HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT VÀ DỊCH VỤ CƠ ĐIỆN HÀ NỘI - Pdf 64

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY SẢN
XUẤT VÀ DỊCH VỤ CƠ ĐIỆN HÀ NỘI
I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU .
Nền sản xuất xã hội luôn có sự vận động và phát triển không ngừng do
sự tác động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Cùng với sự vận động
này cơ chế quản lý cũng phải thường xuyên đổi mới để phù hợp với sự phát
triển của nền sản xuất hàng hoá. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã tiến hành
công cuộc cải cách cơ chế quản lý ngay sau khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường.
Hạch toán kế toán là một bộ phận của hệ thống công cụ quản lý Nhà
nước trong việc chỉ đạo các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường.
Khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, Nhà nước cho phép các doanh nghiệp
chủ động trong sản xuất kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật nên hạch toán
càng
có vai trò quan trọng. Cùng với sự thay đổi về quản lý kinh tế, hạch toán kế
toán cũng chịu sự chi phối cần đổi mới hoàn thiện.
Hạch toán tốt nguyên vật liệu sẽ đảm bảo việc cung cấp kịp thời đồng
bộ những vật liệu cần thiết cho sản xuất; kiểm tra, giám sát việc chấp hành
định mức, dự trữ tiêu hao nguyên vật liệu ngăn ngừa các hiện tượng mất mát
lãng phí, đồng thời giảm chi phí hạ giá thành sản xuất, góp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động.
Hiện nay trên thực tế, công tác hạch toán nguyên vật liệu vẫn còn phức
tạp cồng kềnh cần được giảm bớt. Vì vậy, các doanh nghiệp tuỳ theo yêu cầu
quản lý của doanh nghiệp mình cần có các biện pháp quản lý, hạch toán theo
hướng đơn giản nhưng vẫn đảm bảo đúng chế độ quy định.
Công cuộc cải cách chế độ kế toán ở nước ta theo quyết định
1141/TC/CĐKT ngày 1 tháng1 năm 1995 đã đáp ứng yêu cầu quản lý hạch
toán trong tình hình mới và phù hợp với chuẩn mực thông lệ quốc tế. Do điều
kiện nước ta đi sau nên chúng ta đã tận dụng đựoc những kinh nghiệm và sự
giúp đỡ cáu các chuyên gia nước ngoài trong việc xây dựng chế độ kế toán phù
hợp. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng vào thực tế ở từng doanh nghiệp

sản xuất của công ty. Về cơ bản bộ máy kế toán đã đáp ứng được yêu cầu hạch
toán, phản ánh, giám đốc được tình hình sử dụng vật tư, tiền vốn, thu thập xử
lý và cung cấp thông tin về các quá trình kinh tế diễn ra trong công ty.
Kế toán áp dụng hình thức sổ Nhật ký chứng từ theo phương pháp kê khai
thường xuyên. Hệ thống chứng từ, sổ sách ghi chép tổng hợp nói chung được tổ
chức hợp pháp hợp lệ và theo đúng chế độ hiện hành đảm bảo tính chính xác,
rõ ràng trong công tác hạch toán. Công tác hạch toán nguyên vật liệu cũng
được tiến hành có nề nếp theo đúng chế độ.
Công ty áp dụng phương pháp thẻ song song để hạch toán chi tiết nguyên
vật liệu. Về cơ bản công ty đã tuân thủ theo đúng trình tự hạch toán, ghi chép
đầy đủ các biến động về nguyên vật liệu.
Để có được kết quả này là do sự nỗ lực của các cán bộ phòng tài vụ nói
chung, kế toán nguyên vật liệu nói riêng cùng với sự lãnh đạo đúng đắn của Kế
toán trưởng công ty.
Bên cạnh những ưu điểm cơ bản nêu trên, công tác quản lý hạch toán
nguyên vật liệu còn tồn tại những mặt chưa hợp lý:
- Công ty đã tiến hành phân loại nguyên vật liệu theo công dụng của nguyên
vật liệu đối với quá trình sản xuất. Nguyên vật liệu chính của công ty chủ yếu là
Inox nhưng công ty sử dụng rất nhiều loại Inox khác nhau về hình dáng ( lá, lá
băng, hộp, tròn. . .); khác nhau về kích thước ( cùng là Inox hộp nhưng có:
22x22x1,2lyx1m9; 30x60x1,2lyx1m9. . .) nên dễ bị nhầm lẫn, nhưng công ty
chưa xây dựng Sổ danh điểm vật tư nên có ảnh hưởng tới quá trình theo dõi và
đối chiếu giữa kho và kế toán trong việc tìm kiếm.
III - Cuối tháng khi hàng còn đang đi đường, ở công ty không hạch toán vào
TK 151 để theo dõi mà chờ đến khi hàng về mới làm thủ tục nhập kho và ghi sổ
kế toán, điều này chưa đúng với chế độ kế toán hiện hành.
-Trong quá trình hạch toán nguyên vật liệu công ty đã sử dụng bảng kê
số 3 để hạch toán. Điều này là không hợp lý, bởi vì trong kỳ công ty không sử
dụng giá hạch toán để ghi giá trị nguyên vật liệu xuất kho mà sủ dụng giá thực
tế bình quân cả kỳ dự trữ tính được cuối kỳ để ghi sổ.

Đơn vị tính Ghi chú
152.C.01.01
Inox Φ 31,8x1,2ly x 2m57
Kg
152.C.01.02
Inox Φ 31,8x1,2 ly x 2m37
Kg
. . . . . . .
152.C.02.01
Inox  22x22x1,2ly x1m9
Kg
152.C.02.02
Inox  30x60x1,2ly x1m9
Kg
. . . . . . . .
152.P.01.01 Bu lông M8*60 Cái
152.P.01.02 Bu lông M 10*30 Cái
. . . . . . . . .
152.P.02.01 Vít M8* 60 Cái
152.P.02.02 Vít M6*30 Cái
. . . . . . . . .
. . . . . . . . .
1.2.Lập phiếu giao nhận chứng từ nhập- xuất
Về giao nhận chứng từ giữa thủ kho và kế toán: Vì nguyên vật liệu của
công ty phải nhập xuất làm nhiều lần nên số lượng chứng từ về nhập xuất
nguyên vật liệu ở công ty tương đối nhiều, để nâng cao trách nhiệm bảo quản
chứng từ, có cơ sở pháp lý để quy kết trách nhiệm khi chứng từ bị mất, công ty
nên lập sổ giao nhận chứng từ. Mẫu phiếu giao nhận chứng từ có thể lập như
sau:
Biểu số 22:

Số
lượn
g
Đ.giá
(đồng)
Thành tiền
(đồng)
SH NT
01 4.1 Inox USU 304 o,4ly*1020*cuộn Kg 111 584,4 27.619 16.140.543
Inox USU 304 o,6ly*1020*cuộn Kg 111 240,2 24.286 5.833.497
02 4.1 Vít M6*30 Cái 331 7.500 1.018 7.653.000
Bu lông M10*30 Cái 331 2.500 2.666 6.665.000
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Tổng cộng 712.666.018
Người lập biểu
( Ký, ghi rõ họ tên)
Biểu số 24:
Đơn vị:
BẢNG KÊ CHỨNG TỪ XUẤT
Tháng 1 năm 2001
Kho: vật tư kim khí
Chứng từ
Diễn giải
ĐV
tính
TK
ĐƯ
Số
lượn
g


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status