CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 64

CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
I. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG NỀN
KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Tín dụng ngân hàng
1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tiền thân của hoạt động ngân hàng hiện nay xuất phát từ ngân hàng
thợ vàng- nơi nhận giữ, bảo quản hộ sau đó dần dần thu hút vàng của người
gửi và đem cho vay để hưởng chênh lệch giữa lãi nhận của người vay và lãi trả
cho người gửi. Ngoài ra, nếu hai người có quan hệ mua bán cùng gửi vàng tại
một ngân hàng thợ vàng thì anh ta sẽ thanh toán số lượng vàng của hai người
trên cho nhau. Như vậy ngân hàng thương mại đã ra đời trên cơ sở đó với 3
nghiệp vụ chính là: nhận tiền gửi, cho vay và làm trung gian thanh toán.
Tín dụng ngân hàng chính là quan hệ vay mượn giữa ngân hàng và các
tổ chức kinh tế cũng như các cá nhân khác theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc
và lãi.
Thông qua quan hệ tín dụng, ngân hàng có khả năng chuyển các nguồn
vốn từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi sử dụng có hiệu quả hơn trên giác
độ toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát
triển một cách đa dạng nhằm thoả mãn mọi nhu cầu vốn của các tổ chức kinh
tế do đó nhu cầu vốn của nền kinh tế được đáp ứng một cách linh hoạt, kịp
thời và đầy đủ nhất. Đây là điều kiện không thể thiếu để phát triển một nền
kinh tế năng động.
1.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Các khoản cho vay được chia ra theo nhiều hình thức tín dụng khác nhau
căn cứ vào các tiêu thức khác nhau như: thời hạn tín dụng, đối tượng tín dụng,
mục đích tín dụng, phương pháp hoàn trả, hình thức đảm bảo... Sau đây ta sẽ
xem xét một số hình thức tín dụng chủ yếu:
1.2.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Các khoản cho vay của ngân hàng có thể chia làm 3 loại sau:
 Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn tối đa là 12 tháng, dùng để cho vay

hoặc bán cho doanh nghiệp, tư nhân để sử dụng vào mục đích kinh doanh
hoặc tiêu dùng.
 Tín dụng cấp cho xuất nhập khẩu:
 Tín dụng cấp cho xuất khẩu: là loại tín dụng mà ngân hàng cho xuất
khẩu vay dưới hình thức như chiết khấu thương phiếu, cầm cố hàng hoá để
phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của người xuất khẩu. Đây là loại tín dụng
ngắn hạn phổ biến. ngân hàng còn cho nhà xuất khẩu vay căn cứ vào giá trị
chuẩn bị và thực hiện xuất khẩu hàng hoá dịch vụ cung ứng.
 Tín dụng cấp cho nhập khẩu: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp cho
nhà nhập khẩu hàng hoá phục vụ cho lợi ích của mình. Các ngân hàng thường
cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu dưới hình thức: mở thư tín dụng, chấp nhận
hối phiếu, kỳ phiếu của người nhập khẩu.
1.2.4 Căn cứ theo sự đảm bảo: tín dụng được chia làm 2 loại cho vay có đảm
bảo và không có đảm bảo.
 Cho vay có đảm bảo: là việc cho vay thế chấp. Vật thế chấp những
khoản nợ có đảm bảo có thể bao gồm nhiều loại tích sản như bất động sản,
biên nhận ký gửi hàng hoá, các khoản phải thu, nhà máy và trang thiết bị các
biên nhận tín thác, các vận đơn có thể chuyển hoán được các cổ phiếu công ty
và các trái khoán. Yêu cầu cơ bản của các tích sản này là có thể bán được.
Khoản cho vay phải được bảo đảm nhằm tạo điều kiện để người cho vay giảm
bớt rủi ro mất vốn trong trường hợp người vay không muốn hoặc không thể
trả nợ vay khi đáo hạn.
 Cho vay không đảm bảo: là khoản cho vay được dựa cơ sở lòng tin
giữa ngân hàng với khách hàng. Những khách hàng được nhận khoản vay này
thường là các doanh nghiệp quản lý có hiệu quả, sản phẩm và dịch vụ của họ
được thị trường sẵn sàng chấp nhận, có lợi nhuận tương đối ổn định và với
một tình hình tài chính vững mạnh. Tuy nhiên các doanh nghiệp không phải là
những đơn vị duy nhất được vay trên cơ sở không cần đảm bảo, nhiều cá nhân
cũng được hưởng đặc quyền này. Những người có nhà riêng, công ăn việc làm
ổn định, trả nợ sòng phẳng thể hiện trên sổ sách theo dõi thường được vay

một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Từ đó các doanh nghiệp có điều
kiện mở rộng sản xuất một cách thích hợp, tăng năng suất lao động, nâng cao
hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước
sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi
suất thấp, thời gian dài, mức vốn lớn để phát triển một nền kinh tế vững chắc.
2.2 Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá,
đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh
doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại. Điều đó buộc các ngân hàng
thương mại càng phải thực hiện đúng nguyên tắc đi vay để cho vay. Thông qua
chức năng phân phối lại vốn theo nguyên tắc có hoàn trả của tín dụng, các
nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi được đưa vào luân chuyển và sử dụng hợp lý
trong quá trình sản xuất, các nguồn lực của nền kinh tế được đưa vào vận
động và di chuyển đến những nơi mà chúng có thể sử dụng hiệu quả hơn. Khi
khối lượng sản xuất tăng lên, nhu cầu về vốn theo đó cũng tăng lên và nhu cầu
đó được thoả mãn một phần qua các hình thức tín dụng.
2.3 Tín dụng Ngân hàng là một công cụ để Nhà nước tiến hành điều hoà, lưu
thông tiền tệ và từ đó điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
Ngân hàng bằng các nghiệp vụ của mình có thể huy động vốn hoặc cung
cấp vốn cho nền kinh tế, phù hợp với sự phát triển kinh tế nên có thể điều hoà
lượng tiền tệ trong lưu thông góp phần thực hiện chính sách tài chính quốc
gia. Hơn nữa ngân hàng với các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
cũng góp phần ổn định lưu thông tiền tệ. Nhà nước cũng sử dụng chính sách
tín dụng như một đòn bảy kinh tế quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển thực
hiện kiểm soát và phân công kinh tế, điều chỉnh sự phát triển và cơ cấu của
toàn bộ nền kinh tế quôc dân.
2.4 Tín dụng có tác dụng quan trọng trong việc tổ chức quản lý, sử dụng vốn
một cách có hiệu quả nhất.
Nhờ kênh tín dụng ngân hàng mà nhu cầu vốn khả năng tự có của chủ
đầu tư được đáp ứng kịp thời. Do tín dụng là quan hệ vay mượn có lợi tức trả

hoạt động và đem lại thu nhập cho ngân hàng. Hiệu quả tín dụng được đo
bằng thu nhập ròng trên đồng vốn đầu tư. Ngoài ra, hiệu quả tín dụng còn
được thể hiện ở sự phù hợp về phạm vi, mức độ giới hạn tín dụng với thực lực
của ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi, hạn chế đến
mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh và cạnh tranh trên
thị trưoừng và đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng.
1.2 Theo quan điểm của đơn vị vay vốn và nền kinh tế xã hội
Tín dụng ngân hàng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hoá góp phần
giải quyết việc làm, khai thác được khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc
đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa
tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế. Do đó hiệu quả tín dụng ngân
hàng được thể hiện thông qua việc đầu tư vốn đúng hướng, thúc đẩy đơn vị
vay vốn làm ăn có lãi và thực hiện đúng chính sách của Đảng và Nhà nước góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả tín dụng
2.1. Các chỉ tiêu địng lượng
2.1.1 Các chỉ tiêu về qui mô cho vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status