ĐĂC ĐIỂM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC LƯU THÔNG
PHÂN BÓN VÔ CƠ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM
1-/ TỔ CHỨC LƯU THÔNG TƯ LIỆU SẢN XUẤT TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1-/ Lưu thông và vị trí của lưu thông trong nền kinh tế quốc dân
Lưu thông là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, là cầu nối
trung gian một bên là sản xuất và phân phối và một bên là tiêu dùng.
Thực tế cho thấy, thích ứng với mỗi cơ chế quản lý kinh tế công tác lưu
thông được thực hiện bằng các hình thức khác nhau. Trong nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh, các cơ quan
hành chính, kinh tế can thiệp sâu vào nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình. Quan hệ
giữa các ngành là quan hệ dọc, được kế hoạch hoá bằng chế độ cấp phát và lao
động sản phẩm. Lưu thông trong thời kỳ này chủ yếu là giao nộp sản phẩm cho
các đơn vị theo địa chỉ và giá cả do Nhà nước định sẵn. Tóm lại trong nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung khi mà ba vấn đề trung tâm của nền kinh tế là: sản xuất
cái gì? sản xuất bằng cách nào? sản xuất cho ai? đều do Nhà nước quyết định thì
lưu thông hàng hoá chỉ là việc bán sản phẩm hàng hoá sản xuất ra theo kế hoạch
và giá cả được ấn định trước.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều có quyền tự chủ trong
sản xuất, kinh doanh hay nói khác đi các doanh nghiệp phải tự quyết định ba
vấn đề kinh tế trung tâm (sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho
ai?) thì lưu thông hàng hoá không thể đơn thuần là việc bán sản phẩm hàng hoá
ra theo kế hoạch và giá cả ấn định trước.
Muốn thực hiện được chức năng là cầu nối trung gian giữa sản xuất, phân
phối và tiêu dùng thì lưu thông hàng hoá phải được hiểu là một quá trình kinh tế
bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách
hàng, đặt hàng và tổ chức sản xuất, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến
bán hàng nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất. Quan niệm lưu thông hàng hoá
là quá trình tiêu thụ sản phẩm, Hiệp hội kế toán quốc tế định nghĩa: Tiêu thụ
trao đổi (lưu thông) là khâu trung gian, vì sản phẩm sau khi được sản xuất ra
muốn được tiêu dùng phải qua phân phối và trao đổi. Có thể thấy rõ vị trí của
lưu thông trong quá trình tái sản xuất xã hội theo sơ đồ dưới đây.
Giữa các khâu của quá trình tái sản xuất có mối quan hệ quyết định và tác
động thúc đẩy lẫn nhau.
+ Xét hình thức bên ngoài, mối quan hệ này thể hiện, trong quá trình sản
xuất, các thành viên của xã hội thích nghi (tạo ra, cải biến) các sản phẩm của tự
nhiên cho phù hợp với yêu cầu của con người; phân phối xác định tỷ lệ mỗi cá
nhân tham gia vào sản phẩm đã sản xuất ra.
+ Lưu thông đem lại cho cá nhân những sản phẩm nhất định mà anh ta
muốn dùng phần nhận được do phân phối để trao đổi (lưu thông); cuối cùng,
trong tiêu dùng các sản phẩm trở thành đối tượng tiêu dùng và đối tượng của
việc chiếm hữu cá nhân. Sản xuất sáng tạo ra những sản phẩm thích hợp với các
nhu cầu, phân phối phân chia các vật đo ra theo những quy luật xã hội; trao đổi
(lưu thông) lại phân phối lại cái đã được phân phối theo những nhu cầu cá biệt;
cuối cùng trong tiêu dùng, sản phẩm vượt ra khỏi vận động xã hội đó, trực tiếp
trở thành đối tượng phục vụ cho một nhu cầu cá biệt và thoả mãn nhu cầu đó
trong quá trình tiêu dùng. Như vậy sản xuất thể hiện ra là điểm xuất phát, tiêu
dùng là điểm cuối cùng, phân phối trao đổi là điểm trung gian. Điểm trung gian
này lại có hai yếu tố và phân phối được coi là yếu tố xuất phát từ xã hội và trao
đổi là yếu tố xuất phát từ cá nhân.
+ Đi sâu phân tích mối quan hệ giữa các khâu của quá trình sản xuất, ta
thấy sản xuất luôn là cái quyết định, quy định đối với phân phối, trao đổi và tiêu
dùng. Song phân phối, trao đổi và tiêu dùng không phải chỉ đơn thuần chịu sự
quy định một cách thụ động mà nó còn có tác động trở lại trong mối quan hệ
biện chứng.
* Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Sản xuất cũng trực tiếp là tiêu
dùng- Tiêu dùng về hai mặt, chủ quan và khách quan: cá nhân phát triển năng
lực của mình trong quá trình sản xuất, đồng thời cũng tiêu phí, tiêu dùng các
năng lực đó trong hành vi sản xuất, cũng giống như hành vi sinh con đẻ cái là sự
phương thức tiêu dùng, làm nảy ra ở người tiêu dùng các nhu cầu của đối tượng
là sản phẩm do sản xuất tạo ra, do đó sản xuất sản xuất ra đối tượng tiêu dùng,
phương thức tiêu dùng và sự kích thích tiêu dùng.
* Quan hệ giữa sản xuất và phân phối: cơ cấu của sự phân phối hoàn toàn
do cơ cấu của sản xuất quy định. Bản thân sự phân phối là sản vật của sản xuất,
không chỉ về mặt nội dung vì người ta có thể đem phân phối những kết quả của
sản xuất thôi mà về cả hình thức, vì phương thức nhất định của việc tham gia
vào sản xuất quy định hình thái đặc thù của phân phối, hình thái theo đó người
ta tham gia vào sự phân phối. Tuy nhiên phân phối có tính độc lập tương đối đối
với sản xuất. Bởi vì phân phối biểu hiện thành phân phối sản phẩm và do đó
hình như nó rất cách xa đối với sản xuất và tựa hồ như độc lập với sản xuất.
Nhưng trước khi là phân phối sản phẩm thì phân phối là phân phối những công
cụ sản xuất và phân phối các thành viên xã hội theo những loại sản xuất khác
nhau, cái đó tức là một sự quy định khác của mối quan hệ trên (việc các cá nhân
lệ thuộc vào những quan hệ sản xuất nhất định). Rõ ràng phân phối sản phẩm
chỉ là kết quả của sự phân phối đó mà thôi, sự phân phối này đã bao hàm trong
bản thân quá trình sản xuất và quyết định cơ cấu sản xuất. Như vậy, sản xuất
phải xuất phát từ một sự phân phối nhất định về công cụ sản xuất, nên theo ý
nghĩa đó thì phân phối ít nhất của phải có trước sản xuất, là tiền đề của sản xuất
và do đó quyết định sản xuất.
* Quan hệ giữa sản xuất và trao đổi: bản thân lưu thông chỉ là một yếu tố
nhất định của trao đổi, hoặc là của trao đổi xét trên toàn bộ của nó. Vì trao đổi
chỉ là một yếu tố trung gian, một mặt là giữa sản xuất và phân phối do sản xuất
quyết định, và mặt khác là với tiêu dùng, còn bản thân phân phối lại thể hiện ra
một yếu tố của sản xuất, nên rõ ràng là trao đổi bao hàm trong sản xuất với tư
cách là yếu tố của sản xuất. Trước hết, sự trao đổi hoạt động và năng lực được
thể hiện trong bản thân sản xuất là một bộ phận trực tiếp của sản xuất và là mặt
căn bản của sản xuất; Thứ hai, đối với trao đổi sản phẩm sự trao đổi là phương
tiện để sản xuất ra thành phẩm nhằm phục vụ cho sự tiêu dùng trực tiếp. Trong
phạm vi đó, bản thân trao đổi là một hành vi bao gồm ở trong sản xuất; Thứ ba,
Lưu thông tư liệu sản xuất xảy ra ở (1) tức là nối sản xuất với sản xuất.
Mặt khác K.Mác đã chứng minh luận đề: Lưu thông không tạo ra giá trị hàng
hoá. Nhưng trong (1) Ta thấy có sức xuất hiện của tiền (T) tức là phải có sự trao
đổi thông qua hình thái tiền tệ. Xã hội phát triển hình thành một bộ phận mới đó
là những tổ chức và cá nhân chuyên kinh doanh trong lĩnh vực lưu thông. Trong
đó có kinh doanh tư liệu sản xuất. Lĩnh vực hoạt động này ngày càng phát triển
và trong sự phát triển đa dạng đó nảy sinh những hình thức kinh doanh gây thiệt
hại cho sản xuất và đời sống xã hội, mà trước tiên là nó gây thiệt hại cho chính
những người làm lưu thông thực sự và chân chính.
Từ sơ đồ sau:
TLSX- SLĐ Sản xuất TLTD
Pk A P
k+1
TLSX.
Trong đó giả sử nền kinh tế sản xuất n loại hàng hoá .
Gọi: P
k
= (P
jk
) là giá hàng tại chu kỳ sản xuất thứ k của loại hàng hoá J
(J = 1,n)
A = (a
ij
)nxn - là ma trận chi phí
Để đơn giản giả định tiêu dùng SLĐ khi tính chi phí sản xuất như TLTD
PjaijPi
n
j
∑
=
A
t
P
0.
Trong điều kiện bình thường ta có thể chọn α sao cho P
t
hội tụ đến P, với
một giá gốc nhất định. Và công thức P = A.P chính là cơ sở để giải thích nguồn
gốc của lợi nhuận- đó là sức lao động, là chi phí lao động sống. Đương nhiên
không phải vì thế mà lao động vật hoá không có vai trò quan trọng, đôi khi là
quyết định trong việc tạo ra lợi nhuận. Vì vậy vấn đề đặt ra là: Muốn thực hiện
đúng bản chất của lưu thông thì bất kỳ một loại tư liệu sản xuất nào cũng cần
xác định một con đường qua lưu thông ngắn nhất, có thể hiểu theo nghĩa chi phí
chứ không chỉ có ý nghĩa địa lý. Thường thì lưu thông hàng hoá nói chung hay
tư liệu sản xuất nói riêng của các nước phát triển hay chưa phát triển, thì các tổ
chức, cá nhân hay các doanh nghiệp thực hiện công tác lưu thông cũng không
thể bán rẻ và không chịu mua rẻ.
Ở Việt Nam trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung các hàng hoá mua
bán trên thị trường chưa phải đã vận động theo quy luật Cung- cầu, nhiều yếu
tố của sản xuất chưa trở thành hàng hoá, chẳng hạn: đất đai, sức lao động, phân
bón, xăng dầu, chất xám, tiền tệ... Nó là nền kinh tế với nhiều hoạt động kinh tế
trong xã hội chưa hoàn toàn theo đúng các quy luật của nền kinh tế, trong đó
việc mua bán tư liệu sản xuất là một trường hợp điển hình. Trong thời kỳ này
lưu thông tư liệu sản xuất ở nước ta được đánh giá là: Lộn xộn, vòng vèo, tính
xã hội thấp.
Điều đó thể hiện ở chỗ người mua của người làm lưu thông không phải là
người sản xuất tức là xảy ra hiện tượng lưu thông -lưu thông ... sản xuất, trong
đó mục đích của lưu thông về mặt xã hội hầu như không phải là sản xuất dù
người mua là người sản xuất. Từ đó dẫn đến tình trạng lộn xộn kinh doanh theo
kiểu “cò mồi, chỉ trỏ”. Mặt khác tạo nên nhu cầu giả tạo hạn chế sức sản xuất,
T
D
t
L C
T
T
0
t
D
t
: Doanh thu
T: Thuế
C: Chi phí (giả định đơn giản)
Khi đó nếu ta thấy không có sự can thiệp đủ mạnh thì sau chu kỳ(t), kinh
doanh bắt đầu thua lỗ thậm chí phá sản điều đó dẫn đến một nghịch lý đối với
người kinh doanh tư liệu sản xuất chuyên nghiệp, chuyên doanh là càng buôn
càng lỗ chứ không phải buôn gì cũng lãi. Vậy lãi vào tay ai-đó là những nhà
kinh doanh thương mại cấp 2, cấp 3... thậm chí không cần vốn mà chỉ bằng vay
ngân hàng hoặc môi giới - đó là những nhà làm lưu thông kiểu “cò mồi, chỉ trỏ”
Những người tham gia phá trật tự lưu thông này thu lãi. Về mặt lý thuyết lãi còn
được chi vào thuế ngân sách nhà nước, song thực tế không hẳn như vậy. Trong
khi đó rõ ràng thị trường khu vực cũng như thị trường thế giới thông thường có
tính ổn định theo thời kỳ, như vậy một đất nước quá nhiều tư liệu sản xuất như
nước ta thời kỳ này, thì giá tư liệu sản xuất trên thị trường thực chất phụ thuộc
vào giá nhập khẩu. Giá các loại tư liệu sản xuất không trực tiếp phụ thuộc vào
sức sản xuất trong nước mà phụ thuộc vào giá chuyển đổi đồng ngoại tệ mạnh
và các chính sách xuất nhập khẩu. Ở đây lại xuất hiện một nguy cơ cho người
sản xuất cũng như người chuyên kinh doanh tư liệu sản xuất, là làm cho quá
trình thua lỗ vừa kéo dài vừa đột biến không dự báo được.
Trên cơ sở những phân tích đối với hoạt động lưu thông TLSX trong nền
1.3.1. Kinh tế thị trường và vai trò của lưu thông.
Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, ở đó
sản xuất cái gì, như thế nào, cho ai đều được quyết định thông qua thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế của các cá nhân, các
doanh nghiệp đều biểu hiện qua mua bán hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thái
độ cư xử của các thành viên tham gia thị trưòng là hướng vào tìm kiếm lợi ích
của mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
Kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường, đến lượt nó, cơ chế thị
trường tác động dưới sự chi phối của các quy luật thị trường trong môi trường
cạnh tranh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Nhân tố cơ bản của thị trường, cơ chế thị trường là hàng hoá tiền tệ,
người bán, người mua, từ đó hình thành mối quan hệ cơ bản của cơ chế thị
trường là quan hệ cung cầu. Về bản chất, cơ chế thị trường là cơ chế giá cả tự
do. Cơ chế này có một số đặc trưng sau:
-Các vấn đề liên quan đến phân bổ, sử dụng các nguồn tài nguyên, lao
động, vốn được quyết định một cách khách quan thông qua hoạt động của các
quy luật kinh tế.
-Hầu như tất cả các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế đều
được tiền tệ hoá.
- Lợi nhuận là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế và lợi ích kinh tế. Cơ chế thị trường dùng lỗ lãi để quyết định các vấn đề
kinh tế cơ bản.
- Cạnh tranh là môi trường hoạt động của cơ chế thị trường, là yếu tố thúc
đẩy tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất lao động và hiệu quả của sản xuất.
- Cơ chế thị trường không phải là một mớ hỗn độn mà là một trật tự kinh
tế, trật tự này được hình thành bởi sự tác động của hệ thống quy luật của thị
trường.Thông qua sự hoạt động của các quy luật kinh tế, sự linh hoạt của hệ
thống giá cả, nền kinh tế thị trường có khả năng duy trì được sự cân bằng của
sức cung và sức cầu về hàng hoá, dịch vụ, ít khi gây ra sự khan hiếm và thiếu
thốn hàng hoá.
cấu thành lưu thông. Do mâu thuẫn bên trong của quá trình trao đổi sản sinh ra
tiền tệ, cho nên trong lưu thông, một mặt là hiện tượng biểu hiện trong lưu
thông của một số lượng lớn hàng hoá, mặt khác là sự vận động của tiền tệ
ngược lại với phương hướng lưu thông hàng hoá. Sự tổng hợp các vận động của
tiền tệ trên phương hướng khác nhau đã hình thành lưu thông tiền tệ. Vì vậy quá
trình lưu thông trên thực tế là sự thống nhất của lưu thông hàng hoá và sự lưu
thông tiều tệ. Lưu thông hàng hoá quyết định lưu thông tiền tệ, nhưng lưu thông
tiền tệ lại có tác động ngược lại đến lưu thông hàng hoá nó là chất kích thích lưu
thông hàng hoá, thậm chí sự vận động của tiền tệ còn có tác dụng hướng hàng
hoá chảy về đâu.
Như vậy, lưu thông là một quá trình khách quan có liên hệ với sự vận
động của giá trị sản phẩm xã hội. Lưu thông là sự thay đổi hình thức giá trị của
hàng hoá. Dù là những hàng hoá dùng cho tiêu dùng sản xuất tiêu dùng cá nhân
thì cũng như thế. Bản chất của quá trình lưu thông hàng hoá là mua và bán
những hàng hoá này hay hàng hoá kia được thực hiện khác nhau. Điều này là do
đặc tính về công dụng của những hàng hoá ấy quyết định. Điều cần nhấn mạnh
ở đây là lưu thông hàng hoá là một quá trình thống nhất không phụ thuộc vào
công dụng của hàng hoá nhưng các hình thức tổ chức để chuyển đưa đến tay
người tiêu dùng lại khác nhau.
Vai trò của lưu thông trong nền kinh tế thị trường: Dưới góc độ vi mô, lưu
thông đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Khi quá trình lưu thông kết thúc, tức là sản phẩm của doanh nghiệp được
tiêu thụ, là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào
đó. Sức tiêu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp thể hiện ở mức bán ra, uy tín
của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu
dùng và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác lưu thông hàng
hoá phản ánh đầy đủ điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Lưu thông hàng hoá gắn giữa người sản xuất với người tiêu dùng, nó giúp
cho các nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu của
khách hàng.
gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá, thị trường là trung tâm của toàn bộ
quá trình sản xuất và tái sản xuất: Cần sản xuất những hàng hoá gì? với số
lượng bao nhiêu? cần có những dịch vụ gì? đều phải xuất phát từ nhu cầu của
thị trường. Qua thị trường nhu cầu của cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng
được thoả mãn. Người sản xuất cần bán hàng, chuyển tiền thành những giá trị
sử dụng khác nhau.
Như vậy, ta có thể thấy rõ thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi,
mua bán hàng hoá, thị trường có tính không gian và thời gian, theo nghĩa này thị
trường có thể là các chợ, các địa danh hoặc các khu vực tiêu thụ phân theo mặt
hàng, ngành hàng.
Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, lượng sản phẩm hàng hoá lưu
thông trên thị trường ngày càng dồi dào và phong phú, thị trường được mở rộng.
Thị trường hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn, nó là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông
qua tiền tệ làm môi giới. Tại đây người mua và người bán tác động qua lại lẫn
nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường.
Nếu nói đến thị trường, trước hết phải nói tới các nhân tố cơ bản cấu
thành thị trường, đó là hàng và tiền, người mua và người bán, từ đó hình thành
các quan hệ hàng hoá tiền tệ, mua-bán, cung-cầu và giá cả hàng hoá.
Nói tới thị trường là phải nói tới cạnh tranh tự do, ở đây luôn diến ra sự
ganh đua, cọ sát lẫn nhau giữa các thành viên tham gia thị trường để giành phần
có lợi cho mình, động lực của cạnh tranh là lợi nhuận. Với động lực đó trên thị
trường khó tránh khỏi sự lừa gạt và gian lận.
Nói tới thị trường là nói tới tự do kinh doanh tự do mua bán, thuận mua vừa
bán, tự do giao dịch. Quan hệ giữa các chủ thể trên thị trường là bình đẳng.
Theo lý thuyết hiện đại về kinh tế thị trường có thể chia thị trường thành
2 loại:
Một là: Thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ, ở thị trường này, người ta
mua bán những tư liệu sinh hoạt và dịch vụ như: lương thực, thực phẩm, vải,
quần áo, các phương tiện sinh hoạt gia đình, thuốc chữa bệnh...vv. Những hàng
hoá tiêu dùng ngày càng nhiều theo đà tăng của sự phát triển kinh tế hàng hoá.
chất lượng sản phẩm. Thị trường kiểm nghiệm tính phù hợp của sản xuất đối
với tiêu dùng xã hội. Trên ý nghĩa đó có thể nói thị trường điều tiết sản xuất
kinh doanh và là động lực của sản xuất kinh doanh. Thông qua thị trường, hoạt
động kinh tế của các doanh nghiệp ngày càng năng động, sáng tạo hơn, hiệu
quả của sản xuất kinh doanh ngày càng được nâng cao.
Thị trường còn là nơi cuối cùng để chuyển những lao động tư nhân, lao
động cá biệt thành lao động xã hội.
Cung và cầu là khái quát hoá hai lực lượng cơ bản của thị trường là người
bán và người mua, người sản xuất và người tiêu dùng. Quan hệ cung cầu chỉ ra
rằng, mặc dù giá trị xã hội hay giá trị thị trường đã được hình thành trong quá
trình sản xuất song nó có thể được thực hiện cao hơn, thấp hơn hay ngang bằng
tuỳ theo tương quan cung cầu bằng một mức giá cụ thể. Quan hệ cung cầu ảnh
hưởng trực tiếp đến từng hành vi trao đổi. Trên thị trường, người sản xuất đứng
về phía cung và người tiêu dùng đứng về phía cầu gặp nhau để xác định giá cả và
khối lượng hàng hoá như bán ra, mua vào. Vì vậy cung- cầu giữ vai trò quan
trọng đối với việc hình giá cả thị trường và xác định lượng mua vào.
Cầu là số lượng hàng hoá và người tiêu dùng muốn mua và có khả năng
mua tại các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian nhất định(Các yếu tố
khác không đổi). Có 2 khái niệm liên quan là cầu cá nhân và cầu thị trường. Cầu
thị trường là tổng hợp của tất cả các cầu cá nhân lại với nhau theo chiều ngang.
Quy luật cầu được biểu hiện số lượng hàng hoá được cầu trong khoảng thời
gian đã cho tăng lên khi giá cả của hàng hoá giảm xuống và ngược lại. Quy luật
cầu tương ứng với trực giác, khi giá cả giảm xuống, người tiêu dùng đã cho có
thể sẵn sàng và có khả năng mua một lượng nhiều hơn và các người tiêu dùng
mới cũng sẵn sàng và có khả năng xâm nhập thị trường.
Giá cả của chính hàng hoá nào đó là yếu tố quan trọng, song không phải
là yếu tố duy nhất quyết định lượng hàng cần mua. Quyết định lượng nhu cầu
còn có nhiều yếu tố khác.Trên thực tế giá cả còn phụ thuộc vào các biến số như:
Thu nhập của người mua; giá cả của hàng hoá và dịch vụ có liên quan; dự đoán
về sự thay đổi của chính hàng hoá đó trong tương lai; thị hiếu của người tiêu
phân phối, một bên là trao đổi. Các khâu của quá trình tái sản xuất, có mối quan
hệ mật thiết với nhau trong đó, sản xuất là điểm xuất phát, là khâu quyết định
quá trình tái sản xuất. Do vậy, tổ chức lưu thông không thể đơn thuần là tổ chức
trao đổi hàng hoá mà là một quá trình có liên quan tới tất cả các khâu của quá
trình tái sản xuất. Vì vậy yêu cầu đặt ra là:
+ Muốn giải quyết đúng đắn các vấn đề của tổ chức lưu thông tư liệu sản
xuất thì phải đặt nó trong tổng thể nền kinh tế, trong mối quan hệ chặt chẽ với
sản xuất và đời sống. Tổ chức lưu thông tư liệu sản xuất phải dựa vào sản xuất,
chủ động thúc đẩy sản xuất phát triển. Đặt lưu thông tư liệu sản xuất trong tổng
thể nền kinh tế có nghĩa là đặt nó như những bộ phận hữu cơ của quá trình tái
sản xuất thống nhất bao gồm các khâu: sản xuất, phân phối-lưu thông, tiêu
dùng. Trong quá trình tái sản xuất, sản xuất là cái gốc có tác dụng quyết định
nhất vì chỉ có sản xuất mới tạo ra của cải vật chất để phân phối, lưu thông và
đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng. Tiêu dùng là mục đích của sản xuất cũng như
của phân khối, lưu thông tư liệu sản xuất tiêu dùng bao gồm tiêu dùng cho sản
xuất, đời sống, quốc phòng,... nó gắn liền với việc thực hiện ba nhiệm vụ cơ
bản, còn phân phối lưu thông tư liệu sản xuất là những khâu trung gian nối liền
sản xuất với tiêu dùng cho nên công tác lưu thông tư liệu sản xuất phải lấy trình
độ sản xuất, phải lấy khối lượng sản phẩm đã sản xuất ra làm điểm xuất phát;
giữa khả năng và nhu cầu, bảo đảm quá trình tái sản xuất thông suốt và không
ngừng mở rộng trên cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ cách mạng.
+ Muốn giải quyết đúng vấn đề tổ chức lưu thông tư liệu sản xuất phải
đặt nó trong toàn bộ công tác cải tiến quản lý của Nhà nước: lưu thông tư liệu
sản xuất là một khâu cơ bản của quá trình tái sản xuất, một bộ phận của nền
kinh tế quốc dân, cải tiến công tác tổ chức lưu thông tư liệu sản xuất phải đặt
trong toàn bộ công tác cải tiến quản lý kinh tế. Hệ thống quản lý kinh tế ở nước
ta phải lấy kế hoạch hoá làm trung tâm, đồng thời sử dụng đúng đắn quan hệ
hàng hoá tiền tệ, các đòn bẩy kinh tế, thực hiện hạch toán kinh tế. Hoạt động
lưu thông tư liệu sản xuất biểu hiện cụ thể chủ yếu dưới hình thức quan hệ hàng
hoá - tiền tệ (giá cả tiền lương, tài chính, thương nghiệp, thương mại,...) song
căn cứ vào tình hình và nhiệm vụ của từng thời kỳ. Trong điều kiện hiện nay
phải chú ý hơn nữa đến nhu cầu về đời sống của người lao động, người sản
xuất, vì từ lao động và sản xuất mà tạo ra mọi của cải và thu nhập quốc dân để
phân phối cho ba lợi ích. Xét về bản chất ba lợi ích là thống nhất, song cũng có
những mặt mâu thuẫn, lưu thông tư liệu sản xuất, khắc phục những mặt mâu
thuẫn đấy, bảo đảm cho ba lợi ích đó kết hợp hài hoà với nhau tạo ra động lực
thúc đẩy người lao động, các đơn vị cơ sở, các ngành và địa phương chăm lo
đẩy mạnh sản xuất, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh tế.
+ Lưu thông tư liệu sản xuất phải bảo đảm tốt mối quan hệ giữa công
nghiệp với nông nghiệp, củng cố liên minh công - nông. Kết hợp công nghiệp
với nông nghiệp, xây dựng cơ cấu kinh tế là một nội dung cơ bản của chúng ta
hiện nay. Để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ đó, trong lĩnh vực lưu thông
tư liệu sản xuất phải có các chính sách và phương thức đúng đắn để tổ chức và
trao đổi sản phẩm giữa Nhà nước và nông dân, thực hiện sự viện trợ tài chính và
kỹ thuật cho nông nghiệp. Huy động nguồn tích luỹ từ nông nghiệp cho công
nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân. Chính sách lưu thông tư liệu sản xuất phải
thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tăng nhanh sản phẩm hàng hoá phục
vụ đời sống, và tạo nguyên liệu cho công nghiệp, tăng xuất khẩu.
1.3.4. Nhà nước và tổ chức lưu thông tư liệu sản xuất tư liệu sản xuất
trong nền kinh tế thị trường
Ưu điểm của cơ chế thị trường:
+ Cơ chế thị trường có khả năng tự động điều tiết nền sản xuất xã hội, tự
động phân bổ các nguồn tài nguyên vào các khu vực, các ngành kinh tế mà
không cần bất cứ sự điều khiển từ trung tâm nào.
+ Cơ chế thị trường, với sự dẫn dắt của động lực lợi nhuận có thể phát
huy cao nhất tính năng động, tài năng của mỗi người. Kích thích áp dụng kỹ
thuật mới, giảm chi phí sản xuất, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn
lực... thúc đẩy LLSX phát triển, tăng trưởng kinh tế cả theo chiều rộng và chiều
sâu.
+ Cơ chế thị trường có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của con
kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội như có mức sinh lợi thấp, thời gian thu hồi
vốn chậm thường không được giới kinh doanh chú ý đầu tư phát triển,
Qua sự phân tích trên cho thấy, nền kinh tế thị trường không phải là một
hệ thống được tổ chức hài hoà mà bản thân hệ thống đó chứa đựng rất nhiều
nhược điểm. Những khuyết tật của cơ chế thị trường cần phải được khắc phục