Khởi động Linux lần đầu - Pdf 63

Chương 3
Khởi động Linux lần đầu
Vạn sự khởi đầu nan – Trung Quốc
Sau khi cài đặt rất có thể bạn đọc sẽ không biết bước tiếp theo phải làm gì. Bật máy tính lên, đợi
hệ thống khởi động xong và ... ngồi nhìn. Phải làm gì để có thể tiếp tục làm việc với hệ thống Linux?
Sau khi làm việc xong thì tắt máy thế nào? Có những chương trình nào nên biết? Trong khi làm việc
có vấn đề nảy sinh thì tìm câu trả lời ở đâu? Trong chương này chúng ta sẽ tìm thấy câu trả lời cho
những câu hỏi trên.
3.1 Khởi động HĐH Linux
Như vậy là việc cài đặt Linux đã hoàn thành. Nếu người dùng đã cài đặt GRUB
làm trình khởi động, thì sau những dòng chữ BIOS thường đưa ra sẽ xuất hiện
màn hình dạng như trong hình 3.1.
Hình 3.1: Màn hình khởi động của GRUB
44 Khởi động Linux lần đầu
Nếu không chạm vào bàn phím, thì trên màn hình sẽ xuất hiện rất nhiều
thông báo mà tạm thời chúng ta sẽ không xem xét ý nghĩa của chúng
1
. Cuối cùng
xuất hiện màn hình cho phép người dùng đăng nhập vào hệ thống. Nếu bạn đã
chọn tự động chạy chế độ đồ hoạ thì hãy nhấn <Ctrl>+<Alt>+<F1> để thấy màn
hình đăng nhập như sau:
ThinhQuyen login:
Màn hình đăng nhập này xuất hiện trên máy của tác giả khi khởi động Debian
Linux. Tất nhiên màn hình đăng nhập của bạn đọc sẽ khác. Nếu có đủ kiên nhẫn
để đọc hết cuốn sách này, thì bạn sẽ biết cách thay đổi màn hình này, ví dụ đưa
ra những câu chào dạng “Xin chào! Hôm nay là 02 tháng 09 năm 2006. Hãy nhập
vào tên người dùng và mật khẩu”. Tuy nhiên bây giờ vẫn còn sớm để nói về vấn
đề này. Nếu khởi động bằng đĩa mềm thì quá trình cũng tương tự nhưng chậm
hơn một chút.
Nếu Linux không phải là hệ điều hành (HĐH) duy nhất trên máy tính, thì
trên màn hình khởi động GRUB sẽ xuất hiện danh sách các hệ điều hành tìm

Dòng này được gọi là dấu nhắc. Xuất hiện dấu nhắc có nghĩa là hệ thống đã
sẵn sàng tiếp nhận và thực hiện câu lệnh của người dùng. Ở thời điểm này nó có
nghĩa là bạn đã đăng nhập vào hệ thống một cách thành công. Trong MS-DOS
và Windows(TM) màn hình đen và dấu nhắc hệ thống thường được gọi là chế độ
dòng lệnh. Chúng ta sẽ gọi chế độ này là văn bản để phân biệt với chế độ đồ hoạ
của hệ thống X Window.
Trong ví dụ đưa ra ở trên dấu nhắc gồm tên người dùng (root), tên hệ thống
(ThinhQuyen) và thư mục hiện thời (/root). Sau này bạn có thể thay đổi dạng
của dấu nhắc này. Trong tất cả các ví dụ tiếp theo chúng ta sẽ sử dụng dấu nhắc
chỉ gồm có tên người dùng.
Trước khi đề nghị bạn đọc nhập vào câu lệnh đầu tiên, cần nói rằng trên bất
kỳ hệ thống UNIX nào kiểu chữ cũng đều đóng vai trò quan trọng, tức là có phân
biệt chữ hoa và chữ thường. Vì thế cần nhập vào tất cả các câu lệnh cũng như
tham số của chúng như chỉ ra trong ví dụ, kể cả kiểu chữ. Câu lệnh đầu tiên
chúng ta sẽ nhập vào là useradd. Sau tên của câu lệnh cần khoảng trắng và sau
đó là tên người dùng, ví dụ, nhimlui:
[root]# useradd nhimlui
Ngay sau khi nhấn phím <Enter> để chạy lệnh này, trên hệ thống sẽ biết
rằng người dùng nhimlui tồn tại (chúng ta nói, “mở tài khoản cho người dùng
nhimlui”). Tuy nhiên vẫn chưa thể vào hệ thống (thường nói, “đăng nhập”) dưới
tên người dùng này. Để hệ thống cho phép người dùng mới nhimlui làm việc,
cần phải “tạo” thêm cho người dùng này mật khẩu bằng câu lệnh:
[root]# passwd nhimlui
Sẽ xuất hiện dòng:
Changing password for nhimlui.
New Password:
Hãy nhập vào mật khẩu. Sau khi nhập xong, cũng nhấn phím <Enter>, hệ thống
sẽ hỏi nhập mật khẩu một lần nữa để kiểm tra.
Reenter New Password:
Đừng ngạc nhiên, bạn sẽ không nhìn thấy mật khẩu vào vì hệ thống sẽ không

Câu lệnh Mô tả ngắn gọn
whoami Thông báo tên đăng nhập của bạn
w hoặc who Cho biết những người dùng nào hiện đang làm việc trên
hệ thống
pwd Cho biết tên của thư mục hiện thời
ls -l Hiển thị danh sách tập tin và thư mục con của thư mục
hiện thời
cd tên_thư_mục Chuyển thư mục hiện thời đến tên_thư_mục
ps ax Hiển thị danh sách các tiến trình đang chạy
Hãy xem mô tả về những câu lệnh này bằng man.
Chúng ta sẽ không xem xét chi tiết danh sách tất cả những câu lệnh có thể
gặp. Vì thứ nhất, người dùng sẽ dần dần làm quen với chúng trong quá trình đọc
cuốn sách này và thực hành trên HĐH Linux của mình. Thứ hai, có thể đọc về
những câu lệnh chính trong bất kỳ cuốn sách nào nói về UNIX.
3.3 Console, terminal ảo và shell
Như vậy là bạn đọc đã có kinh nghiệm làm việc đầu tiên ở chế độ văn bản (hay
còn gọi là kênh giao tác “console”) của hệ thống Linux. Chúng ta sẽ còn gặp
3.3 Console, terminal ảo và shell 47
thường xuyên những khái niệm trình lệnh “terminal” và “console”, do đó tác giả
giải thích kỹ hơn những khái niệm này.
Khi hệ thống UNIX đầu tiên mới được tạo ra, máy tính còn rất to (mainframe)
và người dùng làm việc trên những máy tính này qua một hệ thống những giao
diện kế tiếp nhau dùng để kết nối các terminal ở xa. Terminal – thiết bị dùng
để giao tiếp giữa người dùng và máy tính, thường gồm màn hình và bàn phím.
Máy tính cá nhân của bạn đọc là máy tính thế hệ mới, do đó chắc sẽ không có
terminal ở xa nào kết nối tới, nhưng vẫn có bàn phím và màn hình thực hiện vai
trò terminal đối với người dùng. Ngoài ra thêm vào thành phần của terminal bây
giờ còn có chuột.
Mainframe có một terminal đặc biệt dành cho nhà quản trị (system adminis-
trator) hệ thống, được gọi là console. Console thường kết nối tới máy tính không

việc hiện thời của một người dùng, và hệ thống sẽ hiển thị lại trên terminal này
dấu mời đăng nhập (login:) mà bạn đọc đã thấy. Cũng có thể dừng phiên làm
việc bằng một trong hai câu lệnh logout hoặc exit.
Bây giờ khi đã biết cách bằng đầu và kết thúc phiên làm việc trên hệ thống,
xin bạn hãy thực hiện những lời khuyên ở trên, tức là vào hệ thống dưới tên người
48 Khởi động Linux lần đầu
dùng bình thường (không có quyền cao “cấp” của người dùng root). Hãy đóng tất
cả những phiên làm việc mà root mở ra, rồi vào hệ thống dưới tên người dùng
mới tạo ra.
Còn bây giờ cần nói vài dòng về hệ vỏ. Hệ vỏ hay shell (từ này thường không
dịch mà để nguyên tiếng Anh) là chương trình thực hiện việc giao tiếp của hệ
thống với người dùng. Chính shell nhận tất cả những câu lệnh mà người dùng
nhập vào từ bàn phím và tổ chức việc thực hiện những câu lệnh này. vì thế shell
còn có thể gọi là bộ xử lý lệnh (thuật ngữ quen thuộc đối với người dùng DOS).
Nói một cách chặt chẽ thì câu “hệ thống hiển thị dấu nhắc” là không đúng, vì
dấu nhắc này là do shell đưa ra để đợi người dùng nhập vào câu lệnh tiếp theo.
Mỗi lần người dùng nào đó vào hệ thống, câu lệnh login sẽ chạy cho người dùng
này một bộ xử lý lệnh – shell. Nếu bạn đọc đăng nhập vào hệ thống từ terminal
thứ hai dưới tên người dùng nhimlui (hoặc dưới tên người dùng bạn đã chọn),
thì hãy chú ý đến sự khác nhau trong dấu nhắc của hai người dùng root và
nhimlui. Dấu nhắc của người dùng root có ký tự # ở cuối, dấu nhắc của tất cả
những người dùng còn lại – ký tự $.
Không chỉ duy nhất lệnh login có khả năng chạy shell. Bạn chỉ cần nhập
vào lệnh bash (đây cũng là tên của chương trình hệ vỏ trên phần lớn các hệ
thống Linux) và như vậy là đã chạy một shell mới. Khi thoát khỏi hệ vỏ mới
này (bằng câu lệnh exit hoặc tổ hợp phím <Ctrl>+<D>), bạn sẽ quay lại hệ vỏ
ban đầu (hệ vỏ mà từ đó bạn đã chạy lệnh bash).
Hệ vỏ bash không chỉ là bộ xử lý lệnh mà còn là một ngôn ngữ lập trình
mạnh. Trong bash có đầy đủ các câu lệnh tích hợp (nội bộ) và các toán tử, và
ngoài ra còn có thể sử dụng các chương trình khác nằm trên đĩa làm câu lệnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status