Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Long Sơn
giai đoạn 2005 - 2007
2.1. Ngành Da - Giầy Việt Nam
2.1.1.Bối cảnh chung ngành Da - Giầy Việt Nam
Ngành Da - Giầy Việt Nam đã phát triển rất nhanh và được xem là một
trong những ngành công nghiệp chính đưa nền kinh tế nước ta phát triển. Da -
Giầy là một trong ba ngành đem lại kim ngạch xuất khẩu lớn nhất hiện nay sau
dầu thô và dệt may, chiếm trên 10% tổng kim ngạch xuất khẩu. Với khoảng 240
doanh nghiệp đang hoạt động, ngành Da - Giầy đang là một ngành xuất khẩu
mũi nhọn, thu hút khoảng 500.000 lao động hàng năm.
Hiện nay ngành Da - Giầy Việt Nam đứng thứ tư trong số 8 nước xuất
khẩu trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, Hồng Kông và Italia, thế nhưng 90%
sản phẩm của giầy da Việt Nam là hàng gia công.Kim ngạch xuất khẩu của
ngành Da - Giầy vẫn đạt mức tăng trưởng đều đặn hàng năm.Tuy nhiên theo
các chuyên gia, hiện nay ngành này đang phải đối mặt với bài toán hóc búa về
thương hiệu, chiến lược phát triển và mất dần lợi thế.
Các doanh nghiệp nội địa ngành Da - Giầy Việt Nam đang có ba bất lợi
lớn: Thứ nhất là không chủ động được nguồn nguyên liệu nên phụ thuộc vào
khách hàng và các nhà cung cấp nguyên liệu từ Trung Quốc, Đài Loan và Hàn
Quốc. Thứ hai là tiềm lực khoa học công nghệ chưa mạnh nên không có sức
cạnh tranh và doanh nghiệp phải làm gia công cho các Công ty liên doanh
nước ngoài là chủ yếu.Và cuối cùng là công tác xúc tiến thương mại kém, nên
hầu hết các doanh nghiệp sản xuất làm gia công ở tầng thứ 2, thứ 3.Như vậy,
cái gọi là sức cạnh tranh, tiềm lực mạnh của ngành Da - Giầy đều thuộc về các
Công ty lớn của Trung Quốc, Đài Loan…đặt tại Việt Nam.Theo Bộ Công
Thương, mỗi năm nước ta vẫn phải nhập 6 triệu feet vuông da thuộc. Nhà máy
thuộc da chưa đáp ứng được 10% nhu cầu và hiện chỉ hoạt động được 25% công
suất do thiếu nguyên liệu. Hàng năm, Việt Nam chỉ có thể cung cấp 5000 tấn da
bò và 100 tấn da trâu nhưng nguồn nguyên liệu nội địa không được tận dụng và
giá trị xuất khẩu thấp. 60% nguồn da này được xuất sang Trung Quốc và Thái
Lan, phần còn lại thì không đủ sản xuất để xuất khẩu. Ngoài ra trong số 30%
của người tiêu dùng trong các nước EU.
- Các nước EU mở rộng tạo thêm nhiều cơ hội để các doanh nghiệp Da –
Giầy Việt Nam xuất khẩu sang EU ( với chính sách đồng nhất của EU được
thực thi từ tháng 5/2004 ).
- Các lợi thế khác từ mối quan hệ Việt Nam – EU , giữa các doanh nghiệp Da
– Giầy Việt Nam với các nhà nhập khẩu EU ( quan hệ trực tiếp và thông qua
đối tác EU ).
2.1.1.2.Khó khăn, thách thức:
- Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU tăng trong thời gian qua. Hiện
tại chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu giầy dép của EU ( khi vượt qua
25%, EU sẽ có biện pháp mạnh để hạn chế ).
- Sức ép do Trung Quốc gia nhập WTO, hiện tại sản lượng giầy dép của Trung
Quốc tiêu thụ tại thị trường EU rất lớn với mẫu mã đa dạng, phong phú, giá
cả rất cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu nhanh ( tuy chất lượng không được đảm
bảo như giầy dép sản xuất tại Việt Nam. Khi chính thức Trung Quốc được
thực thi các quy định của WTO ( sau năm 2005 ), các lợi thế đã tăng lên
nhiều và các sản phẩm của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh gay gắt hơn.
- Những hạn chế do phương thức gia công, các doanh nghiệp Việt Nam ít có
quan hệ trực tiếp với các nhà nhập khẩu và người tiêu dùng EU để nắm bắt
xu hướng tiêu dùng, nhu cầu và những biến động của thị trường theo thời
gian nhằm có chiến lược kinh doanh thích hợp.
- Hạn chế về khả năng tự thiết kế, ra mẫu chào hàng, chủ động cân đối các
điều kiện cho sản xuất ( từ nguồn vật tư trong nước ) và khả năng đáp ứng
các yêu cầu của các nhà nhập khẩu ( về tiêu chuẩn sản phẩm, về môi trường
và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ).
- Các doanh nghiệp trong ngành sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nếu EU xem xét
không cho phép được tiếp tục hưởng ưu đãi thuế quan ( GSP ), đặc biệt các
đối tác sẽ di dời sản xuất tới các quốc gia có lợi thế xuất khẩu hơn trong khu
vực.
2.1.2. Tình hình xuất khẩu hàng Da – Giầy Việt Nam
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và yêu cầu thực hiện tốt các tiêu chuẩn
quốc tế...). Tuy nhiên, các biến động lớn nhất là thị trường và cơ cấu sản phẩm,
cụ thể:
Theo đề án phát triển ngành Da - Giầy Việt Nam giai đoạn 2002-2010 đã
được Bộ Công nghiệp( nay là Bộ Công Thương ) trình Chính phủ phê duyệt, để
đạt được mục tiêu trên, ngành Da - Giầy sẽ cần phải đầu tư khoảng 12.000 tỷ
đồng từ đây đến năm 2005 và 14.000 tỷ đồng giai đoạn 2005-2010. Với chiến
lược phát triển này, ngành Da - Giầy dự kiến sẽ sản xuất được khoảng 50%
nguyên liệu cho sản xuất giầy vào năm 2005 và tăng lên 80% vào năm 2010.
Các chuyên gia của ngành này cho biết, mặc dù có đến 90% sản lượng xuất
khẩu nhưng lợi nhuận thu về từ ngành Da - Giầy chỉ đạt ở mức 25% giá trị gia
tăng, vì ngành này chủ yếu vẫn gia công hàng cho các đối tác nước ngoài.
Nguyên vật liệu sản xuất trong ngành Da - Giầy (chiếm đến 80% giá trị gia
tăng của sản phẩm) hiện nay đang là khâu yếu nhất của ngành Da - Giầy Việt
Nam, trong đó đặc biệt là khâu chế biến da, nguyên liệu chính cho ngành sản
xuất giầy. Các loại giầy như giầy thể thao, giầy nữ là những mặt hàng Việt Nam
đang có lợi thế cạnh tranh do có thị trường tiêu thụ lớn.
Thị trường EU vẫn là thị trường xuất khẩu chính của các doanh nghiệp
trong ngành song có nhiều biến động do ảnh hưởng vụ kiện, sức mua và cơ cấu
sản phẩm thay đổi, đồng thời phụ thuộc nhiều vào các đối tác đặt hàng, hợp tác
sản xuất và sức ép về thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu và
số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng đáng kể. Chỉ
tính riêng trong 8 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ
tăng trưởng 37%. Thị trường Hoa kỳ được nhiều doanh nghiệp trong ngành
hướng tới, một phần do tác động vụ kiện, một phần do nhu cầu đa dạng, phong
phú, và quan hệ song phương được cải thiện, các doanh nghiệp chuyển hướng
nhằm đa dạng hoá thị trường, hạn chế rủi ro khi bị áp thuế phá giá cao tại thị
trường EU, đặc biệt tranh thủ các lợi thế về ưu đãi thuế quan, cải thiện quan hệ
thương mại khi VN chính thức gia nhập WTO. Tuy nhiên, để xâm nhập thị
trường Hoa kỳ, các doanh nghiệp cần tìm kiếm đối tác tin cậy, gắn với các kênh
2.2.1.Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn
2005 – 2007
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Long Sơn
được tổng hợp và đánh giá qua Bảng 2.2:
Bảng 2.2.Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần
Long Sơn giai đoạn 2005 – 2007
ĐVT: 1000VNĐ
Stt Các chỉ
tiêu
Thực hiện So sánh
2005 2006 2007 2006/2005 2007/2006
1 Doanh
thu thuần
28.922.489 27.318.568 41.315.412 0,94 1,51
2 Giá vốn
hàng bán
(CPSX)
24.665.639 23.741.178 34.154.054 0,96 1,44
3 Chi phí
quản lý
kinh
doanh
4.225.857 3.402.416 6.911.551 0,805 2,03
4 Lợi nhuận
từ hoạt
động kinh
doanh
30.993 174.973 249.807 5,76 1,43
5 Thuế
TNDN
năm 2006 tăng 404% so với năm 2005 tương ứng với số tiền tăng lên là
102.666.000VNĐ, năm 2007 tăng 43% so với năm 2006 tương ứng với số
tiền tăng lên là 53.880.000VNĐ.
Về hoạt động sản xuất kinh doanh mặt hàng giầy dép các loại thì doanh
thu thuần chiếm 7,69% so với tổng doanh thu thuần(2005), chiếm 93% so với
tổng doanh thu thuần( 2006), chiếm 73,5% so với tổng doanh thu thuần(2007).
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh giầy dép của Công ty chiếm 56,1%
năm 2005, 33,2% năm 2006 và 57,2% năm 2007 so với tổng lợi nhuận của
Công ty. Từ đó, ta có thể thấy doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động sản xuất
kinh doanh giầy dép chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu và lợi nhuận sau
thuế của Công ty. Tuy nhiên, Công ty chủ yếu nhận đặt hàng gia công các sản
phẩm giầy dép từ đối tác nước ngoài nên còn phụ thuộc nhiều vào việc nhập
nguyên, phụ liệu cho hoạt động sản xuất của Công ty và do đó lợi nhuận thu
được tuy đã tăng nhưng chưa cao, hoạt động sản xuất chưa thực sự ổn định.
Hoạt động xuất khẩu giầy dép các loại là hoạt động mang lại nguồn lợi
nhuận lớn, lợi nhuận sau thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh giầy dép chiếm
tới 56,12% ( năm 2005), 33,22% ( năm 2006 ), và chiếm 57,23% trong tổng lợi
nhuận sau thuế của Công ty.Dưới đây là bảng tình hình xuất khẩu của Công ty:
Bảng 2.3.Tình hình xuất khẩu giầy dép của Công ty cổ phần Long Sơn
giai đoạn 2005 - 2007
ĐVT: Đôi
Stt Thị trường tiêu thụ Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
1 Đức 1.155.032 903.318 1.042.843
2 Pháp 69.540 27.999 70.458
3 Bỉ 3.828 12.663 15.354
4 Canada 16.544 15.856 15.844
5 Hà Lan 161.071 110.328 81.980
6 Đan Mạch 12.837 22.517 2.706
7 Italia 264.937 205.191 170.844
8 Thụy Điển 74.592 74.881 144.924
2 Máy chặt Nhật 36 máy 80%
3 Máy bồi Hàn Quốc 1 bộ 88%
4 Máy nén khí Hàn Quốc 16 máy 91%
5 Máy gồ mũi Nhật 6 máy 87%
6 Máy ép Hàn Quốc 18 máy 86%
7 Máy in xoa Hàn Quốc 18 máy 90%
8 Máy mài Nhật 18 máy 87%
(Nguồn : Phòng Quản lý và điều hành sản xuất Công ty cổ phần Long Sơn)
Nhìn chung, máy móc thiết bị trong toàn Công ty cổ phần Long Sơn phần
lớn là được nâng cấp, sửa chữa và mua sắm mới, dây chuyền sản xuất được
đồng bộ hóa do đối tác Đài Loan cung cấp do đó đảm bảo cho hoạt động gia
công, sản xuất giầy dép xuất khẩu trong Công ty đạt hiệu quả cao nhất.
Tổng giá trị máy móc, thiết bị và khấu hao tài sản cố định được sử dụng
và hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Long Sơn được thống
kê trong Bảng 2.5:
Bảng 2.5.Tình hình tăng, giảm TSCĐ hữu hình của Công ty cổ phần Long Sơn tính
đến 31/12/2007
Khoản mục
Nhà cửa,
vật kiến trúc
Máy móc,
thiết bị
Phương tiện
vận tải,
vật truyền dẫn
Tổng cộng
1.Nguyên giá TSCĐ 26.779.991.161 1.370.508.300 1.534.469.000 29.684.968.461
2.Giá trị khấu hao 2.091.059.000 127.821.000 88.000.000 2.306.888.000
3.Giá trị còn lại của
TSCĐ hữu hình
(Nguồn : Phòng Kế toán – Tài vụ của Công ty cổ phần Long Sơn)
Từ bảng số liệu trên ta có biểu đồ thể hiện sự tương quan giữa giá trị tài
sản và giá trị nguồn vốn của Công ty cổ phần Long Sơn như sau:
Biểu đồ 2.3.Tài sản và nguồn vốn của Công ty cổ phần Long Sơn
2.2.2.2.Nguồn nhân lực
Lực lượng lao động trong Công ty cổ phần Long Sơn phần lớn là lao
động trẻ, nhiệt tình, sáng tạo nhưng nếu phân theo trình độ giáo dục, đào tạo ta
có thể nhận thấy Công ty còn thiếu một đội ngũ cán bộ quản lý chuyên nghiệp
và đội ngũ công nhân lành nghề. Cơ cấu lao động của Công ty được thống kê
trong Bảng 2.7:
Bảng 2.7.Tình hình lao động của Công ty cổ phần Long Sơn giai đoạn
2005 – 2007 phân theo trình độ giáo dục, đào tạo
ĐVT: Người
Trình độ
Năm
2005 2006 2007
Đại học, sau đại học 25 40 60
Cao đẳng, trung cấp 45 60 80
THPT 1070 1260 1380
(Nguồn: Phòng Quản lý nhân sự Công ty cổ phần Long Sơn)
Từ bảng số liệu về lao động của Công ty ta có Biểu 2.4 cho thấy cơ cấu
lao động của Công ty cổ phần Long Sơn thay đổi từ năm 2005 đến năm 2007
như sau:
Biểu 2.4.Biểu đồ cơ cấu lao động trong Công ty cổ phần Long Sơn
Theo bảng và biểu đồ trên ta thấy: Hện tại số nhân lực có trình độ đại
học, sau đại học trong Công ty cổ phần Long Sơn chỉ chiếm khoảng 4% trong
tổng số công nhân viên trong Công ty, số nhân lực có trình độ cao đẳng, trung
cấp cũng chỉ chiếm khoảng 6% trong khi đó số nhân lực có trình độ trung học
phổ thông thì chiếm tới 90% tổng số công nhân viên trong Công ty.