Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KÝ KẾT
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đề chung về hợp đồng thương mại
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng thương mại
Trong nền kinh tế thị trường mỗi cá nhân, tổ chức đều tham gia nhiều mối
quan hệ xã hội phong phú và đa dạng.Cùng với sự phát triển kinh tế con người
tham gia vào các quan hệ thương mại.Các quan hệ thương mại thì ngày càng trở
lên phức tạp hơn tỷ lệ với bình phương tốc độ phát triển sản xuất.Trong các
quan hệ, giao dịch đó thì căn cứ chủ yếu đảm bảo nghĩa vụ, quyền lợi của các
bên đó là hợp đồng.
Hợp đồng được hiểu theo nghĩa rộng là: Sự thoả thuận giữa hai hay nhiều
bên về một vấn đề nhất định trong xã hội nhằm làm phát sinh, thay đổi hay
chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên. Tức là hợp đồng phải thể hiện
được sự tự do bày tỏ ý kiến của các bên tham gia quan hệ hợp đồng,các cá nhân,
tổ chức được tự do quyết định việc giao kết hợp đồng với ai,như thế nào, vào
thời điểm nào và thông qua hợp đồng các bên xác lập được đối tượng, nghĩa vụ
của chủ thể.
Luật Thương mại được Quốc hội thông qua ngay 14 tháng 6năm 2005
không có định nghĩa riêng về “hợp đồng thương mại” nhưng đề cập đến các loại
hợp đồng cụ thể trong hoạt động thương mại. Trong Chương 2 có quy định về
hợp đồng mua bán hàng hoá, Chương 3 quy định về hợp đồng dịch vụ.Hợp
đồng thương mại được hiểu là thoả thuận giữa các thương nhân (hoặc một bên
là thương nhân) về việc thực hiện một hay nhiều hành vi của hoạt động thương
mại nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Hợp đồng Thương mại có những đặc điểm của các hợp đồng trong hoạt
động kinh doanh nói chung và mang những đặc điểm riêng của các hoạt động
thương mại.
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng thương mại là thương nhân hoặc một bên
là thương nhân. Trong đó thương nhân là toỏ chức, cá nhân có đăng ký kinh
doanh và tiến hành hoạt động thương mại một cách thường xuyên, độc lập.
Thương nhân nước ngoài được đặt đại diện, chi nhánh tại
Đặc điểm
- Về chủ thể của hợp đồng: theo Luật Thương mại 2005, Hợp đồng
thương mại có thể giao kết giữa các chủ thể bao gồm tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân họat động thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Các
thương nhân này có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các
địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.
Ngoài ra, hợp đồng thương mại còn được ký kết giữa các tổ chức, cá nhân khác
hoạt đoọng có liên quan đến thương mại. Đối tượng của hợp đồng thương mại là
hàng hoá. Hàng hoá theo hợp đồng là hàng hoá được phép mua bán theo quy
định của pháp luật của nước bên mua và bên bán. Theo quy định hiện hành,
thương nhân có thể mua bán, xuất nhập khẩu tất cả các loại hàng hoá không phụ
thuộc vào ngành nghề được ghi trong giấy phép kinh doanh, trừ những hàng hoá
thuộc danh mục hàng cấm kinh doanh. Thương nhân chỉ đươc nhập khẩu những
hàng hoá theo ngành nghề, ngành hàng ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh. Đối với những hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá, dịch vụ thương mại
hạn chế kinh doanh; Danh mục hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh doanh có
điều kiện thì thương nhân phải thực hiện đầy đủ quy định hiện hành của pháp
luật về kinh doanh các hàng hoá đó trước khi tiến hành xuất khẩu, nhập khẩu
theo quy định của Điều 25 Luật Thương mại.
- Về nội dung của hợp đồng cần chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản
của một hợp đồng mua bán hàng hoá là: tên hàng; số lượng; quy cách chất
lượng; giá cả; phương thức thanh toán; địa điểm và thời hạn giao hàng. Ngoài ra
hợp đồng phải có thêm những điều khoản để đảm bảo quyền lợi cho các bên
không có chung một hệ thống pháp luật như điều khoản về chọn Luật áp dụng
hay cơ quan và nơi giải quyết tranh chấp.
- Về hình thức của hợp đồng, theo quy định tại Luật Thương mại hợp
đồng thương mại được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập
bằng hành vi cụ thể.
- Giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá: Hợp đồng có thể được ký kết
bằng các phương thức trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Không bảo đảm chất lượng như của mẫu hàng hóa mà bên bán đã gaio
cho bên mua;
- Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với
loại hàng hóa đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hóa
trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.
Bên bán khôn chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua
đã biết hoặc phải biết về những khuyết điểm đó. Trong thời hạn khiếu nại, bên
bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hóa có trước
thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được
phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm
khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên
vi phạm hợp đồng.
Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa
thuận, phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo
trình tự, thủ tục thỏa thuận và theo quy định của pháp luật. Bên mua vẫn phải
thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời
điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua trừ trương hợp mất mát, hư
hỏng do lỗi của người bán gây ra.
Bên mua cũng có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các
trường hợp: (1) Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền
tạm ngừng việc thanh toán; (2) Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang
là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tam ngừng thanh toán cho đến khi bên
bán khắc phục được sự không phù hợp đó.
Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
Quy định về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là một hoạt động
thương mại mới được bổ sung tại Luật Thương mại 2005. mua bán hàng hóa
qua Sở giao dịch hàng hóa là một hoạt động phổ biến trong thực tiễn thương
mại quốc tế nhằm bảo hiểm các rủi ro do việc biến động giá cả trên thị trường.
vì vậy, hoạt động này có tác động tích cực đến hoạt động mua bán hàng hóa mà
Trường hợp một dịch vụ có thể được hoàn thành khi khách hàng hoặc
bên cung ứng dịch vụ khácđáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cung ứng đó
không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều kiện đó
được đáp ứng.
Quyền và nghĩa vụ cụ thể của bên tiếp nhận dịch vụ
Khách hàng có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ trao đổi thông tin về
tiến độ công việc và các công việc có liên quan đến việc cung ứng dịch vụ, cung
ứng dịch vụ vào thời gian và các phương thức phù hợp; trong quá trình cung
ứng dịch vụ, khách hàng có quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải tuân thủ
những yêu cầu hợp lý của mình liên quan đến những thay đổi trong quá trình
cung ứng dịch vụ.
Các nghĩa vụ cơ bản của bên tiếp nhận dịch vụ theo Điều 85 của Luật TM
là:
- Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng;
- Cung ứng kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để việc
cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;
- Hợp tác trong tất cả các vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng dịch vụ
một cách thích hợp;
- Điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở
đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào trong trường hợp một dịch
vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành với bên cung ứng dịch vụ
khác.
1.1.3. Điều kiện, cơ cấu, thưỏng phạt trong một hợp đồng thương mại.
1.1.3.1. Nội dung các điều kiện của một hợp đồng thương mại
Điều kiện về tên hàng
Điều kiện nay bao gồm ghi tên thông thường, tên thương mại, tên khoa
học(áp dụng cho các loại hoá chất giống cây);ghi tên hàng kèm tên địa phương
sản xuất ra, nếu nơi đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm; ghi tên hàng hoá
kèm với quy cách chính của hàng hoá đó; ghi tên hàng kèm với tên nhà sản xuất
ra nó; ghi tên hàng kèm với công dụng của hàng, theo cách này nguời ta ghi
+ Phương pháp đo như thế nào? Phương pháp quy định trọng lượng (Trọng
lượng cả bì? trọng lượng tịnh? trọng lượng thương mại?).
+ Phải thốn nhất về phương tiện đo.
Điều kiện về giao hàng
- Quy định thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.
- Quy định về địa điểm giao nhận hàng: chính xác về toạ độ; mốc địa
điểm phải cố định; địa điểm ấy có khả năng thực hiện được.
- Quy định về phương thức giao hàng: Là những quy định về việc giao
nhận được tiến hành ở một nơi nào đó là giao nhận sơ bộ hoặc là giao nhận cuối
cùng
-Thông báo giao hàng: Thông thường trước khi giao hàng người bán
thông rằng hàng sẵn sàng để giao hàng hoặc ngày đem ra cảng để giao;người
mua báo cho người bán những nội dung những nội dung cần thiết để gửi hàng
hoặc về chi tiết về tàu đến nhận hàng. Sau khi giao hàng người bán phải thông
báo tình hình hàng đã giao, kết quả giao hàng.
Điều kiện giá cả
- Xác định đơn vị tiền tệ của giá cả
- Xác định mức giá của hàng hoá:Xác định giá trần (mức giá cao nhất mà
các bên có thể quyết định được); Xác định mức giá sàn (mức giá thấp nhất mà
các bên quyết định được); Xác định mức giá tạm tính
- Các điều kiện về giảm giá do việc mua nhiều hoặc do thời vụ. Từ đó
tính toán xem giảm giá bằng việc giảm giá đơn hay giảm giá luỹ tiến hay giảm
giá tặng thưởng.
Điều kiện về thanh toán
-Tiền thanh toán phải được tiến hành cụ thể bằng đồng tiện được ghi
trong hợp đồng. Đồng tiền thanh toán có thể trùng hoặc không trùng với đồng
tiền ghi giá. Nếu không trùng hợp thì phải quy định tỷ giá quy đổi.
- Thời hạn thanh toán có thể trả ngay, trả trước hay trả sau.
- Hình thức thanh toán: Tiền mặt, L\C, D\A, D\P, T\T,M\T, cheque...
- Bộ chứng từ thanh toán gồm: