đi sâu vào một khía cạnh riêng lẻ nào đó. Vì
vậy, vấn đề tìm hiểu các từ hô gọi trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học
trong tác phẩm, thực sự là một hƣớng đi mới mẻ đối với những ngƣời muốn tìm
hiểu một cách thấu đáo Truyện Kiều.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề: “Các từ hô
gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học –
dụng học” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.

1


2. LỊCH SỬ N

ÊN ỨU VẤN Ề

2.1. Lịch sử nghiên cứu các từ hô gọi trong tiếng Việt
Việc nghiên cứu các từ hô gọi trong tiếng Việt đƣợc rất nhiều nhà Việt ngữ
quan tâm. Mỗi tác giả đƣa ra những quan điểm khác nhau.

thấy các nhân vật trong Truyện Kiều cũng đã sử dụng các yếu tố này để giao tiếp
trong phạm vi gia đình và xã hội.
Công trình nghiên cứu [5] Diệp Quang Ban cho rằng, các phƣơng tiện dùng hô
gọi đều thuộc nhân xƣng từ: “Nhân xƣng từ là những từ không mang nghĩa, chúng
thuộc vào số những từ dùng để quy chiếu… việc xƣng hô theo ngôi trong tiếng Việt
có điểm riêng là không chỉ dùng nhân xƣng từ mà còn dùng các lớp từ khác làm từ
chỉ ngôi”. Tuy nhiên, tác giả phân biệt lớp nhân xƣng từ đích thực với các lớp từ
khác đƣợc dùng làm nhân xƣng từ. Cụ thể ông đề cập đến các lớp từ sau:
- Nhân xƣng từ đích thực.
- Danh từ chỉ quan hệ thân tộc.
- Danh từ chỉ chức vị.
- Một số từ và tổ hợp từ khác.
Theo Diệp Quang Ban, nhân xƣng từ là từ dùng để chỉ ra (qui chiếu đến) ngƣời
hay vật tham gia quá trình giao tiếp (bằng lời nói). Nhân xƣng từ đƣợc chia thành ba
ngôi, nhƣng dùng hô gọi thì có ngôi thứ hai và ngôi thứ ba. Trong đó, ngôi thứ hai
qui chiếu đến ngƣời nghe, ngôi thứ ba qui chiếu đến vật, hiện tƣợng ngoài văn bản
và qui chiếu đến từ ngữ trong văn bản. Trong tiếng Việt, việc dùng từ nhân xƣng
trong hô gọi không thật phổ biến, vì chúng đem lại sắc thái không kính trọng, chúng
mang nhiều tính thân mật, suồng sã. Vì vậy, trong hô gọi hàng ngày, thay vì việc sử
dụng các nhân xƣng từ đích thực thì ngƣời Việt sẽ sử dụng các danh từ thân tộc và
danh từ chỉ chức vụ để hô gọi với nhau. Theo tác giả việc dùng các danh từ thân tộc
trong hô gọi không gây một trở ngại nào đáng kể vì một cách tự nhiên ngƣời Việt
đã sử dụng thành thạo với những sắc thái tế nhị đến mức khó tả của chúng. Còn việc
dùng các danh từ chức vị làm hô gọi chỉ dùng ngôi thứ hai. Ngƣời Việt có thể dùng
từ chỉ chức vụ hoặc cƣơng vị xã hội thay cho nhân xƣng từ ngôi thứ hai.
Ví dụ: 1. Giám đốc cho gọi em ạ?
2. Thưa giám đốc, giám đốc cho gọi em ạ?
3. Chào trưởng phòng em về trước nhé.

3

gia đình hoặc không dùng tên riêng và đại từ nhân xƣng (đây là lối nói phổ biến

4


trong gia đình, bạn bè thân quen, ngƣời trên nói với ngƣời dƣới, còn ngƣời dƣới
cũng có thể dùng cách nói trống nhƣng phải kèm theo từ ngữ chỉ sự kính trọng) để
hô gọi.
Hai là, tình huống xã giao là tình huống giữa hai ngƣời đối thoại chƣa quen
biết, hoặc mới làm quen. Thông thƣờng có những cách biểu đạt: dùng các từ hô gọi
trong gia đình thể hiện thứ bậc vai vế, nhƣ: em, chị, ông, chú, bác... và chú ý trong
tình huống này ngƣời nói không đƣợc dùng lối nói trống không, vì nhƣ vậy sẽ bị coi
là vô lễ, khiếm nhã và cũng không dùng các từ thân mật “mình” sẽ bị coi là suồng
sã. Trong tình huống này, ngƣời Việt thƣờng sử dụng lối “đài” (nâng cao hơn một
bậc) và lối “khiêm” (ngƣời nói hạ thấp mình để đề cao, tỏ kính trọng ngƣời nghe).
Ba là, tình huống thông báo khách quan là tình huống mà ít liên quan đến
ngƣời nói và ngƣời nghe. Nếu có liên quan thì sử dụng đối với ngƣời đƣợc nói đến
là họ, người ta (số đông), chàng, nàng…
Khó khăn nhất là dùng ngôi thứ ba số ít nhƣ thế nào cho khách quan: Nó, hắn,
thị, y… đều có màu sắc biểu cảm hoặc thân mật hoặc khinh bỉ. Vì vậy, trong văn kể
chuyện (chuyện kể, truyện ngắn, tiểu thuyết...) nhà văn dùng cách nhƣ: lặp nhiều
lần tên nhân vật, thay thế các từ hô gọi hoặc chuyển từ bình diện lời kể sang bình
diện đối thoại các nhân vật.
Nhƣ vậy, Đinh Trọng Lạc đã đề cập đến màu sắc biểu cảm cực kì phong phú
của hệ thống đại từ nhân xƣng và lớp từ hô gọi của tiếng Việt. Nó đòi hỏi ngƣời
dùng phải xác định các yếu tố: Tình huống đối thoại, cƣơng vị và thái độ, trong đó
đƣờng ranh giới phân chia bậc trên (tuổi tác), cƣơng vị, giới tính (nam, nữ) và bậc
dƣới rất rõ ràng. Sự chuyển đổi thái độ và cƣơng vị là do tình huống đặt ra. Vì thế,
trong giao tiếp lựa chọn đƣợc từ hô gọi để thể hiện tính chất khách quan là điều
không phải dễ dàng.

hiện thái độ ngợi ca, khi xây dựng nên những con ngƣời lí tƣởng với nhiều phẩm
chất tốt đẹp, con ngƣời hiện lên tất cả vẻ đẹp về hình thức lẫn tâm hồn. Đối với
những kẻ đại diện cho tầng lớp thống trị thái độ Nguyễn Du là sự lên án, tố cáo còn
với Tú bà thái độ tác giả là khinh ghét, thiếu thiện cảm...
Bài viết của Mai Văn Hoan [35] đã đi sâu khảo sát chữ “tôi” đƣợc thiên tài
Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều. Bài viết đã xét riêng việc sử dụng chữ “tôi”
theo nghĩa đại từ nhân xƣng đƣợc các nhân vật trong tác phẩm tự xƣng đến các

6


nhân vật khác trong giao tiếp hoặc tự xƣng với chính mình, thể hiện ý thức cá nhân
mạnh mẽ của các nhân vật khi tự xƣng và tài năng “bậc kì tài” Nguyễn Du, một đại
thi hào đi trƣớc thời đại.
Trong báo cáo khoa học Đặng Thị Thu Hiền [31] đã chỉ ra các phƣơng tiện
ngôn ngữ chiếu vật biểu thị thân phận ngƣời phụ nữ trong Truyện Kiều xét trên bình
diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa. Trong báo cáo, tác giả không tìm hiểu các
phƣơng tiện đồng quy chiếu nhân vật với tƣ cách là các phƣơng tiện cá thể mà khảo
sát và tìm hiểu các phƣơng tiện ngôn ngữ đồng quy chiếu biểu thị thân phận ngƣời
phụ nữ nói chung trong Truyện Kiều (nghĩa là những từ ngữ có ý nghĩa chiếu vật
biểu thị một tập hợp). Các từ ngữ này đƣợc xem xét ở cả ý nghĩa chiếu vật hiển
ngôn và ý nghĩa hàm ẩn. Do vậy, những từ ngữ vừa đƣợc dùng nhƣ phƣơng tiện
chiếu vật cá thể (nhân vật nữ cụ thể) lại vừa có ý nghĩa chiếu vật tập hợp (thân phận
ngƣời phụ nữ nói chung) cũng đƣợc coi là đối tƣợng khảo sát trong báo cáo. Kết
quả báo cáo của Đặng Thị Thu Hiền “là một trong những bƣớc đi đầu tiên để thử
nghiệm một cách tiếp cận một trong các tác phẩm lớn nhất của văn học Việt Nam:
tiếp cận Truyện Kiều từ góc độ Ngữ dụng học nói chung và từ phƣơng diện chiếu
vật và chỉ xuất nói riêng” [31; tr. 10].
Đặng Thị Thu Hiền trong [33] đã tìm hiểu về các biểu thức chiếu vật có các từ
“thân”, “phận”, “số”, “kiếp” trong Truyện Kiều. Hầu hết các biểu thức chiếu vật có


ÊN ỨU

3.1. ối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các từ hô gọi trong trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi tiến hành khảo sát các từ hô
gọi trực tiếp giữa các nhân vật với nhau (chỉ xét ngôi thứ 2). Đó là các từ hô gọi
thuộc từ loại trong hệ thống từ loại thuộc đại từ nhân xƣng, từ loại danh từ (danh từ
tên riêng, danh từ thân tộc, danh từ chỉ nghề nghiệp, danh từ chung chứa chỉ từ hoặc
đi kèm các từ cảm thán). Đề tài không tìm hiểu các từ hô gọi tự xƣng các nhân vật
(ngôi thứ nhất) và hô gọi các nhân vật đƣợc nói đến (ngôi thứ ba).
Văn bản Truyện Kiều mà chúng tôi làm tƣ liệu khảo sát là bản do Đào Duy
Anh khảo đính, đƣợc in trong tài liệu [3].
4. MỤ

Í

N

ỆM VỤ N

ÊN ỨU

4.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài: “Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên
ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học” nhằm thống kê một cách hệ thống
các từ hô gọi trong tác phẩm để làm rõ những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ
dụng của nhóm từ này. Bƣớc đầu chỉ ra đƣợc nét riêng của nhóm từ hô gọi trong tác

6. ÓN

ÓP ỦA Ề

6.1. Về mặt lí luận
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề về lí thuyết từ loại trên ba
bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học nói chung và nghiên cứu các từ hô gọi
trong Truyện Kiều nói riêng.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ có thể coi là tài liệu tham khảo cho việc học tập,
giảng dạy của giáo viên, học viên và sinh viên hay những ai muốn quan tâm
tìm hiểu về các từ hô gọi trong Truyện Kiều.
7. CẤU

Ú

ỦA LU N

N

Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Các từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện kết học và nghĩa học
Chương 3: Các từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện dụng học
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo.

9


Chương 1



anh vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà. Do nhiều biến
cố lịch sử, từ năm 1789, Nguyễn Du đã rơi vào cuộc sống đầy khó khăn gian khổ hơn
chục năm trƣớc khi ra làm quan cho nhà Nguyễn. Nhƣng sau nhiều năm sống hết sức
khó khăn chật vật ở các vùng quê khác nhau đến năm 1802 ra lại làm quan với triều
Nguyễn nhƣng lần này đƣợc thăng thƣởng rất nhanh, từ chức Tri huyện lên đến Tham
tri (1815), đƣợc cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc (1813). Năm 1820, Nguyễn Du
lại đƣợc cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc nhƣng lần này chƣa kịp lên đƣờng thì
ông đã mất vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18 - 9 - 1820).
Nguyễn Du có nhiều tác phẩm. Thơ chữ Hán nhƣ, Thanh Hiên thi tập, Nam
trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục. Cả ba tập này, hiện nay giới nghiên cứu đã sƣu
tầm đƣợc 249 bài. Các tập thơ này đã thể hiện tƣ tƣởng, tình cả, nhân cách của ông.
Đó là, tâm trạng buồn, day dứt nhƣng đã cho thấy rõ khuynh hƣớng quan sát, suy
ngẫm về cuộc đời và xã hội của tác giả.
Tác phẩm tiêu biểu cho thiên tài Nguyễn Du là Đoạn trường tân thanh (Truyện
Kiều) và Văn tế thập nhị chúng sinh (Văn chiêu hồn) đều viết bằng chữ Nôm. Cả
hai tác phẩm đều xuất sắc, tràn trề tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, phản ánh xã hội
bất công, cuộc đời dâu bể. Đặc biệt, Truyện Kiều đã chứng tỏ khả năng chuyển tải
nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể thơ truyện thơ.
Những tác phẩm của Nguyễn Du cũng cho thấy một trình độ nghệ thuật bậc
thầy, với học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ Trung Quốc, góp phần trau dồi
ngôn ngữ văn học dân tộc, làm giàu cho tiếng Việt qua việc Việt hóa nhiều yếu tố
ngôn ngữ ngoại nhập. Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã công nhận Nguyễn
Du là danh nhân văn hóa thế giới và ra quyết định kĩ niệm trọng thể nhân dịp 200
năm năm sinh của ông.
1.1.2. Truyện Kiều
Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765 - 1820) nguyên tên là Đoạn
trường tân thanh nghĩa là “tiếng nói mới đứt ruột”, là một truyện thơ Nôm viết bằng
thể lục bát, gồm 3254 câu thơ, là một tác phẩm viết dựa theo tác phẩm cổ của Trung

Truyện Kiều là một tác phẩm văn chƣơng kinh điển nhất trong lịch sử văn học
Việt Nam. Tác phẩm mang chủ nghĩa nhân đạo cao cả là chống chế độ phong kiến
thời đại của tác giả, xã hội đang suy thoái đã bộc lộ đầy đủ tính chất mục nát, vô
nhân và các tầng lớp nhân dân phải bị dồn đến bƣớc đƣờng cùng.

12


Không khí thờ đại Nguyễn Du phản ánh tác phẩm là một xã hội quyền lực to
nhất là ở trong tay bọn quan lại phong kiến, đầu mối của mọi cái xấu xa, tàn bạo
trong xã hội. Đồng thời, truyện đã phơi bày sự tha hóa đồng tiền. Đồng tiền trong
tay bọn quan lại, trong tay kẻ xấu đã gây ra tai họa cho con ngƣời, nhất là ngƣời phụ
nữ. Không những vậy, giá trị Truyện Kiều còn là sự phá vỡ truyền thống để đi đến
chủ nghĩa hiện thực trong tính cách phổ biến của nó, cũng nhƣ đã đem lại lòng tin
cho mọi ngƣời về khả năng phong phú của tiếng Việt, và tác phẩm đã có công khai
sáng cho nhiều nhà văn, nhà thơ đời sau về phƣơng diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc
trong sáng tác văn chƣơng.
1.2. Khái niệm và vấn đề về hô gọi
1.2.1. Khái niệm về hô gọi
Trƣớc khi đi vào khái niệm hô gọi, chúng tôi điểm qua một số thuật ngữ liên
quan đến các từ hô gọi.
- Đỗ Hữu Châu đƣa ra “biểu thức gọi” để phân biệt với “biểu thức xƣng hô”
[15] . Gọi là dùng một biểu thức hƣớng về một ngƣời nào đó nhằm làm cho ngƣời
này biết rằng ngƣời gọi muốn nói gì đó với anh ta. Trong tiếng Việt, ơi! và này! là
hai yếu tố chỉ dẫn hành vi gọi. Có những từ vừa dùng để xƣng hô vừa dùng để gọi
(kết hợp với ơi!, này!), có những từ chỉ dùng để xƣng hô không thể dùng để gọi (đối
với ngƣời trên, ngƣời Việt Nam không dùng ơi!, này! mà phải dùng biểu thức “thưa
+ X...” và không thể ở khoảng cách quá xa mà gọi. Ngƣời lễ phép là phải chạy lại
gần ngƣời trên tới khi ngƣời đó có thể nghe đủ rõ thì mới dùng biểu thức đó để gọi).
- Tác giả Diệp Quang Ban trong [6] đƣa ra thuật ngữ “từ gọi - đáp” là từ dùng

Biểu thức ngôn ngữ đáp lời thƣờng là: vâng, dạ...
Ví dụ: 1. Đồng bào ơi! Anh chị em ơi!
Hỡi lương tâm tất cả loài người!
(Tố Hữu)
2. Thưa anh, em cũng muốn khôn nhưng khôn không được.
(Tô Hoài)
- Xƣng hô là một hành động diễn ra liên tục, thƣờng xuyên trong khi trò
chuyện và là lời của cả ngƣời nói lẫn ngƣời nghe.
Theo Vũ Tiến Dũng [20; tr. 328-329] cho rằng: “Xƣng hô là hành động nói và
có mối quan hệ khá rõ ràng với phép lịch sự trong giao tiếp. Xƣng hô trong tiếng

14


Việt chịu áp lực mạnh mẽ của chuẩn mực xã hội, chuẩn mực xã hội chi phối việc
lựa chọn từ ngữ xƣng hô của các cá nhân trong tƣơng tác xã hội.”
Đức Nguyễn nhận định: “Xƣng là tự gọi mình là gì đó khi nói với ngƣời khác,
biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với ngƣời ấy; Hô là gọi ngƣời nói chuyện với
mình là gì đó, biểu thị tính chất mối quan hệ của mình với ngƣời ấy.” [51; tr. 73]
Nhƣ vậy, qua những thuật ngữ liên quan phần hô gọi, có thể khái niệm hô gọi
là gọi ngƣời khác là gì đó khi nói chuyện với nhau để biểu thị tính chất của mối
quan hệ. Hô gọi ứng với ngôi nhân xƣng thứ hai (hô gọi trực tiếp) và ngôi nhân
xƣng thứ 3 (hô gọi gián tiếp) dùng để quy chiếu đến ngƣời nghe (ngƣời đối thoại).
Đề tài chỉ xét những ngôi nhân xƣng thứ hai, không xét ngôi nhân xƣng thứ ba
(ngƣời đƣợc nói đến).
1.2.2. Phương tiện hô gọi
Phƣơng tiện hô gọi là những đơn vị từ, ngữ, những biểu thức dùng để hô gọi
nhằm chỉ vai ngƣời nghe trong hoạt động giao tiếp. Trong tiếng Việt phƣơng tiện hô
gọi gồm: đại từ nhân xƣng, các lớp từ và biểu thức miêu tả.
1.2.2.1. Đại từ nhân xưng (nhân xưng đích thực)


Số đơn

Biệt chú

Số nhiều

tôi, tao,

chúng tôi, chúng

tớ, (ta),

tao, chúng tớ, chúng - ta có thể dùng nhƣ chúng ta

mình

mình

- ta, chúng ta, chúng mình

mày, mi

chúng mày, chúng

có thể dùng là ngôi thứ nhất

bay, bay

bao gộp chỉ gồm chung cả

“Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.” (461 - 462)

16


Ở hai câu thơ này, sử dụng đại từ “ai” dùng hô gọi một cách bóng bẩy để chỉ
ngôi thứ hai một cách kín đáo, đó là lời đối thoại Thúy Kiều ám chỉ đến Kim Trọng.
2. Dạy rằng: “Hương lửa ba sinh,
Dây loan xin nối cầm lành cho ai.” (2581 - 2582)
Đại từ “ai” đƣợc Hồ Tôn Hiến sử dụng ám chỉ Thúy Kiều, trong hoàn cảnh Hồ
Tôn Hiến tiêu diệt đƣợc Từ Hải, tổ chức tiệc mừng liên hoan thắng trận, Thúy Kiều
bị bắt hầu rƣợu, đàn ca mua vui.
3. “Làm chi tội báo oan gia,
Thiệt mình, mà hại đế ta, hay gì?” (1013 - 1014)
Trong lời đối thoại trên giữa Tú bà và Thúy Kiều, mụ Tú đã sử dụng đại từ
nhân xƣng “mình” chỉ Thúy Kiều.
Tuy nhiên, việc hô gọi các đại từ, nhất là đại từ nhân xƣng trong tiếng Việt ít
có sắc thái trung tính, thƣờng mang sắc thái thân mật, sỗ sàng hoặc không kính
trọng. Vì vậy, trong tiếng Việt còn sử dụng một số lƣợng lớn các từ và ngữ khác để
hô gọi.
Diệp Quang Ban nhận định: “Việc xƣng hô theo ngôi trong tiếng Việt có điểm
riêng là không chỉ dùng nhân xƣng từ, mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ
ngôi.” [5; tr. 519] và ông còn cho rằng: “Tiếng Việt ít sử dụng các đại từ nhân xƣng
đích thực trong việc xƣng hô (thậm chí dùng chúng thƣờng bị coi là khiếm nhã), mà
thƣờng dùng các danh từ chỉ ngƣời có họ hàng (danh từ thân tộc) và cả các từ chỉ
chức vị để làm từ xƣng hô.” [6; tr. 334]
1.2.2.2. Các lớp từ dùng trong hô gọi
Diệp Quang Ban quan niệm: “Bên cạnh các nhân xƣng từ đích thực, trong
xƣng hô ngƣời Việt còn sử dụng các lớp từ sau: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc; danh

“Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu, khổ thơ đầu:
Trên dòng Hương Giang
Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương Giang.

18


Trong trƣờng hợp trên, đã vi phạm về nguyên tắc đã đặt tên riêng thì mỗi cá
thể phải có một tên khác hẳn với tên cá thể khác cùng loại. Tuy nhiên, trong thực tế
thì hiện tƣợng trùng tên là thƣờng gặp và gây trở ngại cho sự nhận diện sự vật. Do
đó, để tránh trùng tên gọi khi sử dụng tên riêng, ngƣời ta thƣờng đem danh từ chung
kèm tên riêng hoặc dùng định ngữ vào sau tên riêng. Phƣơng pháp này đƣợc
Nguyễn Du sử dụng khá nhiều trong tác phẩm: tên riêng chỉ ngƣời (Thúy Kiều,
Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải... ) hay tên riêng chỉ địa danh (huyện Lâm Thanh,
huyện Lam Kiều... ).
Ví dụ: 1. Rằng: “Hoa Nô đủ mọi tài,
Bản đàn thử giạo một bài chàng nghe.” (1849 - 1850)
Hô gọi Hoạn thƣ là ngƣời chủ, vai trên gọi ngƣời ở bằng tên riêng “Hoa Nô”,
tên Thúy Kiều khi làm con ở cho nhà họ Hoạn.
2. “Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè lau rước người.” (2691 - 2692)
Danh từ tên riêng “Giác Duyên” đƣợc sƣ Tam Hợp hô gọi đến Giác Duyên.
Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể
đƣợc gọi bằng tên riêng đó. Tên riêng chỉ ngƣời có chức năng cơ bản là chỉ cá thể
ngƣời trong phạm trù ngƣời, tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ cá thể
sông, núi trong phạm trù vật thể tự nhiên. Tuy nhiên, trong sử dụng, tên riêng có thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status