CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM - Pdf 63

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG
ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
1.1. KHÁINIỆMCHUNGVỀĐẦUTƯNƯỚCNGOÀI
1.1.1. Một số quan niệm vềđầu tư nước ngoài
Ngày nay Đầu tư nước ngoài đã trở thành một chìa khoá vàng để mở cửa
nền kinh tế. Mặc dùĐầu tư nước ngoài (ĐTNN) được nghiên cứu và giải thích ở
nhiều giác độ khác nhau nhưng có một điểm chung được nhiều nhà nghiên cứu
thừa nhận đầu tư nước ngoài là một trong những giải pháp quan trọng để có thể
thúc đẩy và phát triển kinh tế của đất nước mình. Tuy nhiên trong thực tế cũng
có một số nước vì những lý do khác nhau đã tìm mọi cách hạn chế việc thu hút
vốn đầu tư nước ngoài vào nước mình và tăng cường bảo hộđầu tư trong nước.
Do vậy trên thế giới đã có những quan điểm khác nhau liên quan đến
lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
Quan điểm của các nước đang phát triển: Xuất phát từ chính sách bảo hộ
mậu dịch,bảo hộ sản xuất trong nước nên các nước này đang e ngại, lo sợ, hoài
nghi về việc tư tưởng nước ngoài xâm nhập vào đất nước mình, nên tìm mọi
cách để che chắn dòng đầu tư, ngăn cản dòng đầu tư từ nước ngoài vào nước
mình. Song song với việc ngăn cản dòng đầu tư nước ngoài vào nước mình các
nước này cũng tìm mọi cách che chắn bảo hộđầu tư trong nước trước sự tấn
công của đầu tư nước ngoài, tạo ra những rào cản chặt chẽđối với việc tiếp nhận
đầu tư nước ngoài.
việc thành lập các vốn cơ bản cóở nước ngoài. Còn trong Từđiển bách
khoa về kinh tế chính trị thìđầu tư nước ngoài là các chi phí cơ bản về phương
tiện, vật chất, lao động, tiền tệ nhằm tái sản xuất vốn cơ bản ở nước ngoài.
Trong Hiệp định mẫu về khuyến khích và bảo hộđầu tư Liên Xô còn quan niệm
đầu tư nước ngoài là tất cả các loại giá trị vật chất mà nhàđầu tưcủa nước này
đưa đến nhàđầu tư nước khác theo pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư nước
ngoài.
Quan điểm của các nước công nghiệp phát triển: Đầu tư nước ngoài đối
với họđã quá quen thuộc, nó không những có lợi cho nước đầu tư mà còn lợi
cho cả nước tiếp nhận đầu tư. Do vậy quan niệm vềđầu tư nước ngoài đúng đắn

hành của WTO còn chưa có một hiệp định chung vềđầu tư cho nên vấn đềđầu tư
nước ngoài được giải quyết trong các hiệp định khác nhau của WTO như hiệp
định Trims, hiệp định Trips, hiệp định Gatts... Sau vòng đàm phán DoHa tổ
chức thưong mại thế giới đang phấn đấu để xây dựng một hiệp định chung
nhiều bên vềđầu tư hi vọng rằng sẽ kết thúc đàm phán trong năm tới (2005).
1.1.2. Định nghĩa vềđầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật
vềđầu tư tại Việt nam
Theo quy định của luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 (khoản
1 Điều 2) đầu tư nước ngoài được hiểu làđầu tư trực tiếp nước ngoài tức là việc
các tổ chức, cá nhân nước ngoài, nhàđầu tư nước ngoài trực tiếp đầu tư vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp
nhận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập doanh nghiệp
liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam chỉđiều chỉnh những quan hệđầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt
Nam, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không điều chỉnh các quan hệđầu tư
gián tiếp như tín dụng quốc tế, viện trợ quốc tế và các quan hệđầu tư từ Việt
Nam ra nước ngoài.
Theo quy định của các hiệp định song phương vàđa phương về khuyến
khích và bảo hộđầu tư, đầu tư nước ngoài được hiểu là tất cả những giá trị vật
chất mà nhàđầu tưđưa vào từ nước ký kết này sang nước ký kết hữu quan theo
pháp luật nước sử dụng đầu tư. Các giá trị vật chất đó có thể làđộng sản, bất
động sản,tiền tệ và các cổ phiếu các hình thức tham gia cổ phần khác, các
quyền của nguyên đơn đối với các tài sản được góp để tạo ra các giá trị kinh tế
hoặc quyền được kiện đối với các dịch vụ có giá trị kinh tế, quyền tác giả,
quyền đối với các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu thương phẩm,
know-how, các giá trị vật chất khác được pháp luật nước nhận đầu tư công nhận
(biên bản kỳ họp thứ 3 của ban thường trực pháp lý thuộc ban thư ký SEV trang
19-20)
Đầu tư gián tiếp nước ngoài chủ yếu do các quốc gia và các tổ chức liên
chính phủ tiến hành, đầu tư gián tiếp không gắn với hoạt động kinh doanh sản

yếu tố này có liên quan mật thiết với nhau và tác động đến hoạt động của các tổ
chức, cá nhân nước ngoài tại một nước, các yếu tố này cấu thành môi trường
đầu tư. Môi trường đầu tư thuận lợi sẽ tạo điều kiện tốt cho cá nhân, tổ chức
nước ngoài hoạt động đầu tư tại nước đó, môi trường đầu tư thuận lợi là một
môi trường đầu tư trong đó bản thân từng yếu tố cấu thành nên môi trường đầu
tư phải thật hoàn chỉnh, thuận lợi và sự vận hành giữa các yếu tố này phải ăn
khớp với nhau để có thể tạo thành một chỉnh thể thống nhất, một chỉnh thể hoàn
hảo, hấp dẫn, thu hút, lôi cuốn các nhàđầu tư. Các yếu tố cấu thành phải có tính
đồng bộ, nhất quán với nhau, hỗ trợ nhau để có thể tạo thành một môi trường
đầu tư thuận lợi cho các nhàđầu tư. Sau đây sẽđi sâu phân tích một số yếu tố cơ
bản của môi trường đầu tư :
1.2.1 Sựổn định về chính trị
Đây là yêu cầu đầu tiên quan trọng nhất quyết định đến việc thu hút vốn
ĐTNN. Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tài nguyên phong phú, hạ tầng cơ sở
phát triển, nhân lực dồi dào và nhiều điều kiện thuận lợi khác cho nhàđầu tư mà
chính trị không ổn định thì không thể nào tạo ra được sự chuyển dịch tích cực
của các nguồn vốn ĐTNN. Khi tình hình chính trị không ổn định nhất là thể chế
chính trị không ổn định đi liền với nó là pháp luật thay đổi dẫn đến những mục
tiêu đặt ra cũng sẽ thay đổi cả phương thức thực hiện đểđạt được mục tiêu đó.
Những cái mà ngày hôm qua đã xây dựng được dưới chếđộchính trị cũđã có thể
trở thành lạc hậu thậm chí phải phá bỏ. Như thế sẽ thiệt hại về lợi ích trong đó
nhàĐTNN phải gánh chịu một phần vậy rõ ràng không đáp ứng được mục tiêu
lợi nhuận của nhàĐTNN. Chưa kểđến những trường hợp còn, mất hoặc thất
thoát vốn đầu tư nếu như chính quyền mới thực hiện quốc hữu hoá. Sự mất ổn
định thường biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau đi liền với nó là những hậu
quả phát sinh khác làm thiệt hại đến lợi ích của nhàđầu tư. Chẳng hạn một số
nước trong khu vực như: Inđônêxia, Philippin thường xuyên có xung đột vũ
trang, bắt cóc, khủng bố khiến các nhàđầu tư lo ngại hoặc CHLB Nga và một số
nước SNG thường xuyên có khủng bố và bất ổn về chính trị khiến các nhàđầu tư
không dám đầu tư mạnh vì lo ngại có nhiều rủi ro …

các trung tâm chính trị kinh tế quốc tế lớn. Chính việc mở rộng quan hệ ngoại
giao là tiền đề cho việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế trong đó có việc thu hút
ĐTNN. Sựổn định chính trị có mối quan hệ nhân qủa với sựổn định và an toàn
xã hội nó là nhân tố tác động trực tiếp đến lợi ích của nhàđầu tư, xã hội ổn định,
trật tự, có kỷ cương pháp luật làđiều kiện tối cần thiết cho các nhàđầu tư. Sựổn
định này có quan hệ với hàng loạt các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
đến pháp luật. Những năm vừa qua Việt Nam đã giữđược sựổn định chính trị
mà dư luận thế giới đánh giá rất cao, quan hệ ngoại giao được mở rộng và Việt
Nam càng ngày càng thu hút được nhiều ĐTNN tạo điều kiện cho sự phát triển
kinh tếđất nước.
1.2.2. Sự phát triển kinh tế – kỹ thuật
Cùng với yếu tốổn định chính trị, yếu tố phát triển kinh tế–kỹ thuật cũng
đóng vai trò quan trọng trong môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam . Sự
yếu kém của nền kinh tế Việt Nam là nguồn gốc dẫn đến những hậu quả bất lợi
về chính trị, xã hội, quân sự và các quan hệ quốc tế. Do vậy từĐại hội VI Đảng
và nhà nước ta quyết tâm đưa đất nước sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu,
đặt nhiệm vụ phát triển kinh tếở vị tríưu tiên hàng đầu của chiến lược. Mục tiêu
phấn đấu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Việt
Nam sẽ ngày càng phát triển và không ngừng cải thiện về kinh tế.
Cải thiện nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan, là một thách thức lớn đối
với Việt Nam, rõ ràng nước ta không thể cải thiện môi trường đầu tư khi nền
kinh tế thiếu thốn, chắp vá, không thể cạnh tranh trên trường quốc tế. Nước ta là
nước có vị tríđịa lý thuận lợi, được thiên nhiên ưu đãi, giàu tài nguyên thiên
nhiên, giàu tiềm năng, dân số gần 80 triệu người, nền văn hoá phong phúđậm đà
bản sắc riêng xuyên suốt bề dày lịch sử hàng nghìn năm đã hun đúc nên những
con người cần cù, ham học và sáng tạo. Tuy Việt Nam tài nguyên thiên nhiên
phong phú, tiềm năng dồi dào nhưng điều kiện kinh tế–kỹ thuật của đất nước
chưa đủ sức để có thể khai thác tốt, có hiệu quả cao tài nguyên thiên nhiên đó.
Ngày nay giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới đang diễn ra một cuộc
chạy đua quyết liệt nhằm cải thiện môi trường đầu tưđể hấp dẫn được nguồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status