THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BẾN THUỶ
I. KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BẾN THUỶ
1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ là một chi nhánh trực thuộc Ngân
hàng Công thương Việt Nam có trụ sở chính nằm ở 229 đường Lê Duẩn- Thành
phố Vinh - Tỉnh Nghệ An.
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ ra đời trên cơ sở nâng cấp phòng
giao dịch Bến Thuỷ trực thuộc Ngân hàng Công thương Nghệ An (1/1/1995) rồi
sau đó được nâng cấp lên trực thuộc Ngân hàng Công thương Việt Nam.
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ đã phải đối mặt với những thử
thách lớn trong hoạt động kinh doanh của mình như tình hình kinh doanh còn lạc
hậu, thiếu vốn đầu tư, cơ sở vật chất thiếu... Tuy nhiên tập thể cán bộ công nhân
viên của ngân hàng đã không ngừng phấn đấu vươn lên đem lại niềm tin cho khách
hàng, củng cố khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới, từng bước củng cố và mở
rộng phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với phương châm đặt ra cho
hoạt động trong thời gian qua là: Phát triển vững chắc- an toàn- hiệu quả chi nhánh
Ngân hàng Công thương Bến thuỷ đã chủ động tạo môi trường kinh doanh hợp lý
giúp các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của
khách hàng là hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
2 . Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh ngân hàng Công thương Bến Thuỷ.
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ với tổng số cán bộ công nhân viên
là 106 người, được sắp xếp bố trí công việc căn cứ vào chuyên môn nghiệp vụ,
hoàn cảnh gia đình... một cách phù hợp. Lãnh đạo ngân hàng gồm có 1 giám đốc, 2
phó giám đốc và hệ thống các trưởng phòng, phó phòng.
2.1. Phòng kinh doanh
Phòng có 13 cán bộ gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng. Phòng có chức năng trực
tiếp cho vay đối với các tổ chức kinh tế trong và ngoài quốc doanh có nhu cầu vay
vốn ngân hàng và đáp ứng được những điều kiện của ngân hàng đặt ra, xây dựng
kế hoạch cân đối về nguồn vốn và sử dụng vốn. Thực hiện chế độ thông tin báo
cáo tổng hợp, phân tích kế hoạch tài chính, lỗ lãi của ngân hàng. Trực tiếp thẩm
số 1, số 2, số 3, số4, số5, số 7.
2.7. Phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ
Phòng gồm 4 cán bộ công nhân viên. Chức năng chính của phòng là kiểm tra
kiểm soát mọi nghiệp vụ ngân hàng theo văn bản hiện hành. Tham mưu cho giám
đốc trong việc chỉ đạo hoạt động kinh doanh của chi nhánh để kịp thời khắc phục,
chấn chỉnh hoạt động ngân hàng. Tham gia cùng bộ phận tín dụng của phòng Kinh
doanh, phòng Giao dịch phòng giao dịch xử lý, thu hồi nợ, nợ quá hạn.
2. 8. Phòng giao dịch Trường thi
Phòng gồm 19 cán bộ. Phòng thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ của một chi nhánh
ngân hàng thương mạinhư: tín dụng, nhận gửi, bảo lãnh, kế toán giao dịch và các
nghiệp vụ khác của ngân hàng như thanh toán hộ, chuyển tiền...
Phòng bao gồm hội sở chính và Quỹ tiết kiêm trực thuộc số 6. Đây là phòng
giao dịch ngoài chức năng chính là cho vay các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh và thu nợ còn tiến hành cho vay các doanh nghiệp Nhà nước là các thành
viên của Tổng công ty 90,91 như Công ty xây dựng công trình giao thông 423,
479, 473, 484, 492 là những đơn vị trực thuộc Tổng công ty xây dựng công trình
giao thông IV.
3. Kết quả hoạt động kinh doanh những năm qua.
Để giải quyết những khó khăn còn vướng mắc và tiếp tục phát huy những điều
kiện thuận lợi, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Bến Thuỷ với nỗ lực và quyết
tâm cao đã đạt được kết quả tốt đẹp.
Tình hình cụ thể như sau:
3.1. Về huy động vốn.
Chi nhánh NHCT Bến Thuỷ với tư cách là một ngân hàng thương mại hoạt
động tương đối độc lập, tự chủ trong hạch toán kinh doanh, huy động vốn được coi
là vấn đề chiến lược hàng đầu với mục tiêu mở rộng thị phần tín dụng và hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Mặc dù nằm ở địa bàn không mấy thuận lợi, dân cư chủ
yếu là công nhân, thợ thủ công, buôn bán nhỏ nên thu nhập thấp tích luỹ ít nhưng
nhờ vào việc bố trí sắp xếp lao động, đổi mới phong cách thái độ phục vụ và gắn
với các hình thức huy động vốn phong phú, đặc biệt là áp dụng thành công nghiệp
khách hàng.
3.2. Về hoạt động cho vay đầu tư kinh doanh
Tổng dư nợ cho vay và đầu tư kinh doanh đến ngày 31/12/2001 đạt 396,993 tỷ
đồng tăng 6% so với năm 2000.
Trong đó:
- Dư nợ ngắn hạn đạt 225,281 tỷ đồng chiếm gần 64% tổng dư nợ
- Dư nợ trung, dài hạn đạt gần 149,597 tỷ đồng, chiếm trên 36% tổng dư nợ.
Với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể ngân hàng thì tổng dư nợ các khoản
cho vay đến 31/12/2002 đạt 533,617 tỷ đồng. Trong đó:
- Dư nợ ngắn hạn là 247,902 tỷ đồng, tăng 110% so với năm 2001.
- Dư nợ cho vay trung dài hạn là 233,480 tỷ đồng, tăng 162% so với năm 2001
và chiếm gần 44% trong tổng dư nợ.
Năm 2002 thì cơ cấu dư nợ đã có sự dịch chuyển đáng kể, đó là tỷ trọng dư nợ
cho vay trung dài hạn đã tăng rõ rệt, từ 36% tổng dư nợ năm 2001 lên 44% tổng dư
nợ năm 2002.
Tình hình cụ thể như sau:
Bảng 2: Cơ cấu dư nợ của Ngân hàng từ 2000-2002
Đơn vị: Tỉ đồng
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001 2002 Tốc
độ(%)
I. Theo loại hình cho vay 375.568 397.015 533.617 134
1. Cho vay ngắn hạn 263.014 255.281 247.902 110
1.1. Trong han 254.385 216.920 234.218 101
1.2.Quá hạn 8.629 8.361 13.684 164
2.Cho vay trung dài han 75.688 149.597 233.480 156
2.1. Trong han 68.461 142.064 227.278 160
2.2. Quá hạn 7.227 7.533 6.202 82
3. Cho vay vốn tài trợ 7.237 6.797 5.824 86
dân cư và xã hội. Năm 2002, hoạt động dịch vụ đạt 764 triệu đồng, chiếm 2% tổng
thu nhập.
3.3.2. Công tác tiền tệ- kho quỹ:
Xác định rõ vị trí và tầm quan trọng của công việc mà mình đảm nhiệm, mỗi
cán bộ phòng ngân quỹ đã tận tình, hoà nhã với khách hàng, thận trọng, chính xác
trong khâu kiểm đếm tiền để loại ra những tờ tiền hư hỏng, tiền không đủ tiêu
chuẩn quy định, xác định tiền thật, tiền giả thực hiện quy chế của ngành và làm
tăng niềm tin đối với khách hàng.
Khối lượng tiền mặt qua ngân hàng ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm
trước. Nếu như năm 2000 khối lượng thu tiền mặt đạt 663,7 tỷ đồng, chi tiền mặt
đạt 417,4 tỷ đồng thì đến năm 2001 tổng thu tiền mặt đạt 784,1 tỷ đồng tăng gấp
1,2 lần; tổng chi tiền mặt đạt 426,3tỷ đồng tăng gấp một lần so với năm 2000. Năm
2002 thì tổng thu tiền mặt đạt 845.415 tỷ đồng 107% so với 2001, tổng chi là
497,066 tỷ đồng tăng 116% so với năm 2001.
3.3.3. Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ:
Chi nhánh đã thực hiện tốt việc lập chương trình kiểm tra, kiểm toán và xét
khiếu tố theo các văn bản chỉ đạo của ngân hàng cấp trên. Tiến hành kiểm tra hồ sơ
tín dụng, bảo lãnh, chứng từ kế toán, phát hiện kịp thời những tồn tại để đóng góp
ý kiến với các bộ phận nghiệp vụ, giúp sự lãnh đạo, chỉ đạo sát thực hơn. Tích cực
tham gia cùng cán bộ tín dụng đôn đốc khách hàng trả nợ, xử lý nợ quá hạn, nợ
đọng, lãi treo...
3.3.4. Công tác tổ chức điều hành
Bộ máy tổ chức từng bước được kiện toàn. Quy chế quản lý điều hành từ ban
giám đốc đến các phòng, ban, bộ phận và nhân viên được xây dựng và thực hiện
một cách nghiêm túc. Cán bộ được sắp xếp, bố trí hợp lý đã góp phần tăng hiệu
quả lao động, tăng hiệu quả kinh doanh.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tạo
nên sự thống nhất cao, điều hành hoạt động của chi nhánh có kỷ luật, tạo nếp sống
văn minh trong công việc và sinh hoạt hàng ngày. Vai trò, trách nhiệm và quyền
năm. Trong 5 năm gần đây từ 1998 tổng nguồn vốn là 199,224 tỉ đồng; đến năm
2002 tổng nguồn vốn của ngân hàng là 581,081 tỉ đồng tăng gấp 2,9 lần so với năm
1998. Đây là sự tăng trưởng vượt bậc, là sự cố gắng nỗ lực lớn của tập thể cán bộ
công nhân viên của ngân hàng. Nguyên nhân của sự tăng trưởng cao của nguồn
vốn mà ngân hàng huy động là:
- Đa dạng hoá các hình thức huy động. Tận dụng được nguồn vốn trong nội bộ
Ngân hàng Công thương ngoài việc cố găng huy động nguồn vốn tại chỗ.
- Ngân hàng ngày càng có uy tín với khách hàng .