Lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ 1945-1954 - Pdf 63

Chơng III
Đảnh lãnh đạo cuộc kháng chiến
chống thực dân pháp và can thiệp mỹ
(1945 - 1954)
I. Lãnh đạo xây dựng và bảo vệ chính quyền, chuẩn bị
kháng chiến trong cả nớc (1945 - 1946)
1. Tình thế ngàn cân treo sợi tóc của chính quyền cách mạng và chủ
trơng kháng chiến, kiến quốc của Đảng
Sau Cách mạng Tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới đợc thành lập đã
phải đơng đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng. Đất nớc bị các thế lực
đế quốc, phản động bao vây và chống phá quyết liệt.
Cuối tháng 8-1945, theo thỏa thuận của Đồng minh ở Hội nghị Pốtxđam
(Posdam), gần 20 vạn quân của chính phủ Tởng Giới Thạch ờ ạt kéo vào nớc ta từ vĩ
tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật. Theo chúng là lực lợng tay sai
phản động trong hai tổ chức Việt quốc (Việt Nam quốc dân Đảng) và Việt cách
(Việt Nam cách mạng đồng minh hội). Vào Việt Nam, quân Tởng Giới Thạch còn ráo
riết thực hiện âm mu tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, đánh đổ chính quyền cách
mạng, lập chính quyền phản động tay sai của chúng. Đằng sau quân tởng là đối quốc
Mỹ đang nuôi dã tâm đặt Đông Dơng dới chế độ ủy trị, một trá hình của chế độ
thuộc địa kiểu mới của Mỹ.
Phía Nam vĩ tuyến 16, quân đội Anh với danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp
quân đội Nhật đã đồng lõa và tiếp tay cho thực dân Pháp quay lại Đông Dơng. Ngày
23-9-1945, đợc quân Anh giúp sức, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở
đầu cuộc xâm lợc nớc ta lần thứ hai.
Trên đất nớc ta lúc đó còn có khoảng 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp. Một
số quân Nhật đã thực hiện lệnh của quân Anh, cầm súng cùng với quân Anh dọn đ-
ờng cho quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng ở miền Nam.
Lúc này, các tổ chức phản động Việt quốc, Việt cách, Đại Việt ráo riết
hoạt động. Chúng dựa vào thế lực bên ngoài để chống lại cách mạng. Chúng quấy
nhiễu, phá rối, cớp của, giết ngời, tuyên truyền, kích động một số ngời đi theo chúng
chống lại chính quyền cách mạng và đòi cải tổ Chính phủ lâm thời và các bộ trởng là

Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ơng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc. Chỉ
thị nhận định tình hình thế giới và trong nớc, chỉ rõ những thuận lợi cơ bản và những
thử thách lớn lao của cách mạng nớc ta. Trung ơng Đảng xác định: Tính chất của
cuộc cách mạng Đông Dơng lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng
1
.
Cuộc cách mạng ấy cha hoàn thành vì nớc ta cha hoàn toàn độc lập. Khẩu hiệu của ta
lúc này vẫn là Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết . Phân tích âm mu của các đế
quốc đối với Đông Dơng, Trung ơng nêu rõ kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân
Pháp xâm lợc, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng
2
. Vì vậy phải lập Mặt
trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lợc
3
; mở rộng Mặt trận Việt
Minh nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân; thống nhất Mặt trận Việt - Miên - Lào;
liên quyết giành độc lập - tự do - hạnh phúc cho dân tộc.
Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc nêu ra nhiệm vụ chủ yếu của nhân dân cả nớc
ta lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lợc, bài trừ nội phản,
cải thiện đời sống cho nhân dân
4
. Để thực hiện các nhiệm vụ đó Trung ơng đề ra các
công tác cụ thể:
Về nội chính: xúc tiến việc bầu cử Quốc hội, thành lập chính phủ chính thức,
lập Hiến Pháp, củng cố chính quyền nhân dân.
Về quân sự: động viên lực lợng toàn dân, kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh
đạo cuộc kháng chiến lâu dài.
Về ngoại giao: kiên trì nguyên tắc bình đẳng tơng trợ, thêm bạn bớt thù,
thực hiện khẩu hiệu hoa - Việt thân thiện đối với quân đội Tởng Giới Thạch và chủ
trơng độc lập về chính trị, nhân nhợng về kinh tế đối với Pháp.

Cùng với việc xây dựng chính quyền nhân dân, Đảng và Chính phủ phát động
thi đua sản xuất; động viên nhân dân tiết kiệm giúp nhau chống giặc đói; thực hiện
bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý khác của chế độ thực dân; tiến hành tịch thu
ruộng đất của đế quốc, Việt gian chia cho nông dân nghèo, chia lại ruộng đất công
một cách công bằng, hợp lý; giảm tô 25%, giảm thuế, miễn thuế cho nông dân vùng
bị thiên tai; chủ trơng cho mở lại các nhà máy do Nhật để lại, tiến hành khai thác mỏ,
khuyến khích kinh doanh Đảng đã động viên nhân dân tự nguyện đóng góp cho
công quỹ hàng chục triệu đồng và hàng trăm kilôgam vàng, nền tài chính độc lập
từng bớc đợc xây dựng.
Đảng đã vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ mọi tệ nạn văn
hóa nô dịch của thực dân, xóa bỏ các hủ tục lạc hậu, phát triển phong trào bình dân
học vụ để chống nạn mù chữ, diệt giặc dốt. Một năm sau Cách mạng Tháng Tám
đã có 2,5 triệu ngời biết độc, biết viết.
Các trờng học từ cấp tiểu học trở lên lần lợt đợc khai giảng. Đảng và Chính phủ
rất coi trọng khai giảng các trờng Đại học đã có mở thêm trờng Đại học mới. Ngày
10-10-1945 Hồ Chí Minh tịch ký Sắc lệnh số 45/S thành lập trờng Đại học Văn khoa
Hà Nội nhằm đào tạo giáo viên văn khoa trung học và để nâng cao nền văn học Việt
Nam cho xứng đáng một nớc độc lập và theo kịp các nớc tiên tiến trên thế giới.
Tháng lợi bớc đầu trong cuộc đấu tranh xây dựng nền móng chế độ mới, ổn
định và cải thiện đời sống nhân dân có ý nghĩa chính trị hết sức to lớn. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nêu rõ rằng, nếu nớc độc lập mà dân không hởng hạnh phúc tự do, thì
độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì
1
. Nhân dân đợc hởng quyền tự do dân chủ, dân
sinh càng thêm tin tởng, gắn bó và quyết tâm bảo vệ chế độ mới. Đó là sức mạnh để
bảo vệ chính quyền cách mạng, giữ vững quyền lãnh đạo của Đảng, là sức mạnh để
chiến đấu và chiến thắng thù trong giặc ngoài.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2002, t.4, tr.56.
Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng tiến công
ra các tỉnh Nam Bộ, Thờng vụ Trung ơng Đảng đã nhất trí với quyết tâm kháng chiến

Chúng ta đã hết sức kiềm chế trớc những hành động khiêu khích của quân đội
Tởng và tay sai, tránh để xẩy ra xung đột về quân sự, đã ép cung cấp lơng thực, thực
phẩm cho 20 vạn quân Tởng trong khi nhận dân ta đang bị đói, mở rộng Quốc hội
thêm 70 ghế cho Việt quốc, Việt cách không qua bầu cử, đa một số đại diện của các
đảng đối lập này làm thành viên của Chính phủ liên hiệp do Chủ tịch Hồ Chí Minh
đứng đầu.
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mềm dẻo về thực hiện sách lợc nhận nhợng
trên nguyên tắc: nắm chắc vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững chính quyền cách
mạng, giữ vững mục tiêu độc lập thống nhất, dựa chắc vào khối đại đoàn kết dân tộc,
vạch trền những hành động phản dân hại nớc của bọn tay sai của Tởng và nghiêm trị
theo pháp luật những tên tay sai gây tội ác khi có đủ bằng chứng.
Những chủ trơng sách lợc và biện pháp trên đây đã vô hiệu hóa các hoạt động
phá hoại, đẩy lùi từng bớc và làm thất bại âm mu lật đổ chính quyền cách mạng của
chúng, bảo đảm cho nhân dân ta tập trung lực lợng kháng chiến chống thực dân Pháp
ở miền Nam. Chính quyền nhân dân không những đợc giữ vững mà còn đợc củng cố
về mọi mặt.
Đầu năm 1946, các nớc đế quốc dàn xếp, mua bán quyền lợi với nhau để cho
thực dân Pháp đa quân ra miền Bắc Việt Nam thay quân đội của Tởng. Ngày 28-2-
1946, Hiệp ớc Hoa - Pháp đợc ký kết ở Trùng Khánh. Theo đó, Pháp nhân nhợng một
số quyền lợi kinh tế cho chính quyền Tởng trên đất Trung Hoa để Pháp đợc đa quân ra
miền Bắc Việt Nam. Tởng nhân nhợng với Pháp để rút quân về nớc đối phó với Quân
giải phóng nhân dân Trung Quốc. Việc dàn xếp giữa hai kẻ thù Pháp và Tởng đợc
Đảng dự đoán sớm. Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (ngày 25-11-1945) vạch rõ: Trớc
sau, Trung Khánh sẽ bằng lòng cho Đông Dơng trở về tay Pháp, miễn là Pháp nhợng
cho Tàu nhiều quyền lợi quan trọng
1
.
Tình hình đó đặt Đảng ta trớc một sự lựa chọn giải pháp đánh hay hòa. Phân
tích tình thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thờng vụ Trung ơng Đảng đã quyết định
chọn giải pháp hòa hoãn, dần xếp với Pháp, vì vấn đề lúc này, không phải là muốn

Hiệp định. Đảng đã lãnh đạo Chính phủ đấu tranh buộc Pháp phải mở cuộc đàm phán
chính thức với ta ở Pháp.
Để chuẩn bị cho cuộc đàm phán đó, ngày 19-4-1946, một cuộc hội nghị trù bị
ở Đà Lạt, song do Pháp thiếu thiện chí nên hội nghị không đạt đợc sự thỏa thuận nào.
Với thiện chí và sự kiên trì đấu tranh của Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, cuộc hội nghị chính thức giữa ta và Pháp đã họp ở phongtennơblô từ ngày
6-7-1946 đến ngày 10-9-1946. Chủ tịch Hồ Chí Minh với t cách là thợng khách theo
lời mời của Chính phủ Pháp cũng đã đến Pari thăm Pháp trong thời gian này. Cuộc
đàm phán chính thức ở Phôngtennơblô cũng không thành do phía Pháp cố bám giữ
lập trờng thực dân và trong khi đang đàm phán đã ráo riết thực hiện âm mu mở rộng
lấn chiếm trên đất nớc ta.
Trong thời gian ở Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các đảng phái
chính trị, các tổ chức quần chúng ở Pháp và đại diện nhiều tổ chức quốc tế. Ngời đã
nói rõ lập trờng hòa bình hữu nghị và nguyện vọng thiết tha độc lập tự do của nhân
dân và Chính phủ Việt Nam. Để tỏ rõ thiện chí và giành thêm thời gian hòa bình, trớc
khi rời nớc Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp bản Tạm ớc (ngày
14-9-1946), thỏa thuận một số điều về quan hệ kinh tế, văn hóa giữa hai nớc, đình chỉ
xung đột ở miền Nam và sẽ tiếp tục đàm phán vào tháng 1-1947.
Thiện chí và những hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn đàm
phán của Chính phủ ta tuy không đạt mục đích ký hiệp định chính thức, nhng đã đã
làm cho nhân dân Pháp hiểu và ủng hộ ta, làm cho d luận quốc tế chú ý đến Việt Nam
và tiểu nguyện vọng tha thiết hòa bình của dân tộc Việt Nam. Cũng nhờ đó, chúng ta
đã duy trì một khoảng thời gian hòa bình hiếm có để tiếp tục xây dựng và phát triển
lực lợng về mọi mặt.
Theo quy định của Hiệp ớc Hoa - Pháp, quân đội Tởng Giới Thạch phải rút
khởi miền Bắc Đông Dơng ngày 31-3-1946. Trên thực tế, ta phải đấu tranh kiên
quyết; đến cuối tháng 9-1946 chúng mới rút hết. Bọn Việt quốc, Việt cách hoặc tan rã
hoặc bỏ chạy ra nớc ngoài. Việc đa ra ánh sáng vụ Ôn Nh Hầu và làm thất hại âm mu
đảo chính của bọn phản cách mạng tay sai của Pháp tháng 7-1946 đánh dấu sự phá
sản của chúng.

nhoáng của thực dân Pháp.
Lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chính quyền nhân dân, vừa kháng chiến,
vừa kiến quốc (từ tháng 9-1945 đến tháng 12 - 1946), Đảng ta đã đa đất nớc vợt qua
những thử thách hiểm nghèo, củng cố và phát huy thành quả Cách mạng Tháng Tám,
chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp.
Thực tiễn lịch sử của thời kỳ này đã đem lại cho Đảng ta nhiều kinh nghiệm
quý báu: về phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc; về lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong
nội bộ kẻ thù, chĩu mũi nhọn vào kẻ thù chính, về sự nhân nhợng có nguyên tắc; về
tận dụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lực lợng, củng cố chính quyền nhân dân,
sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh lan ra cả nớc.
II. Lãnh đạo toàn quốc kháng chiến (1946 - 1950)
1. Phát động toàn quốc kháng chiến và đờng lối kháng chiến của Đảng
Đảng và Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tỏ rõ thiện chí, cố
gắng làm những việc có thể để đẩy lùi chiến tranh, nhng với dã tâm cớp nớc ta một
lần nữa, thực dân Pháp thi hành chính sách việc đã rồi, tăng cờng khiêu khích và lấn
chiếm. Ngày 20-11-1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng thành phố Hải
Phòng, thị xã Lạng Sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Ngày 16-12-1946, những tên trùm
thực dân Pháp ở Đông Dơng đã họp tại Hải Phòng bàn triển khai kế hoạch đánh
chiếm Hà Nội và khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Ngày 17 và 18-12-1946 tại Hà Nội, quân
Pháp tàn sát thảm khốc đồng bào ta ở các phố Yên Ninh, Hàng Bún. Chúng ngang
ngợc đòi tớc vũ khí của tự vệ Hà Nội, đòi kiểm soát an ninh trật tự ở Thủ đô. Hành
động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ ta trớc một tình thế không thể
nhân nhợng thêm với chúng đợc nữa, vì tiếp tục nhân nhợng sẽ dẫn đến họa mất nớc,
nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, 2002, t.6, tr.162.
Lịch sử đã đặt dân tộc ta trớc một sự lựa chọn mới. Thực tế cho thấy khả năng
hòa hoãn không còn. Địch đã công khai tuyên bố chúng sẽ hành động sáng ngày 20-
12 nếu Chính phủ ta khớc từ những điểm nêu trong tối hậu th của chúng. Trong thời
điểm lịch sử đó, Trung ơng Đảng đã kịp thời hạ quyết tâm phát động toàn dân kháng
chiến và chủ động mở cuộc tổng giao chiến lịch sử trớc khi thực dân Pháp thực hiện

.
1. Trờng Chinh: Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb. Sự Thật. H.1947, tr.30-31.
Cuộc kháng chiến của chúng ta là một cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân,
toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
Chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc là nội dung cơ bản của đờng lối
quân sự của Đảng. Đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí, động viên
nhân lực, vật lực, tài lực của cả nớc cho chiến đấu và để chiến thắng.
Chiến tranh là một cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến, đồng thời
để phát huy mặt mạnh của cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc ta, nên chúng ta
phải đánh địch trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, trong đó quân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status