Một số biện pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của
Công Ty Bia Hà Nội.
Tiêu thụ sản phẩm là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường. Để tiêu thụ sản phẩm, trang trải các khoản chi phí,
đảm bảo sản xuất kinh doanh có lợi nhuận trong nền kinh tế thị trường không
phải là vấn đề đơn giản.
Hiện nay sản phẩm của Công ty vẫn đang được ưa chuông trên thị trường.
Chủ yếu là do chất lượng bia đã đạt tới mức độ tương đối với giá cả phù hợp với
thu nhập của người dân. Hơn nữa cung về sản phẩm của Công ty không đủ đáp
ứng nhu cầu hiện nay. Trong thời gian tới Công ty mở rông công suất đưa sản
lượng lên 100 triệu lít/ năm nhưng đồng thời khi đó cũng sẽ có rất nhiều cơ sở
sản xuất bia với qui mô lớn. Khi đó cung về bia sẽ vượt quá nhu cầu của người
tiêu dùng. Người tiêu dùng với mức thu nhập đang dần được tăng lên sẽ có
nhiều khả năng cơ hội lựa chọn những loại bia phù hợp với chất lương cao hình
thức đẹp mà không bận tâm đến giá cao hay thấp. Liệu khi đó sản phẩm của
Công ty có được thị hiếu người tiêu dùng chấp nhận hay không? Các hãng bia
khác có thay thế thị trường của Công ty hay không? Đây là vấn đề cấp bách đặt
ra cho Công ty.
Qua sự phân tích ưu điểm, những tồn tại và nguyên nhân tồn tại về công
tác tiêu thụ sản phẩm ở Công ty bia Hà nội trong phần viết này em xin trình bày
một số biện pháp cơ bản nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
I. TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ KỸ THUẬT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM
1. Cơ sở lý luận thực tiễn
Chất lượng sản phẩm là một trong những yếu tố không nhỏ tác động đến
tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì
vậy muốn đứng vững trên thị trường thì bắt buộc doanh nghiệp phải quan tâm
tới chất lượng những sản phẩm mình sản xuất ra.
Đối với bia, chất lượng sản phẩm chính là vị thơm đặc trưng cho bia Hà
Nội sản xuất từ malt đại mạch và hoa houblon không có mùi vị lạ, màu sắc có
màu vàng tự nhiên trong suốt không có cặn, bọt trắng ,mịn, bám cốc lâu tan,
phẩm của Công ty
Sơ đồ 4: Mô hình quản lý chất lượng hiện hành ở Công ty
GIÁM ĐỐC
Thông tin phản hồi từ khách hàng
Phó Giám đốc kỹ thuật sản xuất
Trưởng phòng KTCN + KCS
Nấu
Lên men
Thành phẩm
Men giống
Nguyên vật liệu
Bán thành phẩm
Bia lọc
Thành phẩm
Vi sinh
Bao bì
Biểu 36: Các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm Công ty đạt được 6 tháng đầu năm
2001
Chỉ tiêu Bia chai Bia hơi Bia lon
1. Chỉ tiêu hóa học
Chất tan ban đầu ( S ) 10,5+/-0,2 10+/-0,2 11+/-0,2
Hàm lượng cồn (%V) 3,3+/-0,2 3+/-0,2 3,7+/-0,2
Hàm lượng CO
2
(g/l) >4,8 .2,8 >4,9
Độ chua (g/l) <1,35 <1,44 <1,35
Độ màu (EBC) 6,5-8 6-7 7-8
Điaxely (mg/l) <0,130 <0,15 <0,135
2. Chỉ tiêu vi sinh
Vi khuẩn hiếm khí
sản phẩm nên nguyên liệu trước khi nhập kho cần phải được kiểm tra chặt chẽ.
Người làm công tác kiểm tra nguyên liệu phải được kiểm tra chặt chẽ, phải được
đào tạo chuyên môn và nắm được tiêu chuẩn thu mua. Nắm bắt được chất lượng lô
hàng, lấy mẫu mã đúng quy cách có tinh thần trách nhiệm và trung thực trong kiểm
tra quyết không đưa vào sản xuất những nguyên liệu không đảm bảo chất lượng
theo tiêu chuẩn đề ra....
Về tổ chức : Cơ cấu gọn nhẹ, linh hoạt, phòng kỹ thuậtcông nghệ kiểm
tra chất lượng sản phẩm, nghiên cứu triển khai duy trì và nâng cao chất lượng
sản phẩm bằng việc ngăn ngừa các mối nguy hại trong quá trình sản xuất.
Phòng kế hoạch tiêu thụ : Vừa đảm nhận công tác tiêu thụ vừa thực hiện
việc cập nhật các thông tin về chất lượng sản phẩm từ phía khách hàng phản hồi
nhanh tới nơi sản xuất để các phòng ban liên quan có phương án kiểm tra giám
sát cũng như hiệu chỉnh mức chất lượng từ đó luôn tung ra thị trường những sản
phẩm có chất lượng cao vào bất kỳ thời điểm nào.
* Về trang thiết bị : Thiết bị đo lường phải đầy đủ, có độ chính xác cao
như cân, đo, phân tích hoá học.
Công ty cần đầu tư thay thế những thiết bị đã cũ, hỏng, tổ chức thực hiện
tốt bảo quản máy móc thiết bị đúng kỹ thuật theo kế hoạch đã đặt ra.
Công ty nên mở lớp, tạo điều kiện cho cán bộ công nhân công ty học tập
để tham gia phát huy tối đa khả năng sáng tạo.
3. Hiệu quả đem lại :
Việc xác định hiệu quả kinh tế cho các biện pháp về quản lý và kỹ thuật
được đưa ra ở trên để nâng cao chất lượng sản phẩm là khó có thể xác định
được chính xác vì nó liên quan đến chi phí, giá thành. Quản lý chất lượng tốt sẽ
mang lại cho Công ty là tránh những hao phí do sản phẩm hỏng, tiết kiệm thời
gian, lao động nhờ đó giảm được giá thành sản phẩm. Chúng ta có thể xem xét
giảm hao phí bằng cách làm giảm sản lượng bia không đảm bảo phẩm chất qua
hai biểu sau:
Biểu 37: Lượng bia tiết kiệm do giảm tỷ lệ kém phẩm chất.
Loại bia
(chỉ thu hồi làm bia hơi)
Lượng bia kém
phẩm chất KH 01
(lit)
Hao phí
khi tái chế
(%)
Lượng bia
hơi thu hồi
(lít)
Giá bán
(Đồng/lít)
Số tiền thu
(đồng)
2735 20% 2188 4000 8.752.000
Ngoài ra Công ty nâng cao chất lượng sản phẩm đó là khắc phục được
tình trạng sản phẩm gần đến hạn sử dụng do còn tồn đọng trong kho dài ngày.
Nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm và uy tín của Công ty góp phần
quan trọng trong việc duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ đặc biệt là đối với
những mặt hàng phải cạnh tranh mạnh. Từ đó tăng nhanh khối lượng sản phẩm
tiêu thụ trên từng khu vực thị trường đưa lại hiệu quả kinh tế cao như tăng tốc
độ chu chuyển vốn và có hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí lao động sống,
tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của Công ty.
II. GIẢM GIÁ BÁN SẢN PHẨM ĐẾN NGƯỜI TIÊU DÙNG:
1. Cơ sở lý luận thực tiễn :
Giá cả là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh khách quan của nhiều hoạt
động nó có quan hệ đến chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doan, số lượng sản phẩm
tiêu thụ và chính sách định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp. Giảm được giá
bán trên thị trường nhất là đối với sản phẩm cùng loại so với đối thủ cạnh tranh
trên thị trường có ý nghĩa quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản
Với giá bán buôn thương đối thấp 4000đ/lít loại bia này phục vụ cho tầng
lớp bình dân khách hàng này là khách hàng thường xuyên. giá bán bia hơi trên
thị trường hiện nay cao ≈ 9000đ/lít trong khi đó giá bia Halida ≈ 6000đ/lít sự
chênh lệch này cũng làm giảm mức tiêu thụ của bia hơi Hà Nội.
* Đối với sản phẩm bia lon:
Là loại sản phẩm cao cấp giá bán tại Công ty 15.000đ/lít, khách hàng mua
sản phẩm bỏ thêm chi phí vỏ lon nên đắt hơn 2 loại kia và khi đến tay người tiêu
dùng là 21.000đ/lít.
Tóm lại đối với cả 3 loại sản phẩm của Công ty đều có hạn chế tiêu thụ
do giá bán tới người tiêu dùng cao. Việc phấn đấu giảm giá bán tới tay người
tiêu dùng có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện chiến lược cạnh tranh về giá
nhằm đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
2. Nội dung của biện pháp
Về phía đại lý : Công ty cho người theo dõi chặt chẽ giá bán đối với các
điểm bán bia hơi cần có biện pháp khuyến khích giảm được giá bán xuống
9000đ → 7500đ/lít là phù hợp. Muốn vậy ta cần khuyến khích các cửa hàng tự
giảm giá. Nếu 1 cửa hàng giảm giá đồng thời các cửa hàng khác cũng giảm
theo, mặt khác Công ty cử người xem các cửa hàng bán bia hơi Hà Nội có có
đúng là bán bia Hà Nội hay không. bởi có cửa hàng lấy biển hiệu bia Hà Nội
nhưng thực ra lại bán bia loại khác, chính như vậy cũng đã ảnh hưởng đến uy
tín và chất lượng bia của Công ty.
Đối với bia chai Công ty nên ưu tiên cho nhà hàng trở thành những khách
hàng mua bán để họ không phải mua lại từ các đại lý như vậy giá sẽ giảm đáng
kể. Như vậy cho dù ở bất cứ nơi nào người tiêu dùng sẽ thưởng thức với mức
giá tương đương.
Về phía Công ty : Công ty có hình thức khuyến khích đến người bán
buôn, giúp họ bán đúng giá quy định tích cực trong công tác tiêu thụ. Bán đúng
giá quy định, các địa lý có lợi nhuận ít do vậy Công ty cần có hình thức khuyến
khích bằng hiện vật.
Cuối năm 2001 Công ty áp dụng hình thức thưởng sản phẩm như :
của khách hàng, hướng dẫn kịp thời tránh cho khách hàng đi lại nhiều lần gây ra
khó chịu, bực mình.