Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG CỦA NHTM
1.1 Tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh
tế quốc dân
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại, trong đó
NHTM ( bên cho vay ) thoả thuận chuyển giao tài sản ( tiền hoặc hiện vật )
cho khách hàng ( bên đi vay ) sử dụng trong một thời gian nhất định, khi đến
hạn thanh toán, bên đi vay có trách nhiệm vô điều kiện trong hoàn trả gốc ban
đầu và trả thêm phần lãi cho bên cho vay. Hoạt động tín dụng là hoạt động tạo
phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Các khoản thu của hoạt động tín dụng
chiếm tỷ trọng lớn hoặc lớn nhất trong các hoạt động của ngân hàng. Hình
thức tín dụng truyền thống của ngân hàng thương mại là cho vay ngắn hạn có
đảm bảo bằng tài sản, giúp khách hàng mua hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu,
sau đó mở rộng thành nhiều hình thức khác nhau như cho vay thế chấp bằng
bất động sản, bằng các chứng khoán, bằng giấy tờ lưu kho hoặc không cần thế
chấp. Tuy vậy, hoạt động tín dụng phải đảm bảo một số điều kiện của môth
hợp đồng tín dụng là:
Thứ nhất, thời hạn, lãi suất và hạn mức hoàn trả của hợp đồng. Sau
khoảng thời gian ghi trong hợp đồng người vay cần phải hoàn trả vốn và lãi
cho ngân hàng.
Thứ hai, vốn vay phải đảm bảo được sử dụng đúng mục đích. Khoản
vay phải dựa trên phương án sản xuất kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro
đạo đức trong quá trình giải ngân.
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
1
Thứ ba, vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương. Tài sản
đảm bảo có thể là: vốn vay ngân hàng, tài sản cầm cố hoặc thế chấp, bảo
lãnh…
chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản. Cam kết đảm
bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình đang sở
hữu hoặc sử dụng hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả nợ cho ngân
hàng. Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng
phải kí hợp đồng đảm bảo.
1.1.2.4. Phân loại tín dụng theo rủi ro
Theo tiêu thức này, ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ
để phân loại rủi ro. Thí dụ như tín dụng lành mạnh, tín dụng có vấn đề, nợ quá
hạn…
1.1.2.5. Phân loại khác
Theo ngành kinh tế ( công, nông nghiệp…)
Theo đối tượng tín dụng ( tài sản lưu động, tài sản cố định )
Theo mục đích ( sản xuất, tiêu dùng… )
1.1.3. Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên mà ngân
hàng thực hiện là mở các tài khoản tiền gửi. Nhìn vào bảng cân đối kế toán
của các ngân hàng ta thấy: Vốn tự có chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chủ yếu là vốn
huy động. Hoạt động tín dụng dựa vào nguồn tiền huy động được là chủ yếu.
Nghiệp vụ huy động vốn bao gồm: nghiệp vụ nhận tiền gửi, nghiệp vụ đi vay,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
3
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM. Khách hàng gửi tiền vao
ngân hàng vì nhiều mục đích khác nhau như an toàn, sinh lời, thanh khoản,
tuỳ theo mục tiêu của khách hàng. Dịch vụ thanh toán của ngân hàng đảm bảo
cho hoạt động thanh toán của doanh nghiệp nhanh và chính xác, tiết kiệm chi
phí. Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn khoảng 50-80% trong tổng nguồn vốn huy
động được, có ngân hàng tỷ lệ này tới 90%. Tiền gửi là nguồn tiền có chi phí
rẻ nhưng không ổn định, ngân hàng không chủ động được về số lượng và kỳ
hưởng các dịch vụ thanh toán từ ngân hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở
đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, khách hàng chỉ cần viết séc hoặc uỷ
nhiệm chi…sau đó người hưởng thụ mang giấy đến ngân hàng hoặc ngân
hàng chi hộ để nhận tiền.Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin,
nhiều hình thức thanh toán được phát triển như: thanh toán quốc tế ( L/C ),
thẻ điện tử, máy ATM…Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng giúp khách hàng
thanh toán nhanh gọn, chính xác, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn…
1.1.3.4. Nghiệp vụ khác
Ngoài 3 nghiệp vụ nói trên, NHTM còn có một số các nghiệp vụ khác
như: cung cấp dịch vụ môi giới, uỷ thác, tư vấn, đầu tư chứng khoán…những
lĩnh vực này góp phần tạo thêm uy tín và niềm tin của ngân hàng đối với các
khách hàng.
1.1.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế
Các NHTM hoạt động độc lập nhưng lại liên kết chặt chẽ hình thành hệ
thống và ảnh hưởng qua lại với nhau. Sức mạnh của NHTM không phải là sức
mạnh của bản thân nó mà là sức mạnh của xã hội. Hệ thống NHTM là hệ
thống huyết mạch của nền kinh tế, không chỉ là nơi cung cấp tín dụng và dịch
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
5
vụ tài chính – ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống NHTM cũng
ngày càng phát triển cả về quy mô và số lượng, khẳng định vai trò của một
trung gian tài chính không thể thiếu trong hệ thống tài chính quốc gia. Đồng
thời khẳng định vai trò chủ yếu của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và đối với sự tồn tại và phát triển của bản thân các
ngân hàng nói riêng.
* Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với bản thân các NHTM
Cấp tín dụng là một hoạt động chủ yếu của NHTM, đây là nguồn thu chủ
yếu trong tổng nguồn thu của Ngân hàng, chiếm từ 60 – 70 %. Do mục tiêu
động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Muốn thực hiện điều đó, các
chủ thể kinh doanh cần cải tiến kỹ thuật, hoàn thiện quản lý, tìm kiếm thị
trường mới. Đòi hỏi một lượng vốn lớn và kịp thời. Tín dụng ngân hàng sẽ là
nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó. Tuy nhiên, các nhà kinh doanh cần
phải tìm ra nhiều biện pháp sử dụng vốn hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn
nhằm trả nợ vay tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi nếu không có thể dẫn tới
nguy cơ phá sản. Thực hiện được điều này trong nền kinh tế thị trường là một
cuộc cạnh tranh gay gắt và quyết liệt. Vì thế mà thúc đẩy sự phát triển ngày
càng cao của nền kinh tế hàng hoá.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế
quan trọng.
Ngày nay, trong quan hệ kinh tế đối ngoại, sự hợp tác bình đẳng cùng có
lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang đựơc thúc đẩy mạnh cả
về chiều rộng và chiều sâu. Trong đó, vốn đầu tư ra nước ngoài và kinh doanh
xuất nhập khẩu hàng hoá đựơc coi là hai lĩnh vực hợp tác thông dụng nhất
giữa các nước. Nhưng thực tế không phải một tổ chức kinh tế nào cũng có đủ
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
7
vốn để hoạt động. Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng là trợ thủ đắc
lực, sẽ cung cấp vốn cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, góp
phần thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có một vai trò hết sức quan trọng đối với
nền kinh tế cũng như đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương
mại. Để phát huy vai trò đó, các nước trên thế giới đã sử dụng tín dụng ngân
hàng như một công cụ đắc lực để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên
đây là một hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khó lường trước. Để tín dụng
ngân hàng thực sự phát huy vai trò của mình, nghiên cứu rủi ro tín dụng và
nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng là một yêu cầu bức thiết.
1.2. Rủi ro tín dụng và các nhân tố dẫn tới rủi ro tín dụng trong hoạt
động kinh doanh của NHTM.
Phân chia rủi ro theo nguyên nhân – các nhân tố tác động – bao gồm: Rủi
ro do người vay không trả nợ cho ngân hàng, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro
do tỷ giá thay đổi, rủi ro do các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy, giấy tờ
giả…
Phân chia rủi ro phổ biến nhất bao gồm:
+ Rủi ro hối đoái
Rủi ro hối đoái là khả nẵngảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính. Trong cơ chế thị
trường, tỷ giá thường xuyên dao động. Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối
đoái của ngân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thâm hụt tạm thời. Tuy vậy,
có những thay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng.
+ Rủi ro tín dụng
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
9
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân
hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy
đủ vốn và lãi. Khi thực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không
dự kiến là khoản vay đó sẽ có thể bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản vay đó
luôn hàm chứa rui ro. Có một số ý kiến cho rằng theo quan điểm quản lý toàn
bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác
định trước trong chiến lược hoạt động nói chung. Chính vì vậy mà khi tổn thất
dưới mức tỷ lệ tổn thất dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong
quản lý.
+ Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay
đổi ngoài dự tính. Lãi suất ngân hàng cả bên tài sản và nguồn vốn thường
xuyên biến động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn thất, do đó nó
thể hiện rủi ro lỗ tiềm tàng của một ngân hàng do các biến động của lãi suất.
Rủi ro lãi suất có liên quan chặt chẽ với rủi ro tín dụng và nó có một số hình
thức khác nhau như: rủi ro xác định lại lãi suất, rủi ro tương quan lãi suất…
thể không đạt được theo ý muốn, đó chính là sự xuất hiên các rủi ro. Do đó
bất cứ rủi ro xảy ra đối với doanh nghiệp nào, lĩnh vực nào cũng ít nhiều gây
ra rủi ro cho ngân hàng.
Hoạt động tín dụng là hoạt động đặc trưng cho ngân hàng và mang lại
lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, do vậy rủi ro trong hoạt động tín dụng là
đặc trưng nhất và dễ xảy ra nhất bởi lợi nhuận cao luôn đi kèm rủi ro lớn.
Theo quy định tại Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ–
NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN,rủi ro tín dụng trong hoạt
động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
11
hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Các ngân hàng coi rủi ro tín dụng là một tất yếu, không thể loại bỏ hoàn
toàn ra khỏi hoạt động của mình. Họ buộc phải chấp nhận sự tồn tại của nó và
tìm mọi phương thức để có thể hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro tín dụng. Đặc
biệt trong bối cảnh cả thế giới đang tiến dần tới giai đoạn toàn cầu hoá, các
hoạt động của ngân hàng ngày càng đa dạng và phong phú, các hoạt động tín
dụng ngày càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Trong bối cảnh đó, thiết lập một
phương thức quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả được coi là trọng tâm của các
ngân hàng. Mặt khác, các ngân hàng cũng cần có các biện pháp thật hữu hiệu
để hạn chế rủi ro và đáp ứng được sự kiểm soát quốc tế, các định chuẩn quốc
tế đề ra.
* Các hình thức biểu hiện của rủi ro tín dụng
Trong số các khoản vay, đôi khi các NHTM gặp phải một số khoản cho
vay có vấn đề. Đó là những khoản vay mà trong đó thoả thuận hoàn trả có khả
năng bị đổ vỡ, dù hiện tại những khoản vay đó chưa đến kỳ hạn trả nợ gốc và
lãi. Nếu muốn tránh khỏi những thiệt hại bất hợp lý thì cán bộ tín dụng phải
xác định khoản cho vay có vấn đề ngay lập tức, nếu không thì có thể không
+ Nhóm 4: Dấu hiệu liên quan tới xử lý thông tin kế toán- tài chính:
- Chậm chễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính
- Kết quả phân tích tài chính cho thấy:
` Khả năng tiến mặt giảm
` Số khách hàng nợ tăng nhanh, thời hạn thanh toán káo dài.
` Làm đẹp bảng cân đối kế toán bằng cách tạo sản phẩm vô hình.
- Các dấu hiệu phi tài chính: vấn đề về đạo đức, kho lưu trữ hàng hoá
nhiều nhưng lạc hậu, hư hỏng…
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
13
1.2.2. Các nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng:
1.2.2.1. Các nhân tố khách quan:
Nhóm nhân tố này bao gồm các nhân tố là: môi trường kinh tế, môi
trường pháp lý, môi trường xã hội.
Môi trường kinh tế: Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng chịu
ảnh hưởng tác động trực tiếp của môi trường kinh tế - xã hội. Về phương diện
tổng thể nền kinh tế ổn định, tăng trưởng lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động tín dụng. Khi nền kinh tế ổn định, quá trình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp tiến hành bình thường, không bị ảnh hưởng của
các yếu tố lạm phát, khủng hoảng sẽ làm khả năng vay nợ và trả nợ vay
không bị biến động lớn. Ngược lại, một nền kinh tế bị suy thoái thì sức mua
của người dân bị giảm sút, khả năng phát triển sản xuất kinh doanh hầu như
không có, tất cả những điều đó tác động xấu đến khả năng thu hồi vốn tín
dụng của ngân hàng. Không chỉ giới hạn trong môi trường kinh tế của một
quốc gia mà các biến động về kinh tế tài chính trên thế giới đều có sự tác
động tới hoạt động tín dụng của ngân hàng, nhất là khi quan hệ kinh tế quốc
tế được mở rộng giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Môi trường pháp lý: Là một nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới rủi ro
tín dụng. Đó là sự thiếu đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật, các
Nguyên nhân có thể do năng lực quản lý kinh doanh kém, sử dụng vốn vay
sai mục đích…Hơn nữa nếu tỷ lệ vốn tự có trong tổng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp thấp, chủ yếu là vốn vay ngân hàng thì doanh nghiệp sẽ lao theo
những cơ hội đầy mạo hiểm, đến khi gặp rủi ro thì ngân hàng phải gánh chịu.
+ Do khách hàng không tuân thủ các quy định, cố tình lừa đảo để chiếm
dụng vốn ngân hàng. Nhiều trường hợp khách hàng chủ ý cung cấp các báo
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
15
cáo tài chính sai lệch, làm cho ngân hàng đánh giá sai về năng lực tài chính
của họ; thậm chí có khách hàng đủ năng lực tài chính để thực hiện các điều
khoản cam kết trong hợp đồng nhưng vẫn cố tình chây ỳ không chịu thực hiện
nghĩa vụ. Việc khiếu kiện cũng chỉ là giải pháp bị động, bất đắc dĩ, chi phí tốn
kém; hơn nữa nếu các cơ quan pháp luật điều tra thiếu khách quan, xét xử
thiếu công bằng thì ngân hàng phải chịu thiệt hại cả hữu hình lẫn vô hình.
Như vậy, khách hàng vừa là người mang lại thu nhập cho ngân hàng
đồng thời đưa lại cho ngân hàng cả những nguy cơ rủi ro. Cho nên nếu hạn
chế được những nguy cơ đó sẽ làm tăng đáng kể lợi nhuận cho ngân hàng.
* Nhân tố từ phía ngân hàng:
Ngoài nhân tố ảnh hưởng từ nhân tố khách hàng, rủi ro tín dụng cũng
chịu ảnh hưởng bởi nguyên nhân từ phía ngân hàng bởi ngân hàng là người
quyết định có cho vay hay không. Những ảnh hưởng từ nhân tố này được tổng
hợp như sau:
+ Trước tiên, phải kể đến sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Nếu cán bộ làm
công tác ngân hàng, nhất là cán bộ tín dụng, non kém về trình độ, về năng lực
nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng xử lý thông tin và
thẩm định dự án, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, xác định kỳ hạn của
các khoản vay chưa phù hợp, không có khả năng theo dõi các khoản tín dụng
đã cấp từ đó dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, mức độ rủi ro cao. Gắn liền
với hạn chế về năng lực, vấn đề về phẩm chất đạo đức của cán bộ. Tư chất
đạo đức kém, thiếu tinh thần trách nhiệm làm cho con người dễ bị lôi cuốn
thường của ngân hàng cũng sẽ càng lớn nếu như không có hoặc trích lập thiếu
các khoản dự phòng rủi ro. Tuy nhiên những sai phạm này tương đối dễ phát
hiện và khắc phục hơn so với những nguyên nhân trước.
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
17
1.3. Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng thương mại
1.3.1. Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Đối với bất cứ một hoạt động kinh doanh nào, khi rủi ro xảy ra đều kéo
theo nó những ảnh hưởng khó lường và hậu quả của chúng cũng không dễ
dàng khắc phục. Với rủi ro trong hoạt động tín dụng cũng vậy. Chính vì thế,
quản trị rủi ro được coi là hoạt động trọng tâm trong các tổ chức tài chính –
ngân hàng bởi kiểm soát và quản lý rủi ro chặt chẽ đồng nghĩa với việc sử
dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn huy động. Mặt khác, nền kinh tế thị
trường nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và
kinh doanh mới. Do đó, quản trị rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá
trình tồn tại và phát triển của NHTM.
Quản trị rủi ro tín dụng là hoạt động trong đó những nghia vụ, biện
pháp, phương pháp quản trị có quan hệ lẫn nhau được thực hiện nhằm đảm
bảo rủi ro tín dụng trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận được.
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách
và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát
triển bền vững, tuy nhiên đó cũng là công việc rất khó khăn và phức tạp.
Chủ thể của hoạt động quản trị rủi ro trong ngân hàng là sự thống nhất
của nhiều cấp độ: của Hội đồng quản trị của ngân hàng, của Ban Giám đốc,
của bộ phận quản lý tín dụng và ngay bản thân mỗi cán bộ tín dụng của ngân
hàng.
Mục đích chung nhất của quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo rủi ro trong
phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận đựơc. Mà mục đích này phụ thuộc vào
mục đích hoạt động của ngân hàng là tối đa hoá giá trị mà ngân hàng hi vọng
đựoc xác định trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh.
Trong một môi trường hoạt động tiếm ẩn nhiều rủi ro, nếu một ngân
hàng yếu kém trong quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng có thể xảy ra
ngoài mong đợi, không kiểm soát được.
* Thiệt hại cho ngân hàng trước tiên phải kể đến: tác động đối với ngân
hàng.
` Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ dẫn đến phát sinh các khoản nợ khó thu hồi,
gây ảnh hưởng làm ứ đọng vốn dẫn đến làm giảm vòng quay vốn ngân hàng.
Tiếp nữa có thể phát sinh các khoản chi phí quản lý, giám sát, từ việc tăng lãi
suất của các khoản nợ quá hạn sẽ làm cho những khoản chi phí trên lớn hơn
thu nhập. Mặt khác ngân hàng vẫn phải trả lãi cho khoản tiền huy động
được…tất cả làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm sút.
` Các khoản vay không được thanh toán đầy đủ, đúng hạn dẫn đến sự
không cân đối giữa hai dòng tiền vào và ra trên bảng cân đối kế toán của ngân
hàng. Các khoản tiền gửi của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng hạn trong
khi các khoản tiền vay của khách hàng lại không được hoàn trả đúng thời hạn.
Nếu như ngân hàng không có biện pháp phù hợp thì khả năng chi trả của ngân
hàng sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán.
` Tình trạng khó khăn trong khâu thanh toán của ngân hàng cứ tiếp diễn và
bị tiết lộ ra công chúng sẽ kéo theo uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm sút trên
thị trường. Khi đã bị mất niềm tin thì ngân hàng khó có thể lấy lại hình ảnh
ban đầu của mình.
` Trong lịch sử ngân hàng đã chứng thực, rất nhiều ngân hàng bị tác động
của những tin đồn về việc chậm chễ trong khâu thanh toán dẫn tới làn sóng ồ
20
Chuyên đề tốt nghiệp
ạt khách hàng tới rút tiền. Các ngân hàng nếu không chuẩn bị kịp thời hoặc
không có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu rút tiền quá lớn hoặc không có sự can
thiệp kịp thời của Ngân hàng Trung Ương thì có thể dẫn tới phá sụp đổ và có
thể gây hiệu ứng lan truyền đặc trưng của hệ thống ngân hàng - ảnh hưởng tồi
tệ một cách sâu rộng đến nền kinh tế.
với khoản đầu tư của người vay tiền không có hiệu quả tức là không có lợi ích
đầu tư của người vay tiền đối với ngân hàng và xã hội. Hoạt động ngân hàng
là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và có tính xã hội hoá cao, có nhiều mối
quan hệ phức tạp với nhiều chủ thể. Khi một ngân hàng bị thua lỗ, phá sản sẽ
gây tâm lý hoang mang lan rộng nhanh chóng khiến nhiều người khách hàng
gửi tiền có thể rút tiền hàng loạt gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động ngân hàng,
trường hợp xấu nhất có thể gây đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng. Theo thời
gian nếu có khôi phục được cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy
động vốn. Ở nước ta hiện nay, nếu một NHTM gặp khó khăn tài chính di rủi
ro tín dụng xảy ra ngoài mong đợi, ngân hàng có thể nhận được sự hỗ trợ từ
ngân sách Nhà nước. Lúc này Ngân sách Nhà nước phải tăng chi cho khoản
mục này và cắt giảm chi tiêu cho các khoản mục khác, sẽ làm ảnh hưởng tới
mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế - xã hội.
Tóm lại, quản trị rủi ro tín dụng giúp ngân hàng vững vàng trong xử lý
mối quan hệ giữa rủi ro ín dụng và lợi nhuận, qua đó tránh được thiệt hại và
đem lại lợi ích cho bản thân và mọi đối tượng khác có liên quan đến hoạt
động tín dụng. Giúp làm giảm tổn thất cho bản thân ngân hàng và nền kinh tế,
lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tăng cường cạnh tranh, giúp tăng trưởng
kinh tế.
22
Chuyên đề tốt nghiệp
1.3.3. Các nguyên tắc chung của uỷ ban Giám sát ngân hàng Basel về quản
trị rủi ro tín dụng
* Thiết lập một môi trường tín dụng thích hợp
` Phê duyệt và xem xét chiến lược rủi ro tín dụng theo định kỳ, xem xét
những vấn đề như: mức độ rủi ro chấp nhận được, mức độ khả năng sinh lời.
` Thực hiện chiến lược chính sách tín dụng. Xây dựng các chính sách tín
dụng, xây dựng các quy trình tín dụng cho các khoản vay riêng lẻ và toàn bộ
danh mục tín dụng nhằm xác định, đánh giá, kiểm soát rủi ro tín dụng.
` Xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong tất cả các sản phẩm và hoạt
Để quản trị rủi ro tín dụng, mỗi ngân hàng đều cần nghiên cứu và đưa ra
các công cụ quản lý phù hợp với quy mô và tính chất hoạt động của ngân
hàng đó. Sau đây là một số công cụ chính được sử dụng để quản trị rủi ro
trong hoạt động tín dụng của một NHTM.
* Chính sách tín dụng
Về cơ bản, nội dung của chính sách tín dụng bao gồm:
` Quy định về những ngành,lĩnh vực chính cho hoạt động tín dụng.
` Quy định về danh mục tín dụng và quản lý chất lượng danh mục tín
dụng.
` Quy định về các giới hạn tín dụng và chính sách tín dụng đối với từng
ngành, từng nhóm đối tượng khách hàng.
` Quy định về tiếp nhận, chỉ dẫn, kiểm tra, thẩm định và ra phán quyết
đối với từng hồ sơ vay vốn.
` Quy định về quy trình xác định mức lãi suất tín dụng và các điều kiện
hoàn trả nợ vay.
24
Chuyên đề tốt nghiệp
` Quy định về thẩm quyền phán quyết tín dụng trong từng đơn vị và với
từng cá nhân.
` Quy định về việc rà soát, phân tích, xử lý các khoản tín dụng, các danh
mục tín dụng có vấn đề.
` Quy định về việc sử dụng và xử lý tài sản bảm bảo cho khoản tín dụng.
` Quy định về nội dung xử phạt hay khuyến khích đối với cán bộ tín
dụng trong việc cấp tín dụng.
` Quy định về việc áp dụng các biện pháp phân tán rủi ro như đa dạng
hoá danh mục tín dụng, cho vay đồng tài trợ, bảo hiểm tiền gửi.
* Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng là quá trình cấp tín dụng của ngân hàng bao gồm
nhiều giai đoạn và có quan hệ chặt chẽ với nhau; mang tính chất liên
hoàn,theo một trình tự nhất định, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở để thực
thẩm định
Trần Thanh Hà Lớp: TCDN 46Q
25