TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA MÁC – LÊNIN
NGUYỄN THỊ KIM HỒNG
LỚP DH5CT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG
TRONG LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG
THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn
Ts. VÕ VĂN THẮNG
An Giang, tháng 5/2008
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.....................................................................Trang 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.....................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu................................................................... 3
5. Đóng góp của khóa luận.................................................................... 4
6. Kết cấu khóa luận.............................................................................. 4
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG
1.1. Phương pháp và phương pháp biện chứng
1.1.1. Phương pháp và phân loại phương pháp......................................5
1.1.2. Phương pháp biện chứng và vai trò của phương pháp biện
chứng
1.1.2.1. Phương pháp biện chứng................................................7
1.1.2.2. Lịch sử phương pháp biện chứng...................................9
địch, đưa cách mạng tiến lên........................................................................... 46
2.1.5. Xem xét vấn đề của cách mạng trong sự vận động, phát triển không
ngừng...............................................................................................................48
2.2. Giá trị của phương pháp biện chứng mà Hồ Chí Minh vận dụng trong giai
đoạn hiện nay...................................................................................................50
KẾT LUẬN.................................................................................................... 58
Khóa luận tốt nghiệp ngành GDCT Nguyễn Thị Kim Hồng
NHD: Ts. Võ Văn Thắng
Tôi chỉ có một ham muốn, ham
muốn đến tột bậc là làm sao cho
nước ta được hoàn toàn độc lập,
đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành.
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam tự hào đã sản sinh ra Hồ Chí Minh, một danh nhân
văn hóa thế giới, một anh hùng giải phóng dân tộc, một vị lãnh tụ vĩ đại của
cách mạng Việt Nam, Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hồ Chí Minh, người đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao
sóng gió thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là kết quả
của quá trình kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn
cảnh xã hội Việt Nam. Ở góc độ triết học, Người đã tiếp thu chủ nghĩa duy vật
biện chứng đặc biệt là phương pháp biện chứng; lấy nó làm nền tảng tư duy và
chỉ đạo hoạt động thực tiễn của mình. Điều đó được biểu hiện đặc sắc trong
quá trình Người lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
ở nước ta.
Như chúng ta đã biết, tư tưởng của Hồ Chí Minh rất phong phú và rất
sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, nhưng trong lĩnh vực đấu tranh cách mạng thể hiện
thừa và phát huy những chân giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh là rất cần
thiết. Để làm được điều đó, tôi muốn góp phần vào việc nghiên cứu một mảng
nhỏ trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh với hy vọng góp phần làm sáng tỏ
và khẳng định giá trị trong việc vận dụng phương pháp của Người, đó là vấn
đề vận dụng phương pháp biện chứng trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở nước ta. Đó là lý do để tác giả chọn vấn
đề này để nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng trong việc lãnh đạo
cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam của Hồ Chí
Minh.
Khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học của Hồ
Chí Minh về lĩnh vực phương pháp không những trong đấu tranh cách mạng
thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà còn có ý nghĩa to lớn trong
giai đoạn hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu phương pháp biện chứng và vai trò
của nó trong đời sống, những nguyên tắc cơ bản khi vận dụng phương pháp
biện chứng.
Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu việc vận dụng sáng tạo phương pháp
biện chứng của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời,
khẳng định giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay.
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 2
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng
Đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng
trong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Hồ Chí
Hồng
của Hồ Chí Minh. Qua đó, tác giả tìm ra những giá trị của nó đối với cách
mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Đóng góp của khóa luận
Thứ nhất, qua nghiên cứu việc vận dụng sáng tạo phương pháp biện
chứng mác-xít của Hồ Chí Minh trong đấu tranh chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ ở Việt Nam, khóa luận góp phần khẳng định vai trò của triết học
mác-xít đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội.
Thứ hai, luận văn khẳng định và góp phần làm phong phú những giá
trị khoa học trong tư tưởng Hồ chí Minh ở góc độ triết học mà đặc biệt là
trong lĩnh vực phương pháp.
Thứ ba, luận văn chỉ ra những giá trị của phương pháp biện chứng
mà Hồ Chí Minh vận dụng đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay, từ đó khẳng định vai trò của công cụ tư duy lý luận đối với công tác lãnh
đạo của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước, nhằm thực hiện thắng lợi mục
tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”.
6. Kết cấu khóa luận
Phần mở đầu.
Phần nội dung.
Chương 1: Phương pháp biện chứng và một số nguyên tắc cơ bản khi
vận dụng phương pháp biện chứng.
Chương 2: Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng
trong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt
Nam
Phần kết luận.
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 4
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
động, xem nó như là một phạm trù thuần túy. Còn chủ nghĩa duy vật khẳng
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 5
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
định phương pháp hình thành không phải chủ quan, tùy tiện, không có sẵn và
bất biến mà nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt ra. Để
tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể cần nghiên cứu đối
tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan. Từ đó, chủ thể xác định
phải nghiên cứu và hành động như thế nào, cần phải sử dụng phương tiện,
công cụ và biện pháp nào cho thích hợp cũng như cần phải kết hợp các yếu tố
theo một trình tự như thế nào cho hợp lý. Do vậy, phương pháp bắt nguồn từ
thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu.
Do đối tượng nghiên cứu rất phong phú, đa dạng nên các phương pháp
cũng phong phú, đa dạng. Tùy theo tiêu chí khác nhau mà phương pháp được
chia thành các loại khác nhau.
Nếu dựa vào mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng thì phương pháp
được chia ra thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp
phổ biến. Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ môn khoa học cụ thể
như phương pháp sinh học, phương pháp hóa học, phương pháp vật lí học.
Phương pháp chung là phương pháp áp dụng cho một số bộ môn khoa học như
phương pháp quan sát, phương pháp mô hình hóa, phương pháp hệ thống cấu
trúc. Phương pháp phổ biến là phương pháp áp dụng chung cho tất cả các bộ
môn, đó là phương pháp của triết học Mác-Lênin hay phương pháp biện chứng
duy vật.
Nếu dựa vào mục đích, chức năng thì có thể chia phương pháp thành
phương pháp hoạt động thực tiễn và phương pháp nhận thức. Phương pháp
hoạt động thực tiễn là phương pháp sử dụng các phương tiện vật chất để tác
động trực tiếp vào đối tượng nhằm biến đổi các đối tượng đó theo những nhu
cầu của con người như phương pháp sản xuất, phương pháp thực nghiệm,
phương pháp đấu tranh cách mạng. Phương pháp nhận thức là phương pháp sử
là...hoặc là...” còn có cả cái “vừa là...vừa là...”; nó thừa nhận một chỉnh thể
trong lúc vừa là nó lại vừa không phải nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ
định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó nhau. Phương pháp biện chứng phản ánh
hiện thực đúng như nó tồn tại và phương pháp này hoàn toàn đối lập với
phương pháp siêu hình.
Phương pháp siêu hình hình thành trong thế kỷ XVII, XVIII, bị ảnh
hưởng bởi trình độ phát triển của khoa học tự nhiên trong giai đoạn sưu tập,
mô tả. Nó xem xét sự vật một cách cô lập, tách tời, cứng đờ, tĩnh tại, không
thấy sự liên hệ và sự vận động, phát triển của chúng, thiếu quan điểm lịch sử-
cụ thể; không thấy mâu thuẫn bên trong của sự vật; không thấy quá trình
chuyển hóa từ chất này sang chất mới,...đúng như Ăngghen đã viết: “Phương
pháp tư duy siêu hình chỉ thấy những sự vật cá biệt mà không thấy mối liên hệ
giữa những sự vật ấy, chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà không thấy trạng
thái động của sự vật, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.” [9;19]. Sự phát triển
của khoa học hiện đại đã bộc lộ tính hạn chế của phương pháp siêu hình. Do
vậy, nó phải bị phủ định bởi phương pháp khoa học hơn, đó là phương pháp
biện chứng của triết học mác-xít.
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 7
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
Yếu tố cơ bản trước tiên của phương pháp biện chứng là “tính khách
quan của sự xem xét”. Nghĩa là, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải xuất
phát từ thực tế khách quan, tránh thiên kiến chủ quan, phải phản ánh trung
thành những quá trình, những quy luật tồn tại hiện thực.
Phương pháp biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật một cách toàn
diện, phải tính đến mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các sự
vật, hiện tượng, phải vạch ra “toàn bộ những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy
với sự vật khác”. Quan điểm toàn diện đối lập với thuật ngụy biện và chủ
nghĩa chiết trung của các học giả tư sản và bọn xét lại.
Phương pháp biện chứng còn yêu cầu xem xét sự vật trong sự vận động
pháp tốt nhất để thực hiện sự hồi tưởng, sự nhớ lại những “ý niệm”. Thực chất
của phương pháp này, theo Platon là khả năng đưa ra những câu hỏi và những
câu trả lời thích hợp để giải thích những vấn đề triết học, để đạt tới những tri
thức chân thực, những khái niệm chung. Những khái niệm này phản ánh đúng
đắn những ý niệm và được Platon coi là vĩnh viễn, bất biến. Phương pháp này
là phân đôi các khái niệm, những ý kiến thành các khái niệm, ý kiến đối lập
nhau. Ở đây, Platon đã xây dựng phương pháp nhận thức khái niệm một cách
biện chứng - phương pháp đối chiếu các khái niệm đối lập. Mặt khác, một số
triết gia xem phương pháp biện chứng chẳng qua chỉ là hình thức đối thoại
trực tiếp hay được thể hiện dưới hình thức các câu cách ngôn chất phát chứ
chưa thật sự vạch ra một phương pháp khoa học cho nhận thức và hành động.
Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy nhân loại, những nội dung
quan trọng của phương pháp biện chứng được trình bày một cách có hệ thống
bởi các nhà triết học Đức mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là
F.Hêghen.
Đối với F.Hêghen, phương pháp biện chứng được hiểu là con đường mà
tư duy phải trải qua khi muốn quy tri thức về thế giới như cái trọn vẹn tới sự
thống nhất trực quan của trí tuệ. Do đó, có được nhận thức như vậy về thế giới
và vị thế của chúng ta trong đó mà người ta sống một cách biết suy tư, biết
làm cho cuộc sống phù hợp với những ý nghĩa nội tại của chính thế giới.
Phương pháp biện chứng của Ông là phương pháp suy ngẫm triết học về thế
giới chứ không chỉ là nhận thức khoa học. Kết quả của phương pháp đó là trực
quan thế giới, là hình ảnh suy tư về thế giới chứ không giản đơn là bức tranh
thế giới có thể thu được, tổng hợp được từ các kết quả của khoa học cụ thể.
Trong lô-gich học-học thuyết về các phạm trù, F.Hêghen phân biệt tồn tại với
tư cách là cái hiện diện, là cái thực tại và tồn tại thực tế. Ông cho rằng, không
phải mọi cái tồn tại hiện diện đều là tồn tại của cái thực tại và không phải mọi
cái thực tại đều là thực tế. Thực tại chỉ là những đối tượng mà ở chúng sự tồn
tại trùng hợp với bản chất và đối tượng, đó là tự do tức là sự biểu hiện cần
thiết của đời sống khái niệm, đó là cơ sở đích thực và bản chất của mọi thực
vào tình trạng “mò mẫm”. Thiếu phương pháp, con người sẽ nhận thức sự vật
hiện tượng một cách rời rạc, tản mạn, nó giống như việc làm của những con
kiến (theo cách so sánh của nhà triết học Anh Ph.Bêcơn), tri thức thu được
như là sự góp nhặt một đống tư liệu để xây thành tổ kiến, chứ không phải như
con ong. Ph.Bêcơn xem phương pháp là ngọn đèn soi đường cho người lữ
hành đi trong đêm tối. Còn trong đấu tranh cách mạng, đồng chí Lê Duẩn có
nói: “Phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ thậm chí thất bại nữa,
không phải vì thiếu một phương hướng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì
thiếu một phương pháp cách mạng phù hợp”[4;41]. Vì vậy, khi làm bất cứ
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 10
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
chuyện gì, dù nhỏ hay lớn cũng phải vạch ra những phương pháp thích hợp,
đồng thời phải biết vận dụng nhiều phương pháp khác nhau thì công việc mới
đạt hiệu quả cao.
Trong lịch sử, có rất nhiều loại phương pháp: Phương pháp chung,
phương pháp riêng nhưng phương pháp phổ biến nhất là phương pháp của triết
học Mác-Lênin - phương pháp biện chứng. Để nhận thức sâu sắc và đúng đắn
một sự vật, hiện tượng, một quá trình nào đó trong tự nhiên hay xã hội, chúng
ta phải xuất phát từ thực tế khách quan đồng thời phải so sánh, phân tích, tổng
hợp, khái quát lên thành lý luận. Điều đó đòi hỏi phải có tư duy đúng đắn
không thể nào khác là tư duy lô-gich biện chứng, là phương pháp nhận thức
của triết học Mác-Lênin - phương pháp biện chứng.
Với tư cách là phương pháp nhận thức khoa học được rút ra từ phép
biện chứng duy vật, phương pháp biện chứng là cơ sở chỉ đạo chủ thể xác định
phương pháp cách mạng và khoa học, là công cụ sắc bén cho nhận thức và
hành động như Mác đánh giá “Nó là thứ công cụ lao động tốt nhất của chúng
tôi và là một thứ vũ khí sắc bén nhất của chúng tôi” [22;238]. Do đó, đối với
mọi người cách mạng, phương pháp biện chứng là công cụ quan trọng bậc
nhất không thể thiếu được của nhận thức và hành động để cải tạo hoàn cảnh và
V.I.Lênin nghiên cứu phương pháp biện chứng một cách sâu sắc, nắm
vững nó, dùng nó làm công cụ để phân tích vấn đề đương thời và thực tiễn xã
hội vô cùng phức tạp. Nhờ có phương pháp khoa học mà V.I.Lênin đã viết
những tác phẩm nổi tiếng như: “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở nước
Nga”, “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư
bản”...V.I.Lênin đã sử dụng phương pháp biện chứng một cách điêu luyện để
phân tích tình hình, đề ra đường lối chiến lược, sách lược tài tình đưa đến
thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Mười và đẩy mạnh phong trào cách
mạng trên thế giới.
Trong khoa học tự nhiên, nếu không có phương pháp biện chứng duy
vật thì những nhà khoa học nhất định không thể trả lời đúng đắn những vấn đề
mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang đặt ra. Trong khoa học xã hội
cũng vậy, nếu không có phương pháp biện chứng con người sẽ không thể có
cách nhìn nhận đúng đắn về bản chất của sự vật, hiện tượng, từ đó không thể
có những định hướng đúng cho những cách thức để cải tạo hiện thực khách
quan một cách hiệu quả, con người sẽ rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí và
bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa. Bệnh chủ quan duy ý chí là thể hiện về sự hạn
chế của chủ thể nhận thức ở một mức độ nào đó không thể có được tư duy
biện chứng do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận, hạn chế về trình độ lý luận
dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục, sửa chữa nên sai lầm càng nghiêm
trọng. Còn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do sai lầm trong phương pháp tư
duy cũng như trong cải tạo hiện thực, tuyệt đối hóa kinh nghiệm nên trong
hoạt động thực tiễn họ rơi vào tình trạng mò mẫm, sự vụ, tùy tiện, tự ty, không
nhất quán trong các chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tiến trình
phát triển kinh tế - xã hội và bản thân người bị mắc căn bệnh này cũng trở nên
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 12
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
bảo thủ, lạc hậu, trì trệ bởi phương pháp hành động cũ kỹ và hậu quả sẽ trở
nên nghiêm trọng hơn khi căn bệnh này đan kết chặt chẽ với bệnh chủ quan
biệt năm nguyên tắc cơ bản, còn Mi-tin cho rằng có bốn nguyên tắc; P.V.Dô-
pốp và V.C.Vi-nô-gra-đốp phân biệt bảy nguyên tắc, còn An-đre-ep phân biệt
mười nguyên tắc. Trong khi đó, W.Xê-ghet phân loại các nguyên tắc của
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 13
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
phương pháp biện chứng phù hợp với sự sắp xếp các yếu tố của phép biện
chứng trong “Bút kí triết học” của V.I.Lê-nin. Mặc dù có sự bất đồng ý kiến
trong nhận thức và diễn đạt các nguyên tắc của phương pháp biện chứng
nhưng các tác giả đã có một sự thống nhất tương đối khi giải thích bản chất
của phép biện chứng.
Khi xem xét các nguyên tắc của phương pháp biện chứng, điều quan
trọng là khi xem xét chúng trong mối liên hệ hữu cơ với nhau, cũng như với
những bậc thang phát triển tương ứng của nhận thức khoa học và thực tiễn xã
hội. Theo quan điểm của A.P.Sep-tu-lin, tác giả xin nêu khái quát một số
nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng, trình bày chúng trong sự liên
hệ lẫn nhau và phụ thuộc nhau một cách tất yếu, xác định vị trí của mỗi
nguyên tắc trong toàn bộ hệ thống những yêu cầu biện chứng đề ra đối với chủ
thể tư duy và trong hành động.
1.2.1. Nguyên tắc phản ánh
Nguyên tắc phản ánh được đề ra trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của
triết học theo quan điểm duy vật, đặc biệt là mặt thứ hai của nó. Theo cách giải
quyết ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, phụ thuộc vào vật
chất, do vật chất quy định. Tính thứ hai của ý thức trong quan hệ với vật chất
biểu hiện ở chỗ: Không phải bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu cũng tồn tại ý
thức, nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển đặc biệt của vật chất, ở
những vật chất có tổ chức cao. Mặt khác, nó là tính thứ hai vì nó phản ánh thế
giới bên ngoài, là hình ảnh của những sự vật tồn tại khách quan, của những
thuộc tính và quan hệ của chúng. Là sự phản ánh của những sự vật của thế giới
bên ngoài, ý thức không thể tồn tại độc lập đối với các sự vật, bởi vì phản ánh
Ý thức phản ánh sáng tạo thực tại khách quan mà thực tại khách quan hiện ra
trước mắt con người dưới dạng những hình ảnh chủ quan nhưng nguyên tắc
phản ánh bao hàm yêu cầu về tính khách quan của sự xem xét. Yêu cầu này có
tầm quan trọng đặc biệt đối với nhận thức. Nguyên tắc xem xét khách quan
bao hàm yêu cầu con người không những phải xuất phát từ bản thân khách thể,
từ quy luật hoạt động và phát tiển của nó, không gán ghép cho nó bất kỳ cái gì
của chủ thể, mà còn phải phân biệt rạch ròi quan hệ vật chất và quan hệ tinh
thần; nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan; thừa nhận nhân tố vật chất
quyết định nhân tố tinh thần, tư tưởng.
Việc giải thích khách thể phải xuất phát từ chính bản thân nó, từ những
thuộc tính và liên hệ mà nó vốn có, phải tính đến những quy luật hoạt động và
phát triển của nó. Như vậy, nguyên tắc khách quan còn bao hàm cả nguyên tắc
cụ thể, buộc chủ thể nhận thức phải tính đến những đặc điểm của khách thể
được nghiên cứu và những điều kiện đặc thù của khách thể ấy. V.I.Lê-nin viết:
“Trước hết là xem xét nội dung khách quan của quá trình lịch sử trong một
thời điểm cụ thể nhất định, trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định...” [Dẫn theo
1;25].
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 15
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
Nói tóm lại, nguyên tắc phản ánh là nguyên tắc nền tảng có tính quyết
định của phương pháp biện chứng, một phương pháp dựa vào những hình thức
tồn tại phổ biến, những thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của hiện thực.
1.2.2. Nguyên tắc năng động
Khi nói về nguyên tắc phản ánh quy định yêu cầu khách quan của sự
xem xét thì một điều không thể không nói đến là: Ý thức không phản ánh hiện
thực một cách giản đơn, thụ động mà phản ánh năng động, có những biến đổi
và cải tạo nhất định, không phải máy móc mà phản ánh một cách sáng tạo.
Tính năng động của chủ thể trong quá trình nhận thức là điều kiện tất yếu để
phát hiện bản chất của khách thể nghiên cứu; để làm sáng tỏ các mối liên hệ,
tính để đi đến bản chất của khách thể nghiên cứu.
Tóm lại, nguyên tắc năng động đòi hỏi phải biến đổi khách thể nhận
thức và cải tạo một cách sáng tạo các dữ liệu cảm tính vạch ra bản chất của
khách thể là có căn cứ khách quan. Những sự biến đổi, cải tạo được thực hiện
phải phù hợp với tính quy luật có thực của lĩnh vực được nghiên cứu; phải
phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ có thực của lĩnh vực ấy.
1.2.3. Nguyên tắc toàn diện
Yêu cầu xem xét khách quan đòi hỏi quá trình nhận thức phải coi đối
tượng là thực tại tồn tại độc lập bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức của
chủ thể; là vật tự nó trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nó. Nhưng
những điều kiện tất yếu tồn tại hiện thực của sự vật lại chính là những mối liên
hệ đa dạng của sự vật với các sự vật khác, là một hệ thống nhất định bao gồm
các quan hệ của sự vật đó với các sự vật khác. Từ đó, chúng ta thấy rằng, vật
tự nó phải được xem xét không tách rời những điều kiện tồn tại tất yếu của nó
mà trong các mối liên hệ và quan hệ của nó hay nói cách khác là xem xét một
cách toàn diện.
Mối liên hệ trước hết là quan hệ giữa các đối tượng và hiện tượng của
hiện thực, nhưng không phải bất kỳ quan hệ nào cũng đều là mối liên hệ. Khái
niệm “quan hệ” rộng hơn so với khái niệm “liên hệ”. Liên hệ là quan hệ giữa
hai hiện tượng mà sự thay đổi của sự vật hiện tượng này nhất thiết dẫn đến sự
thay đổi của sự vật kia. Thí dụ công cụ lao động có liên hệ qua lại với đối
tượng lao động, những thay đổi nào đó của công cụ lao động dẫn đễn những
thay đổi được quy định chặt chẽ trong đối tượng chịu tác động của công cụ đó.
Đến lượt nó, sự thay đổi đối tượng lao động nhất thiết đòi hỏi những thay đổi
nhất định về công cụ lao động,...Ngược lại với liên hệ là tính biệt lập (tách
biệt) là một quan hệ giữa các hiện tượng khi sự thay đổi của một hiện tượng
này không ảnh hưởng gì đến các hiện tượng khác, không kèm theo những thay
đổi nhất định của các hiện tượng đó. Chẳng hạn, sự thay đổi những nguyên lý
đạo đức không dẫn đến những thay đổi trong thiên nhiên và ngược lại.
Trong thế giới, tất cả các hiện tượng đều ở trong tình trạng liên hệ lẫn
chuyển sang toàn diện cho phép tái hiện về mặt lý luận tất cả các mặt và quan
hệ tất yếu gắn liền với đối tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của
chúng. Đến giai đoạn tái hiện bản chất của đối tượng trong hệ thống khái niệm
thì yêu cầu về tính toàn diện được thực hiện gần như triệt để.
Tóm lại, nguyên tắc toàn diện là một trong những nguyên tắc quan
trọng của phương pháp biện chứng, nó xuất hiện và tác động trong tất cả các
giai đoạn tiếp theo trong sự phát triển nhận thức. Tuy nhiên, ở các giai đoạn đó
cũng cần phải phối hợp với các nguyên tắc khác của phương pháp biện chứng
để quá trình tư duy được hoàn thiện hơn.
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 18
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
1.2.4. Nguyên tắc lịch sử
Như chúng ta đã biết, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều ở trong
trạng thái vận động và biến đổi không ngừng. Trong thực tế, nếu vận động là
thuộc tính, là phương thức tồn tại của vật chất; nếu tất cả các vật chất đều là
những hệ thống vận động tương đối ổn định, hình thành và phát triển theo
những quy luật nhất định và nếu hình thức vận động quy định bản chất của
chúng thì muốn nhận thức được sự vật, hiện tượng phải xem xét nó trong sự
vận động, trong sự hình thành và phát triển của nó, bởi vì, chỉ khi nào làm rõ
được các giai đoạn phát triển cơ bản mà sự vật, hiện tượng trải qua mới có thể
hiểu được, giải thích được các thuộc tính và mối liên hệ tất yếu, các đặc điểm
về chất và lượng của sự vật.
Yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển của
nó là nhân tố quan trọng bậc nhất trong nội dung của nguyên tắc lịch sử.
Thông thường người ta lấy yêu cầu đó làm đặc trưng cho chủ nghĩa duy vật.
Phương pháp lịch sử coi như là một trong những phương pháp nhận thức hiện
thực khách quan, đặc biệt là các phương pháp nhận thức xã hội. Yêu cầu này
được F.Bêcơn nhấn mạnh rằng: “Muốn nhận thức được những biến hóa và quá
trình của vật chất, cần phải hiểu rõ toàn bộ cái đang tồn tại, cái đã qua, cái
tượng thay thế nhau, những quy luật chi phối bước quá độ của một chỉnh thể
từ trạng thái này sang trạng thái khác. Trong tiến trình vận dụng, nó lại đòi hỏi
đề ra những yêu cầu mới, nguyên tắc mới của phương pháp biện chứng.
1.2.5. Nguyên tắc mâu thuẫn
Muốn xem xét khách thể trong sự vận động và phát triển, phát hiện ra
các quy luật quyết định sự chuyển hóa từ trạng thái chất này sang trạng thái
chất khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác cần phải vạch ra nguồn gốc
những sự biến đổi xảy ra trong khách thể. Nguồn gốc vận động và phát triển là
sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. V.I.Lênin viết: “Điều kiện
của một sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế giới trong “sự tự vận
động” của chúng, trong sự phát triển của chúng, trong đời sống sinh động của
chúng, là sự nhận thức của chúng với tính cách là sự thống nhất của các mặt
đối lập” [Dẫn theo 1;139].
Nguyên tắc mâu thuẫn có vai trò quan trọng không chỉ trong việc nhận
thức các sự vật, hiện tượng như những khách thể đang vận động và phát triển
mà cả trong việc giải thích tính đa dạng của các thuộc tính và các trạng thái về
chất khác nhau và đối lập nhau mà sự vật vốn có trong việc vạch rõ mối quan
hệ qua lại tất yếu giữa chúng với nhau, sự chuyển hóa của cái này thành cái
kia và thành mặt đối lập của mình.
Khi phân tích về bản chất của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ
nghĩa, Mác đã phân đôi khách thể nhận thức thành các mặt đối lập đã bảo đảm
cho việc tái hiện sự phát triển của khách thể, sự quá độ của nó từ trạng thái
chất này sang trạng thái chất khác. Sau khi tách ra quan hệ cơ bản của xã hội
tư bản tức là sự trao đổi hàng hóa, Mác vạch ra những mâu thuẫn gắn liền với
nó và tồn tại bên trong nó; sau đó lần theo sự phát triển của những mâu thuẫn
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 20
Khoá luận tốt nghiệp ngành DGCT Nguyễn Thị Kim
Hồng
ấy, Mác đã tái hiện dưới dạng một hệ thống phạm trù tất cả các mâu thuẫn
khác và thuộc tính bắt nguồn từ sự phát triển ấy. Nhờ vậy, Ông đã trình bày
1;116]. Sự phủ định trong tư duy phản ánh những biến đổi xảy ra trong hiện
thực khách quan nên trong cái hiện thực đó sự phủ định cũng tồn tại độc lập
với con người. Có thể nói, phủ định biện chứng trước hết mang tính khách
NHD: Ts. Võ Văn Thắng Trang 21