THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH
2.1. Khái quát về Ngân hàng Công thương Ba đình:
Ngân hàng công thương Ba đình được thành lập năm 1961 với tư cách
là một chi nhánh của Ngân hàng Nhà nước quận Ba Đình, thực hiện cả hai
chức năng quản lý Nhà nước và kinh doanh tiền tệ.
Nghị định 53/HĐBT ban hành ngày 26/3/1988 với nội dung đổi mới
hoạt động ngân hàng đã chính thức chuyển hoạt động của NHCT Ba Đình sang
thời kỳ kinh doanh tiền tệ chuyên nghiệp.
Ngày 14/11/1990 Chủ tịch HĐBT ra quyết định 402/CT về việc thành lập
Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Ba Đình trở thành
một Chi nhánh của NHCT Thành phố Hà Nội.
Tháng 4/1995 NHCT đổi mới cơ chế tổ chức và quản lý từ mô hình ba
cấp sang mô hình hai cấp , NHCT Ba Đình hoạt động với tư cách là Chi nhánh
trực thuộc thẳng NHCT Việt Nam.
Trải qua nhiều thử thách khắc nghiệt của cơ chế thị trường, NHCT Ba
Đình đã đứng vững vàng và luôn chứng tỏ là một Chi nhánh hoạt động có hiệu
quả của hệ thống NHCT Việt Nam. Cùng với thời gian, NHCT Ba Đình đã từng
bước hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức lẫn hoạt động nghiệp vụ.
Hiện nay, NHCT Ba Đình có 332 cán bộ công nhân viên chia thành 8
phòng ban trực thuộc ban giám đốc, trong đó có 7 phòng chức năng là: Phòng
kinh doanh đối nội, phòng kinh doanh đối ngoại, phòng kế toán tài chính,
phòng ngân quỹ, phòng nguồn vốn, phòng kiểm soát và phòng hành chính tổ
chức. Ngoài ra còn một phòng giao dịch đặt tại Cầu Diễn đang được xúc tiến để
hình thành nên Chi nhánh NHCT Cầu Giấy trực thuộc NHCT Ba Đình.
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC TỔ CHỨC CỦA
NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH
Quận Ba
Đình,
trung
tâm văn hoá của
g
hành
chính
tổ
chức
Phòng kế toán tài chínhPhòng
kinh
doanh
đối
ngoại
Phòng
kinh
doanh
đối nội
Phòn
g
nguồ
n vốn
Phòng
ngân
quỹ
Phòng
kiểm
soát
Đến cuối năm 2001, số khách hàng đến giao dịch với Chi nhánh đạt gần
1.400 người tăng so với năm 2000 trên 100 khách hàng và tổng số tài khoản
hoạt động là 3.386 tài khoản. Số khách hàng có quan hệ tín dụng với Chi nhánh
là 705 bao gồm 128 DNNN, 18 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 559 hộ tư
nhân cá thể, trong đó có 60 khách hàng có dư nợ từ 1-5 tỷ VND, 18 khách hàng
có dư nợ từ 5-10 tỷ VND và 19 khách hàng có số dư nợ trên 10 tỷ VND.
mạng lưới rộng, thái độ phục vụ nhiệt tình nhanh gọn, chính xác, thủ tục thuận
lợi, hình thức huy động phong phú... NHCT Ba Đình ngày càng thu hút được
nhiều khách hàng đến giao dịch, kết quả nguồn vốn của Chi nhánh luôn tăng
trưởng ổn định chẳng những đáp ứng đủ nhu cầu đầu tư tín dụng mà còn
thường xuyên nộp vốn thừa về NHCT Việt Nam để điều hoà toàn hệ thống.
Bảng 2 : Thực trạng huy động vốn ở NHCT Ba Đình
phân tích theo tốc độ tăng trưởng
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Số tiền
%/
200
0
Số tiền %/
199
9
Số tiền %/
2000
Tổng vốn huy động 1075475 1271265 118 1615961 127
Tiền gửi TCKT 459200 109 453663 99 588235 130
Tiền gửi dân cư 569871 139 744270 131 1022031 137
Kỳphiếu,trái phiếu 46404 126 73329 158 5695 8
Nguồn : Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình
Số liệu bảng trên cho thấy tổng nguồn vốn huy động của NHCT Ba Đình
mấy năm gần đây vẫn tăng trưởng ổn định với tốc độ cao bất chấp những ảnh
hưởng tiêu cực của nền kinh tế. Năm 1999 là năm xảy ra cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực, tình hình kinh tế không ổn định nhưng Ngân hàng vẫn
thu hút được 1.075 tỷ đồng, tăng 24 % so với năm 1998.. Năm 2000 ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng còn nặng nề nhưng số vốn huy động vẫn tăng
18% đạt 1.271 tỷ đồng. Năm 2001, nền kinh tế vẫn còn trì trệ, đất nước lại chịu
Tổng số 898084 177391 1088067 183198 1345218 270743
TG TCKT 311989 147211 419119 34544 516190 72045
TG dân cư 539934 29937 612406 131864 828842 193189
KP, TP 46161 243 56542 16787 186 5509
Nguồn : Báo cáo hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình
Biểu 2 : Tình hình huy động vốn của NHCT Ba Đình
phân tích theo nội, ngoại tệ
Lượng vốn huy động bằng nội tệ của NHCT Ba Đình chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng vốn huy động so với số vốn huy động bằng ngoại tệ.
Trong những năm qua, cùng với uy tín và chất lượng các dịch vụ thanh
toán, NHCT Ba Đình ngày càng thắt chặt mối quan hệ với khách hàng cũ, thu
hút thêm ngày càng nhiều khách hàng mới về mở tài khoản giao dịch với Ngân
hàng .
Từ năm 1999 đến nay tiền gửi giao dịch bằng VND vẫn tiếp tục tăng,
năm 2000 tăng 107.130 trđ, năm 2001 tăng 97.077 trđ. Tốc độ tăng này có
nguyên nhân khách quan do sự ổn định trở lại của nền kinh tế sau cơn khủng
hoảng tài chính tiền tệ khu vực. Thêm vào đó, quyết định 160/QĐ/NH2 của
thống đốc NHNN Việt Nam cho phép mở và sử dụng tài khoản của doanh
nghiệp tư nhân và cá nhân đã làm tăng số dư tiền gửi tại Ngân hàng.
Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sút tiền gửi của tổ chức kinh tế
năm 2000 là do sự giảm sút lượng tiền gửi bằng ngoại tệ của các đối tượng
này. Năm 1999 số dư tiền gửi ngoại tệ ở mức cao là 147.211 trđ; nguyên nhân
của tình trạng đó là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu
vực, đồng nội tệ mất giá, các tổ chức kinh tế muốn thanh toán bằng ngoại tệ để
giảm bớt thiệt hại. Năm 2000, do tỷ gía có nhiều biến động theo hướng bất lợi
đã làm giảm hẳn nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ, số dư tiền gửi ngoại tệ chỉ
có 34.544 trđ. Sang năm 2001 tỷ giá ổn định trở lại, số dư tiền gửi ngoại tệ lại
tăng lên đạt 72.045 trđ, kết hợp với tốc độ tăng của tiền gửi nội tệ đã làm số
dư tiền gửi của các tổ chức kinh tế tăng tới 30%.
Cùng với nguồn tiền gửi giao dịch của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết
NHCT Ba Đình còn thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi, tín dụng chính
sách như chương trình tín dụng tạo việc làm hay cho vay sinh viên... Các
chương trình này đều thực hiện với lãi suất ưu đãi, tuy số dư không nhiều
nhưng nó mang ý nghĩa xã hội sâu sắc được mọi tầng lớp nhân dân ủng hộ,
nâng cao uy tín của ngân hàng.
Bảng 4 : Tình hình sử dụng ở NHCT Ba Đình
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Tổng số %/98 Tổng số %/99 Tổng số %/0
0
Huy động vốn 1075475 124 1271265 118 1615961 127
Sử dụng vốn 555998 113 551736 99 723305 131
Hê số sử dụng
vốn
53% 48% 45%
Nguồn : Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình
Bảng trên cho ta thấy tình hình sử dụng vốn của NHCT Ba Đình có nhiều
tiến bộ. Ngoại trừ năm 2000 tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng giảm một chút
( ở mức 1% ) còn lại đều tăng, năm 1999 tăng 13% và đặc biệt là năm 2001
tăng tới 31%. Sự giảm sút dư nợ năm 2000 là do năm này hoạt động sản xuất
kinh doanh gặp nhiều khó khăn, sức mua giảm sút , môi trường kinh doanh
không thuận lợi, các doanh nghiệp hạn chế mở rộng sản xuất nên nhu cầu vay
vốn giảm. Sang năm 2001, tình hình nền kinh tế phần nào được cải thiện, kết
hợp với sự quyết tâm cao của cán bộ nhân viên đã làm dư nợ của NHCT Ba
Đình tăng tới 31% so với năm 2000.
Biểu 3 : Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn
của Ngân hàng Công thương Ba Đình
Tuy nhiên, hệ số sử dụng vốn của NHCT Ba Đình lại có chiều hướng giảm
qua các năm. Năm 1999, hệ số sử dụng vốn là 53%, năm 2000 giảm xuống còn
48% và năm 2001 là 45%. Đó là do tốc độ tăng trưởng vốn huy động của Ngân
Nhà nước, tác động tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần. Tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh, khuyến
khích sự phát triển lành mạnh của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Mặt khác, khu vực kinh tế quốc doanh có những lợi thế tuyệt đối so với khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh, kinh tế quốc doanh nắm giữ phần lớn những ngành
kinh tế then chốt của nền kinh tế, số vốn hoạt động của các doanh nghiệp quốc
doanh lớn, lợi thế quy mô đã làm doanh nghiệp quốc doanh làm ăn có hiệu quả
và an toàn hơn.
Tuy kém lợi thế so với khu vực kinh tế quốc doanh nhưng khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh vẫn là thị trường tiềm năng của Ngân hàng. Song, do hiện
nay khả năng quản lý của các doanh nghiệp tư nhân yếu, thị trường có nhiều
biến động phức tạp, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tư nhân thấp
nên mức dộ rủi ro khi cho vay khu vực này là cao đã hạn chế khả năng cho vay
của Ngân hàng. Hơn nữa, do số vốn tự có thấp, ít có tài sản thế chấp, lại thiếu
phương án kinh doanh có hiệu quả... vì thế số doanh nghiệp tư nhân có đủ điều
kiện vay vốn Ngân hàng là rất ít. Xuất phát từ thực tế đó, hoạt động tín dụng
đối với khu vực ngoài quốc doanh ở NHCT Ba Đình hiện nay chỉ ở mức cầm
chừng, Ngân hàng chỉ cho vay với những khách hàng quen thuộc, có uy tín và
hoạt động có hiệu quả còn những khách hàng mới đến giao dịch phải có đủ
điều kiện vay vốn theo quy định và phải qua những bước kiểm định chặt chẽ
mới được xét duyệt cho vay.
Bảng 6 : Thực trạng dư nợ tại NHCT Ba Đình
Phân tích theo thời hạn tín dụng
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ 1999 2000 2001
tiêu Số tiền % %/
98
Số tiền % %/
99
Số tiền % %/
Mức tăng trưởng tín dụng ngắn hạn năm 2001 đạt được do NHCT Ba
Đình đã áp dụng nhiều biện pháp chủ động, sáng tạo, triển khai kịp thời các
chủ trương chỉ đạo của ngành; thái độ, phong cách giao dịch với tinh thần
trách nhiệm cao; hoạt động tín dụng đảm bảo thông suốt, thuận tiện. Ngân
hàng có quan hệ tốt với khách hàng và áp dụng chính sách khách hàng một
cách linh hoạt, đặc biệt quan tâm đến các khách hàng truyền thống, những
đơn vị có tình hình tài chính tốt, sản xuất kinh doanh có hiệu quả như Tổng
công ty Cà phê Việt Nam, Tổng công ty Chè Việt Nam, Tổng công ty thép Việt
Nam, Tổng công ty Xây dựng Thăng Long, Tổng công ty Xây dựng công trình 1,
Công ty cầu 14, Công ty dung dịch khoan hoá phẩm dầu khí, Công ty may Chiến
Thắng, Công ty xây dựng cấp thoát nước... Ngoài ra, Ngân hàng luôn đẩy mạnh
công tác tiếp thị thu hút thêm nhiều khách hàng mới đến giao dịch.
Về tín dụng trung dài hạn năm 2001, số dự án không nhiều, vốn đầu tư
không lớn nhưng Chi nhánh đã kịp thời đầu tư vốn cho một số dự án khả thi
như dự án đầu tư máy xúc, trạm trộn bê tông của công ty bê tông xây dựng Hà
Nội, thiết bị thi công cầu của Xí nghiệp thiết kế Thăng Long, công ty xây dựng
công trình 120, công ty xây dựng công trình 810, công ty xây dựng công trình
134, công ty xây dựng số 4, hệ thống dẫn bùn của tổng công ty xây dựng đường
thuỷ, bộ thiết bị chế bản phân màu điện tử của công ty in và văn hóa phẩm. Tuy
nhiên, do tình hình của nền kinh tế, mọi hoạt động phát triển kinh doanh, sản
xuất nói chung có xu hướng giảm tốc độ tăng trưởng nên việc cho vay đầu tư
của NHCT Ba Đình cũng bị hạn chế.
Bảng 7 : Thực trạng dư nợ tại NHCT Ba Đình
Phân tích theo nội tệ, ngoại tệ
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
tiêu Số tiền % %/
98
Số tiền % %/
99
séc du lịch, dịch vụ thanh toán qua ngân hàng dưới các hình thức sử dụng séc,
L/C nhập, L/C xuất, nhờ thu đi, thanh toán nhờ thu hay thanh toán chuyển tiền
điện ( T/T ) ... Các hoạt động này đã góp phần nâng cao uy tín, thu hút khách
hàng đến giao dịch đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho Ngân hàng.
Cùng với việc mở rộng các hoạt động, NHCT Ba Đình luôn đặt ra mục
tiêu an toàn và hiệu quả. Trong hoạt động của NHCT Ba Đình có thể thấy tín
dụng là hoạt động trọng tâm và cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Nghiên cứu
rủi ro tín dụng tại NHCT Ba Đình sẽ giúp ta có cái nhìn tổng quát về thực trạng
rủi ro trong hoạt động tín dụng, tìm ra những nguyên nhân để từ đó đưa ra
các giải pháp có tính thực tiễn nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt
động tín dụng của Ngân hàng.
2.3. Rủi ro tín dụng ở NHCT Ba Đình:
2.3.1. Thực trạng rủi ro tín dụng:
2.3.1.1. Tình hình lãi treo:
Bảng 8 : Tình hình lãi treo ở NHCT Ba Đình
Đơn vị : triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Lãi treo phát sinh 15187 15135 16033
Lãi treo thu được 8550 10754 14915