1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
==============***==============
NHÓM TÁC GIẢ
Nhóm 4 – Lớp KT14A
TÊN ĐỀ TÀI
GIẢI PHÁP KHAI THÁC THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC
PHỤC VỤ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM.
Giáo viên hướng dẫn:
PGS. TS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG
HÀ NỘI - 2006
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là những vấn đề được các nhà
khoa học, các nhà quản lý, nhà doanh nghiệp... quan tâm và bàn luận ở nhiều khía
cạnh khác nhau. Đề tài này bàn về việc khai thác thị trường Trung Quốc phục vụ
cho tiến trình hội nhập ở Việt Nam.
I. YÊU CẦU CỦA TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP.
Do sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất, công nghệ thông tin
và vì lợi ích của chính mình, các nước phát triển đã phát động toàn cầu hóa. Vì
vậy toàn cầu hoá là đòi hỏi khách quan, các nước phát triển dù đang đối mặt với
rất nhiều khó khăn cũng buộc mình phải tham gia vào quá trình toàn cầu hoá, nếu
không sẽ bị loại khỏi cuộc chơi và bị phân biệt đối xử. Nhận thức được bản chất
của toàn cầu hoá, các quốc gia đã chủ động tham gia vào quá trình này. Vì vậy
hội nhập kinh tế quốc tế mang tính chủ quan trong nhận thức và hành động của
từng quốc gia.
Về hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng ta cũng đã vạch ra đường lối trong các
kỳ đại hội.
Trước những thay đổi to lớn về kinh tế thế giới, cách mạng khoa học kỹ
thuật và sinh học, sự tan rã của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa Đông Âu..., từ Đại hội
VII Đảng đã chủ trương “Độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ
đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong
KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM.
3
Trung Quốc với 1,2 tỷ dân là một thị trường quan trọng của Việt Nam.
Trung Quốc và Việt Nam có những lợi thế về vị trí, truyền thống quan hệ sự
tương đồng về văn hoá... Trước hết ta thấy Việt Nam có vị trí địa lý kinh tế thuận
lợi cho việc thâm nhập thị trường Trung Quốc, đặc biệt là thị trường các tỉnh Tây
Nam.
Cơ cấu hàng hoá Việt Nam – Trung Quốc tuy một mặt có tính cạnh tranh,
mặt khác có sự bổ sung cho nhau. Hiện nay Việt Nam đang có thế mạnh xuất
khẩu nguyên liệu thô sang thị trường Trung Quốc. Chỉ riêng ba mặt hàng: dầu
thô, than đá và cao su đã chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này.
Một số mặt hàng tiêu dùng Việt Nam đã thâm nhập thị trường Trung Quốc như:
giầy dép bitis, nông sản nhiệt đới, thủy sản... do đó chúng ta có thể tiến tới đa
dạng hoá xuất khẩu sang Trung Quốc gồm cả xuất khẩu thành phẩm chứ không
phải tập trung vào nguyên nhiên liệu thô như hiện nay.
Khu vực miền Trung và miền Tây Trung Quốc là nơi có thể tiêu thụ hàng
hoá của Việt Nam tốt nhất, thuận lợi nhất vì gần Việt Nam. Trình độ tiêu dùng
của dân cư ở đây phù hợp với trình độ sản xuất của Việt Nam. Đây là thị trường
rộng lớn gồm 10 tỉnh của Trung Quốc. Các khu vực này được Nhà nước Trung
Quốc khuyến khích phát triển kinh tế, nên cơ hội cạnh tranh chiếm thị trường của
hàngViệt Nam đang rất thuận lợi. So với khu vực duyên hải miền Đông Trung
Quốc thì sức mua và tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật ở khu vực này thấp hơn, hoàn
toàn phù hợp với hàng hoá của Việt Nam.
Sau khi là thành viên của WTO Trung Quốc đã sửa đổi bổ sung và ban
hành nhiều chính sách, cơ chế quản lý xuất nhập khẩu mới cho phù hợp với quy
định của WTO, đồng thời Trung Quốc cũng dành cho các nước ASEAN trong đó
có Việt Nam được hưởng ngay lập tức và đầy đủ MFN (ưu đãi tối huệ quốc), về
thuế quan và chuẩn mực WTO mà Trung Quốc đã cam kết bao gồm: thương mại
hàng hoá (thuế quan và phi thuế quan), dịch vụ... Hiện có 6 nhóm mặt hàng của
4