Giáo trình tài chính công - Pdf 63

http://www.ebook.edu.vn 1
CHƯƠNG 1:

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH NSNN Qua những cuộc chinh phạt khốc liệt giữa các bộ tộc trong thời kỳ sơ khai của lịch sử, đã xuất
hiện một tầng lớp cai trị bên trên xã hội, đó là Nhà nước. Để có tiền chi tiêu, Nhà nước đã đặt ra
chế độ thuế khóa bắt toàn dân phải cống nạp. Có những loại thuế hết sức bất công đã đè đầu, cưỡi
cổ dân nghèo mà ngày nay chúng ta còn được th
ấy qua các tác phẩm văn học đề cập đến nó.

Từ các khoản thu từ thuế hình thành nên quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đầu tiên Nhà nước sử dụng
quỹ tiền tệ này để nuôi dưỡng viên chức và binh lính của Nhà nước. Sau đó phạm vi được mở rộng,
và ngày nay, Nhà nước còn dùng tiền quỹ của mình để chi tiêu cho các khoản phúc lợi và kinh tế.

Trước khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, Nhà nước không hề có một văn bản tài chính nào bao quát
hết tất cả các khoản thu, chi của mình trong từng thời kỳ. Thông thường, mỗi một khoản chi được
bảo đảm bằng một hay một số khoản thu nhất định và được thể hiện trong một bảng dự toán riêng
biệt, thậm chí có những khoản chi không cần dự toán. Lúc bấy giờ quyề
n hành thu, chi đều thuộc
về người đứng đầu Nhà nước, họ không chịu bất kỳ một sự kiểm soát nào của xã hội.
Khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện đã tạo ra những tiền đề để hình thành và phát triển một hệ thống
tài chính hoàn chỉnh, nhất là NSNN. Giai cấp tư sản đã lãnh đạo quần chúng chống lại những luật lệ
tài chính vô lý của Nhà nước phong kiến,
đòi hỏi sự hổ trợ về tài chính từ phía Nhà nước, sửa đổi hệ
thống thuế khóa và thiết lập sự kiểm tra của xã hội đối với các khoản thu, chi của Nhà nước. Kết
quả của quá trình đấu tranh này là đã xóa bỏ được sự độc quyền chi tiêu của người đứng đầu Nhà
nước, hình thành một NSNN theo những tiêu chuẩn định mức công khai và được lập cho từng thời

(chế độ kế toán, thống kê; tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp).
- Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp (các kỳ họ
p của Quốc Hội để phê chuẩn NSNN.
Ở nước ta, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm. Điều này
phù hợp với các kỳ họp của Quốc Hội.
2. Bản chất của NSNN
NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội, phát sinh trong quá trình
nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức nă
ng
của Nhà nước.
Các quan hệ kinh tế này bao gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các đơn vị hành chính sự nghiệp.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với các tầng lớp dân cư.
- Quan hệ kinh tê úgiữa NSNN và thị trường tài chính.
- Quan hệ kinh tế giữa NSNN với hoạt động tài chính đối ngoại.
III. VAI TRÒ CỦA NSNN 1. Ngân sách nhà nước - công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu
chi tiêu của nhà nước.
http://www.ebook.edu.vn 3
Đây là vai trò lịch sử của ngân sách nhà nước, mà trong cơ chế nào và trong thời đại nào ngân
sách nhà nước cũng phải thực hiện. Vai trò này của ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở
bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước . Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị ,
kinh tế, xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định.
Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải đượ
c thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và
thu ngoài thuế.
Việc huy động nguồn thu vào tay nhà nước để đảm bảo các yêu cầu chi tiêu cần thiết phải chú

khác.
http://www.ebook.edu.vn 4
- Việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những biện pháp căn bản
để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo.
- Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết đảm bảo
cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới, cao hơn.
- Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng
đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.
- Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay nợ của nhà nước cũng là một vấn đề cần phải xem
xét thận trọng khi quyết định thực hiệ
n các biện pháp huy động tiền vay.
2.2. Về mặt xã hội
- Đầu tư của ngân sách để thực hiện các chính sách xã hội : chi Giáo dục - đào tạo, y tế, kế
hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm xã hội, sắp xếp lao động và việc
làm, trợ giá mặt hàng ...
- Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết thu nhập
để phân phối lại cho các đối tượng có thu nh
ập thấp.
- Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm. Tuy nhiên, vấn đề
sử dụng công cụ NSNN để điều chỉnh các vấn đề xã hội không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên
cứu đầy đủ và phải có sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp. Chẳng hạn : Khi trợ giá điện,
xăng dầu, công tác truyền hình . . . thì những đối tượng được hưở
ng không phải là người nghèo, mà
chính là những người có thu nhập trung bình hoặc cao.
2.3. Về mặt thị truờng:
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về ổn định giá
cả, thị trường và chống lạm phát.
Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí,vay và chính sách chi ngân sách nhà nước có thể điều chỉnh được
giá cả, thị trường một cách chủ động.

thời. Ngưồn dự trữ này được hình thành từ kinh phí cấp phát của ngân sách nhà nước. Do đ
ó, sự
thành công của nhà nước trong điều chỉnh giá cả và thị trường thông qua công cụ dự trữ nhà nước
phụ thuộc vào kinh phí cấp phát của ngân sách nhà nước cho mục đích này.
- Chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình đìêu chỉnh thị trường. Nguyên
nhân gây ra và thúc đẩy lạm phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu,
chi tài chính của Nhà nước.
- Khi đồng vốn ngân sách được sử dụng h
ợp lý và có hiệu quả thì tác dụng tích cực của nó
rất lớn, ngược lại sẽ gây ra bất ổn định trên thị trường, thúc đẩy lạm phát tăng lên.
- Phát hành thêm tìên để bù đắp thâm hụt ngân sách là nguyên nhân trực tiếp của tình
trạng lạm phát gia tăng.
- Mặt khác, ngân sách nhà nước có cân bằng hay không sẽ tác động sâu sắc đến sự cân
bằng của cán cân thanh toán quốc tế, bởi vì:
- Cân bằng của ngân sách tác động trực tiếp đến sự
cân bằng của cán cân thương mại.
- Cân bằng của ngân sách thực hiện được hay không nói lên khả năng trả nợ đến hạn các
khoản vay nước ngoài có thực hiện được hay không http://www.ebook.edu.vn 6
CHƯƠNG 2:

THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Để thực hiện các chức năng của mình Nhà nước phải huy động một bộ phận nguồn tài chính của
xã hội tập trung vào NSNN. Bộ phận nguồn tài chính này được tập trung vào quỹ tiền tệ của Nhà
nước bằng những phương thức và hình thức khác nhau. Hình thức cổ truyền được sử dụng từ trước
cho đến nay để tạo nguồn thu cho NSNN đó là thuế. Ngoài ra Nhà nước còn có các nguồn thu khác
như: thu từ

ng đơn giản, chủ yếu đánh vào ruộng đất, con người...

Chủ nghĩa tư bản ra đời, đi liền với nó là hàng loạt những biến đổi cơ bản về kinh tế - xã hội,
Nhà nước ngày càng can thiệp sâu rộng vào nền kinh tế bằng các chính sách về thuế, đầu tư vốn để
hình thành nên các doanh nghiệp Nhà nước, đầu tư vào cơ sở hạ tầng . . . Với những hoạt động như
vậy, nếu Nhà nước chỉ dựa vào các sắc thuế
cổ điển như trong giai đoạn trước thì không đủ để chi
http://www.ebook.edu.vn 7
tiêu và lại kém nhân đạo. Vì vậy trong giai đoạn này Nhà nước đã mở rộng nguồn thu bằng cách
đặt thêm nhiều sắc thuế nhắm vào các hoạt động kinh tế xã hội khác nhau với một hệ thống thuế
suất đa dạng và linh hoạt làm cho thuế trở nên tế nhị và tỉnh xảo hơn, vừa đảm bảo nguồn thu cho
ngân sách nhà nước và đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nền kinh tế.

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội được đặt ra như là một nhu cầu cấp thiết đòi
hỏi Nhà nước phải đặc biệt quan tâm. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải hướng sự hoạt động của mình
vào sự phát triển toàn diện của dân chúng, quan tâm sấu sắc đến những người có thu nhập thấp . .
. Để thực hiện được điề
u này, bằng các chính sách thuê,ú Nhà nước đã thực hiện việc điều tiết một
phần thu nhập của những người có thu nhập cao thông qua các sắc thuế trực thu như thuế thu
nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp và một số loại thuế gián thu khác để chi cho một số
mục tiêu xã hội. Ở đây thuế phải đảm bảo không hạn chế ý chí làm giàu của các cá nhân trong xã
hội, đồng thời phải tăng
được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nhưng vẫn giữ được tính nhân
đạo của thuế.

2. Khái niệm

Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc mà nhà nước qui định thành luật để mọi tổ chức
kinh tế và người dân phải nộp cho nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.


thuế cho người khác được.

Ví dụ: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân . . .

 Thuế đối vật và thuế đối nhân

Thuế đối vật là loại thuế nhắm trước hết vào đối tượng tính thuế, không quan tâm đến hoàn
cảnh kinh tế, xã hội của người chịu thuế.

Ví dụ: căn cứ vào Luật thuế TTĐB, cơ sở sản xuất rượu bán ra rượu hoa quả phải nộp 20% thuế
tiêu thụ đặc biệt. Nếu giá tính thuế là 10.000 đồng/chai, số thuế sẽ là 2.000 đồng. Nếu giá tính
thuế lên đến 50.000 đồng/chai thì số thuế phải nộp lúc này là 10.000 đồng. Số tiền thuế không phụ
thuộc vào nhân thân của người chịu thuế: anh ta có việc làm ổn định hay đang thấ
t nghiệp, có thu
nhập cao hay thu nhập thấp ...

Thuế đối nhân cũng căn cứ vào đối tượng tính thuế nhưng trước hết nó chú trọng đến các yếu
tố nhân đạo để có mức thuế phù hợp với từng nhóm người. Các yếu tố này là: Thu nhập, số người
phụ thuộc ...

Mục đích chính của thuế đối nhân là góp phần thực hiện công bằng xã hội, hướng sự phát triển
kinh tế của đất nước vào con người, chăm lo phúc lợi vật chất và tinh thần cho con người.

4. Các yếu tố cấu thành luật thuế.

4.1. Tên gọi

Bất cứ loại thuế nào cũng có tên gọi. Tên gọi của thuế xác định nội dung chính của thuế, nhận
diện nó với các loại thuế khác và bảo vệ dân chúng không phải đóng 2 lần cho một loại thuế.


Thụy Điển một phần thuế đặc biệt sử dụng loại thuế suất này, như bia loại 3,6 độ nộp thuế 9,5 cua-
ron/lít; thuốc lá gói 0,39 cua-ron/điếu.

 Thuế suất bằng số tuyệt đối lũy tiến

Là loại thuế suất cũng được ấn định bằng một số tiền tuyệt đối nhưng tăng dần lên theo độ
tăng của đối tượng tính thuế. Ví dụ như thuế môn bài ở Việt Nam.

 Thuế suất tỷ lệ cố định

Là loại thuế suất được ấn định bằng con số tỷ lệ phần trăm trên đối tượng tính thuế và tỷ lệ
này không thay đổi theo đối tượng tính thuế. Ví dụ: Thuế suất thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ
đặc biệt ...

 Thuế suất tỷ lệ lũy tiến

Là loại thuế suất được ấn định bằng con số tỷ lệ phần trăm trên đối tượng tính thuế và tỷ lệ
này tăng dần lên theo độ lớn của đối tượng tính thuế.

Thuế suất tỷ lệ lũy tiến có hai loại chính: Lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần.

• Lũy tiến toàn phần: Là loại thuế suất tỷ lệ, tăng theo đối tượng tính thuế và sự gia
tăng đó đánh trên toàn bộ đối tượng tính thuế.

http://www.ebook.edu.vn 10
Ví dụ: Ở nước ta, theo pháp lệnh ngày 26/1/1983, thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với
các hộ kinh doanh công thương nghiệp, sử dụng thuế suất tỷ lệ lũy tiến toàn phần như sau:


Đến 500

Đến 1.000

Đến 1.500

Đến 2.000

Đến 2.500

Đến 3.000

12

15

18

22

26

30

16

20

24

Thu nhập bình quân
tháng/người
Thuế suất (%)
1 Đến 5.000 0
2 Trên 5.000 đến 15.000 10
3 Trên 15.000 đến 25.000 20
4 Trên 25.000 đến 40.000 30
5 Trên 40.000 40
Biểu thuế là một bảng tập hợp các thuế suất cùng một số yếu tố kèm theo. Ví dụ: Biểu thuế
tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu . . .

4.5. Chế độ miễn, giảm

Để chiếu cố đến hoàn cảnh khách quan mang lại khó khăn, làm giảm thu nhập của đối tượng
nộp thuế hoặc có chiếu cố riêng đối với một số ngành nghề cần khuyến khích, thường trong một sắc
http://www.ebook.edu.vn 11
thuế có qui định chế độ miễn, giảm thuế, điều kiện và thủ tục được xét, mức độ được xét, thẩm
quyền của từng cấp về việc xét miễn, giảm thuế.

4.6. Thủ tục thu nộp

Thủ tục thu nộp thuế là căn cứ pháp lý để thực hiện đúng đắn việc nộp thuế đúng, đủ, kịp thời
và là cơ sở pháp lý để xử lý đối với các trường hợp nộp chậm, dây dưa tiền thuế.

5. Vai trò của thuế trong nền kinh tế - xã hội

5.1. Thuế là khoản thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Cho dù người ta còn bàn cãi nhiều về khái niệm thuế, song bất cứ ai cũng đều phải công nhận
rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Điều này có thể được lý giải

tăng trưởng của tổng cầu, làm giảm bớt sự tăng tr
ưởng của nền kinh tế. Ngược lại, khi nền kinh tế
http://www.ebook.edu.vn 12
bước sang giai đoạn suy thoái, việc giảm thuế sẽ có tác dụng nâng cao tổng cầu, từ đó mà xúc tiến
việc phục hưng nền kinh tế.

Thuế có tác dụng trực tiếp đến giá cả, đến thu nhập, vì vậy dựa vào công cụ thuế Nhà nước có
thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc tích lũy và đầu tư . Khi ban hành một sắc thuế do những yêu cầu về
mặt kinh tế, chính trị, xã hội, Nhà nước đã có những quy định về đối tượng, phạm vi đánh thuế,
thuế suất, chế độ miễn giảm. Các quy đị
nh này xét về bề ngoài là một sự cưỡng chế, nhưng bên
trong là nhằm mục đích điều chỉnh những quan hệ kinh tế - xã hội nhất định.

5.3. Thuế góp phần điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối.

Trong nền kinh tế hàng hóa nói chung, đặc biệt là kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp
của Nhà nước, để thị trường tự điều chỉnh thì việc phân phối của cải và thu nhập sẽ càng tập trung,
tạo ra hai cực đối lập nhau, một thiểu số người sẽ giàu lên nhanh chóng và đa số người nghèo cuộc
sống sẽ không được cải thiện. Tình trạng trên chẳng những liên quan đến vấ
n đề đạo đức, công
bằng mà còn tạo nên sự đối lập giai cấp làm mất đi ý nghĩa cao cả của sự phát triển kinh tế của
một đất nước. Sự phát triển kinh tế của một quốc gia là kết quả nổ lực cộng đồng của toàn dân,
mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định của họ. Thành quả của sự phát kinh
tế nếu không chia s
ẻ cho mọi người cùng hưởng thì rõ ràng mất đi sự công bằng. Bởi vậy cần phải
có sự can thiệp của Nhà nước trong sự phân phối thu nhập trong xã hội, đặc biệt thông qua công cụ
thuế.

Vai trò là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội của thuế thể rõ trong thuế
trực thu. Ví dụ như thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào những người có thu nhập cao. Như vậy


- Thu về sử dụng vốn NSNN

II.
PHÍ VÀ LỆ PHÍ1. Lệ phí

Lệ phí là khoản thu của NSNN, vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí về việc thực hiện
một số thủ tục hành chính, vừa mang tính chất động viên đóng góp cho NSNN. Ví dụ: Lệ phí trước
bạ, lệ phí chứng thư.

2. Phí

Phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp hay là một khoản nộp có tính chất bắt buộc đối với các
thể nhân và pháp nhân do được hưởng một lợi ích hoặc được sử dụng một dịch vụ nào đó do Nhà
nước cung cấp. Nó có tính hoàn trả trực tiếp và do cơ quan hành pháp ban hành. Ví dụ: Phí giao
thông, viện phí, thủy lợi phí . . .

III.
THU TỪ CÁC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC, TIỀN THU TỪ BÁN, CHO THUÊ TÀI SẢN
THUỘC QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ NƯỚC.

Trong nền kinh tế thị trường Nhà nước tham gia vào các hoạt động kinh tế bằng việc đầu tư
vốn vào sản xuất kinh doanh dưới hình thức: thành lập doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn vào các xí
nghiệp, công ty liên doanh, mua cổ phiếu của các công ty cổ phần. Tùy theo từng ngành, từng lĩnh
vực hoạt động mà số vốn góp vào liên doanh hoặc mua cổ phần của Nhà nước sẽ chiếm một tỷ lệ
nhất định trong số v
ốn pháp định, vốn điều lệ của các công ty đó. Số vốn đầu tư của Nhà nước vào

chính công bố cụ thể các đơn vị hạch toán toàn ngành);

- Các khoản thuế và thu khác từ các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt
đất, mặt nước;

- Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của
ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ Quỹ dự trữ tài chính của Trung ương, thu nhập từ vốn
góp của ngân sách trung ương;

- Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước
ngoài cho Chính phủ Việt Nam;

- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệ phí do
các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ;

- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn
vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý;

- Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Thu kết dư ngân sách trung ương;

- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách trung ương năm trước chuyển sang;

- Các khoản phạt, tịch thu và thu khác của ngân sách trung ương theo quy định của pháp
luật.

 Các khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và
ngân sách địa phương


- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước không kể tiền thuê mặt nước thu từ hoạt động dầu khí;

- Tiền đền bù thiệt hại đất;

- Tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

- Lệ phí trước bạ;

- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;

- Thu nhập từ vốn góp của ngân sách địa phương, tiền thu hồi vốn của ngân sách địa
phương tại các cơ sở kinh tế, thu từ Quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh;

- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương
theo quy định của pháp luật;

- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan,
đơn vị thuộc địa phương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ;

- Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;

- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn
vị do địa phương quản lý;

- Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước;

http://www.ebook.edu.vn 16
- Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thuộc tỉnh quản lý;


- Gắn với nhiệm vụ và khả năng quản lý của từng cấp, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách
cấp trên cho ngân sách cấp dưới; khuyến khích các cấp tăng cường quản lý thu, chống thất thu;
hạn chế phân chia các nguồn thu có quy mô nhỏ cho nhiều cấp.

- Ngân sách xã, thị trấn được hưởng tối thiểu 70% đối với các khoản thu sau:

• Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

• Thuế nhà, đất;

• Thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh;

• Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình;

• Lệ phí trước bạ nhà, đất.

Trích đoạn Phương thức cấp phát theo “hạn mức kinh phí” Phương thức “cấp phát kinh phí theo ủy quyền” Cân đối ngân sách nhà nước ở Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status