Thành tựu và những bài học kinh nghiệm chủ yếu trong công cuộc đổi mới - Pdf 63

Chơng 6
thành tựu và những bài học kinh nghiệm
chủ yếu trong công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản
Việt Nam khởi xớng và lãnh đạo từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng
(12-1986) đến nay đã giành đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đa cách mạng
nớc ta bớc sang thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc. Tổng kết quá trình đổi mới, Đảng ta đã rút nhiều bài học kinh nghiệm quý,
có giá trị chỉ đạo, công cuộc đổi mới tiếp tục phát triển tiến lên giành thắng lợi mới
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
I. Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân trong quá trình đổi
mới
Công cuộc đổi mới trên đất nớc ta từ năm 1986 đến nay diễn ra trong bối cảnh có
nhiều thuận lợi, song cũng gặp nhiều khó khăn thử thách, có lúc tởng chừng không thể
vợt qua. Nhng dới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới, từ đổi mới từng phần, tiến
lên đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để đã giành đợc nhiểu thành tựu to lớn, rất quan
trọng.
1. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6-1996) đánh giá tổng quát mời
năm đổi mới (1986 1996).
- Mời năm đổi mới (1986 1996) cách mạng nớc ta giành đợc nhiều thành tựu
to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng. Đặc biệt, nhiệm vụ đề ra cho kế hoạch 5 năm 1991
1995 đã đợc hoàn thành về cơ bản. Đây là lần đầu tiên kế hoạch 5 năm đợc hoàn thành,
có ý nghĩa rất lớn trong quá trình phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên đất n-
ớc ta.
- Nớc ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, nhng còn một số mặt cha vững
chắc.
- Nhiệm vụ đề ra cho chặng đờng đầu tiên của thời kỳ quá độ cơ bản hoàn thành
đa nớc ta chuyển sang thời kỳ mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
- Con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta ngày càng đợc xác định rõ hơn. Đó
không phải là con đờng trừu tợng, mà đợc xác định rõ về mục tiêu, giải pháp (con đờng)
để thực hiện mục tiêu đó.

và phục vụ đời sống nhân dân. Giá trị các ngành dịch vụ tăng 6,4% năm. Thị trờng hàng
hoá ngày càng phong phú, giá cả ổn định, phơng thức mua bán linh hoạt, thuận tiện
hơn. Xuất khẩu năm 2000 đạt 14 tỷ USD, đa Việt Nam ra khỏi danh sách các nớc có
nền ngoại thơng kém phát triển. Bình quân kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1996 2000
là 5.246 triệu USD/ năm so với thời kỳ 1991 1996 là 3.401 triệu USD/ năm, tăng
bình quân 18%; nhập siêu giảm. Năm 2000 đã chặn đợc đà giảm sút mức tăng trởng
kinh tế, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt, hoặc vợt kế hoạch đề ra.
Hai là, văn hoá, xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục đợc cải
thiện.
Giáo dục, đào tạo có bớc phát triển mới cả về quy mô, chất lợng, hình thức đào
tạo và cơ sở vật chất. Trình độ dân trí, chất lợng nguồn nhân lực đợc nâng lên. Việt
Nam đã đạt tiêu chuẩn quốc gia xoá nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Đến năm
2000 một số tỉnh, thành phố bắt đầu thực hiện chơng trình phổ cập trung học cơ sở.
Khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên và công nghệ gắn bó hơn với
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
Các hoạt động văn hoá, báo chí, xuất bản góp phần tích cực động viên toàn dân
tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay 80% số hộ trong cả nớc đợc xem truyền
hình, 87% số hộ đợc nghe dài Tiếng nói Việt Nam.
Thu nhập quốc dân bình quân đầu ngời trong 5 năm tăng gấp đôi, nhu cầu thiết
yếu của dân về ăn, mặc, ở, nớc sạch, học tập, giải trí ... đợc đáp ứng tốt hơn.
Mỗi năm tạo đợc việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Công tác xoá đói giảm
nghèo trên phạm vi cả nớc đợc đẩy mạnh. Tỷ lệ nghèo đói giảm từ 20% năm 1995,
xuống còn 11% năm 2000. Tỉ lệ tăng dân số năm 2000 còn 1,55%, các chỉ số sức khoẻ
cộng đồng đợc nâng lên.
Các nét đẹp truyền thống đợc khôi phục, phong trào Uống nớc nhó nguồn;
Đền ơn đáp nghĩa, phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 100% các bà
mẹ Việt Nam anh hùng đã đợc các đơn vị, tổ chức từ thiện nhận phụng dỡng suốt đời ...
đã tạo ra bầu không khí xã hội lành mạnh, góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Ba là, chính trị xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng an ninh đợc tăng cờng. Đây
là một nhân tố cực kỳ quan trọng để phát triển đất nớc.

1.500 dự án đợc cấp giấy phép, với tổng số vốn đăng ký gần 20,7 tỷ USD, nếu kể cả cấp
mới và tăng vốn đầu t con số đó gần 24,7 tỷ USD; nớc ta là thành viên của ASEAN,
AFTA, APEC...
*Nguyên nhân thành tựu:
Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng và đờng lối
lãnh đạo đúng đắn.
Hai là, Nhà nớc có nhiều cố gắng trong điều hành, quản lý.
Ba là, toàn dân và toàn quân phát huy lòng yêu nớc, tinh thần dũng cảm, đoàn
kết nhất trí, cần cù, năng động, sáng tạo, tiếp tục thực hiện đờng lối đổi mới, ra sức xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.
Yếu kém, khuyết điểm, nguyên nhân.
*Những yếu kém, khuyết điểm:
Việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII có những yếu kém, khuyết điểm sau đây:
Một là, nền kinh tế phát triển cha vững chắc, hiệu quả sức cạnh tranh thấp.
Nhịp độ tăng trởng kinh tế 5 năm qua chậm dần. Năm 2000 có tăng trở lại, nhng
vẫn cha đạt mức tăng trởng cao nh những năm giữa thập niêm 90. Nhìn chung, năng
suất lao động còn thấp, chất lợng sản phẩm cha tốt, giá thành cao. Hệ thống tài chính,
ngân hàng còn nhiều yếu kém, thiếu lành mạnh. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm.
Quan hệ sản xuất trên một số mặt cha phù hợp, kinh tế nhà nớc cha đợc củng cố, kinh
tế tập thể cha mạnh. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thấp. Trong 3 năm gần đây,
khả năng cạnh tranh kinh tế nớc ta luôn đứng hàng áp chót so với các nớc trong khu
vực.
Hai là, một số vấn đề văn hoá - xã hội bức xúc và gay gắt chậm đợc giải quyết.
- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị 7,4%, thời gian sử dụng lao động ở nông thôn là
70%. Giải quyết việc làm cho ngời lao động đang trở thành vấn đề nóng bỏng của xã
hội ta hiện nay. Chất lơng giáo dục, đào tạo thấp so với yêu cầu.
- Các hoạt động khoa học công nghệ cha đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Công tác quản lý báo chí, văn hoá, xuất bản nhiều
mặt buông lỏng, nảy sinh những khuynh hớng không lành mạnh. Chăm sóc sức khoẻ
của nhân dân, nhất là đối với ngời nghèo còn nhiều phiền hà và tiêu cực. Mức sống của

Ba là, cải cách hành chính chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp.
Bốn là, công tác lý luận, t tửng, công tác quản lý cán bộ có nhiều yếu kém, bất
cập.
3. Kết quả 10 năm thực hiện chiến lợc phát triển kinh tế xã hội (1991
2000).
Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Tuy một số chỉ tiêu
của kế hoạch 5 năm (1996 2000) không đạt, một số nhiệm vụ do Nghị quyết Đại hội
VIII đề ra cha đợc thực hiện tốt. Nhng 10 năm thực hiện chiến lợc ổn định và phát triển
kinh tế xã hội (1991 2000) đã đạt đợc những thành tựu to lớn và rất quan trọng.
Những thành tựu nổi bật là:
Một là, đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội. Tổng sản phẩm trong
nớc (GDP) năm 2000 tăng gấp đôi so với năm 1990. Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội
và năng lực sản xuất tăng nhiều. Từ chỗ sản xuất không đáp ứng nhu cầu thiét yếu của
nhân dân và nền kinh tế, đến nay lơng thực, thực phẩm và nhiều mặt hàng tiêu dùng
không những đảm bảo đủ nhu cầu và chiếm lĩnh thị trờng trong nớc, mà còn tăng đợc
xuất khẩu. Sản xuất nông, công nghiệp, xuất khẩu đều tăng vợt mức so với chỉ tiêu
chiến lợc đề ra.
Hai là, chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, sang cơ chế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, từ chỗ thừa nhận hai thành phần kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể là chủ
yếu, đã chuyển sang thừa nhận tồn tại nhiều thành phần kinh tế dới chủ nghĩa xã hội,
trong đó kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc, kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo của nền kinh tế.
Bốn là, đời sống nhân dân đợc cải thiện. Tỉ lệ nghèo đói giảm từ 30% năm 1992,
xuống còn 20% năm 1995 và 11% năm 2000, tỉ lệ tăng dân số giảm từ 2,31% xuống
1,58%; tuổi thọ bình quân tăng từ 65 tuổi lên 68 tuổi; bảo vệ chăm sóc sức khoẻ của
cộng đồng đợc cải thiện; văn hoá, thể thao phát triển mạnh. Do đó trình độ dân trí, chất
lợng nguồn nhân lực và tính năng động xã hội đợc nâng cao hơn trớc.
Năm là, phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham
gia tích cực vào đời sống của cộng đồng quốc tế.

Đảng (4-2001 đến 12 2005).
Từ sau Đại hội IX của Đảng, tình hình chính trị thế giới diễn biến nhanh chóng
phức tạp; kinh tế khu vực và thế giới hồi phục chậm; bệnh dịch SARS ... luôn tác động
đến nớc ta. Trong nớc, mặc dù công cuộc đổi mới đã đạt nhiều tyhành tựu quan trọng,
nhng nhìn chung tình hình kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, yếu kém. Trong bối
cảnh đó, quan triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, chúng ta đã đạt đợc những
thành tựu quan trọng:
- Nền kinh tế đã vợt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăng trởng khá cao và phát
triển tơng đối toàn diện.
- Hoạt động văn hoá - xã hội có tiến bộ trên một số mặt, việc gắn phát triển kinh
tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tốt, đời sống các tầng lớp nhân dân
đợc cải thiện, chỉ số phát triển con ngời đợc nâng cao.
- Chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh đợc tăng cờng, hoạt động
đối ngoại mở rộng.
- Việc xây dựng Nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa có tiến bộ trên cả ba lĩnh
vực lập pháp, hành pháp và t pháp. Sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân đợc phát huy.
- Công tác xây dng Đảng đợc coi trọng.
Nguyên nhân của những thành tựu : Là kết quả phấn đấu của toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân, trong đó vai trò quan trọng của sự lãnh đạo các cấp uỷ Đảng; sự đổi mới
điều hành có hiệu quả của bộ máy Nhà nớc các cấp; sự đổi mới phối hợp hoạt động hệ
thống tổ chức mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Những thành tựu trên, chứng tỏ công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc đang đi
đúng đờng lối đổi mới và những định hớng mà Đại hội IX đề ra, tiếp tục làm tăng thêm
thế và lực của đất nớc, đặt nền móng và tạo điều kiện thuận lợi cơ bản để chúng ta vững
bớc tiến lên giành những thành tựu to lớn hơn, giữ vững định hớng xã hội chủ nghĩa
trong thời kỳ tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Bên cạnh đó, việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX cũng còn một số yếu kém,
khuyết điểm, kinh tế tăng khá, nhng cha tơng xứng với khả năng, chất lợng hiệu quả và
sức cạnh tranh còn thấp, cha vững chắc, thu hút đầu t nớc ngoài cha mạnh mẽ ; còn
nhiều vấn đề xã hội bức múc cha đợc giải quyết ; cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn

còn là lực lợng nắm vững ngọn cờ dân tộc, đa dân tộc tiến lên đợc nữa.
Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Mời Nga, năm 1917, giai cấp công nhân
đại diện cho phơng thức sản xuất mới phơng thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, là giai
cấp duy nhất có khả năng nắm vững và giải quyết tốt vấn đề dân tộc, kết hợp đúng đắn
lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc. Từ đó độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
là một xu thế phát triển tất yếu của lịch sử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngời sáng lập Đảng ta, đã sớm nhận thức đợc tất yếu đó.
Ngời khẳng định, Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng đợc các
dân tộc bị áp bức và những ngời lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ ; Muốn cứu nớc
và giải phóng dân tộc không có con đờng nào khác con đờng cách mạng vô sản. Ngời
còn chỉ rõ. Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng đợc dân tộc, cả hai
cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng
thế giới.
Đảng ta, ngay từ khi mới ra đời trong Chính cơng vắn tắt, Sách lợc vắn tắt c-
ơng lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định, con đờng cách mạng
Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, t sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để tiến lên xã hội cộng sản. Luận cơng Chính trị tháng 10 1930 và các văn kiện của
Đảng sau này tiếp tục khẳng định con đờng phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đi lên chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển tất yếu của xã hội loài ngời. Đối với
dân tộc ta đó còn là sự lựa chọn của chính lịch sử, của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và của nhân dân ta. Đó là mục tiêu, lý tởng của Đảng, của cách mạng Việt Nam.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn nắm vững ngọn vờ độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, đã giải quyết đúng đắn hàng loạt vấn đề về chiến l-
ợc, sách lợc của cách mạng, đa cách mạng nớc ta đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi
khác.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quan điểm nhất quán, t tởng
xuyên suốt của Đảng ta trong quá trình đổi mới.
Mở đầu quá trình đổi mới đất nớc, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng (12-1986) đã khẳng định : đổi mới vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, đổi

ớc ta.
Độc lập dân tộc theo quan điểm của Đảng là độc lập thật sự, đó là nền độc lập về
chính trị, kinh tế, văn hoá, đối ngoại ... là nền độc lập không có nạn dân tộc này áp bức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status