HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 64

HIỆU QUẢ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
I. MỘT VÀI NÉT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.Giới thiệu chung
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn thành phố Hà Nội được
thành lập vào ngày 27/ 07/ 1988. Tên viết tắt là NHNo&PTNT HN. Trụ sở đặt
tại số 77 phố Lạc Trung quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. NHNo&PTNT HN gồm có 7
chi nhánh ngân hàng quận và một ngân hàng cấp 4. Trong cơ quan có 8 phòng
ban, mỗi phòng ban giữ một nhiệm vụ riêng nhưng có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau hợp thành bộ máy hoàn chỉnh và hoạt động ngày càng có hiệu quả
trong NHNN&PTNT HN.
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo&PTNT HN
Thực hiện Nghị định số 53/ HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng bộ
trưởng, hệ thống ngân hàng 1 cấp chuyển thành ngân hàng 2 cấp, Ngân hàng
Nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước và các ngân hàng thương mại chuyên
doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Đây là bước ngoặt quan trọng và đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ
trong hoạt động ngân hàng nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn nói riêng.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Hà Nội được
thành lập ngày 27/07/1988 và chính thức đi vào hoạt động ngày 05/08/1988
với chức năng nhiệm vụ là huy động vốn và cho vay các thành phần kinh tế sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, chế biến, công nghiệp thực phẩm
và tất cả các thành phần kinh tế khác trên địa bàn Hà Nội.
NHNo&PTNT HN được tách ra từ Ngân hàng Nhà nước của thành phố
Hà Nội. Lúc này NHNo&PTNT HN gồm có 12 chi nhánh của các ngân hàng
huyện thuộc Hà Nội và một trung tâm giao dịch là NHNo&PTNT HN hiện nay,
thực hiện 2 nhiệm vụ chính là quản lý các NHNo&PTNT cấp huyện và trung
tâm cấp giao dịch thực hiện kinh doanh trên địa bàn Hà Nội.
Đến tháng 10/1994, các ngân hàng tách tỉnh bàn giao một ngân hàng về

và nước ngoài, thực hiện uỷ thác các nguồn vốn ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn của Chính phủ, các tổ chức kinh tế-xã hội, cá nhân trong nước và nước
ngoài, thực hiện tín dụng tài trợ chủ yếu cho nông nghiệp và nông thôn.
Tháng 9/1995 thực hiện chủ trương của nhà nước xoá bỏ cầu cấp
NHNo&PTNT HN bỏ phần chỉ đạo ngân hàng cấp huyện, tập trung vào kinh
doanh. Lúc này, NHNo&PTNT HN là một đơn vị kinh doanh thực sự phục vụ các
đơn vị kinh doanh nông nghiệp, vật tư nông nghiệp và các đơn vị kinh doanh
lương thực, các đơn vị chế biến thực phẩm.
Vốn của Ngân hàng Nông nghiệp đã thực sự góp phần thúc đẩy các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát triển và đứng vững trong cơ chế thị
trường, đầu tư cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư,
diêm nghiệp và chế biến nông sản, NHNo&PTNT HN còn đẩy mạnh đầu tư cho
các hộ sản xuất nông nghiệp ở các huyện ngoại thành nhằm giúp các hộ có vốn
phát triển sản xuất kinh doanh mở mang ngành nghề truyền thống, thay đổi
giống cây trồng vật nuôi, chuyển dịch giống cây trồng. Ngoài ra cùng với các tổ
chức đoàn thể, NHNo&PTNTTPHN đã góp phần thực hiện tốt chính sách xoá
đói giảm nghèo của Đảng nhà nước và thành phố đề ra.
NHNo&PTNT HN đã tập trung vốn cho các hộ nghèo với lãi suất ưu đãi
mang lại hiệu quả thiết thực và tạo điều kiện cho các hộ nghèo có vốn, tạo công
ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống.
Mặt khác, NHNo&PTNT HN huy động vốn và cho vay nội - ngoại tệ, cho
vay các chương trình quốc tế, chương trình EC, cho vay tiêu dùng, làm các dịch
vụ chuyển tiền nhanh, cho vay cầm đồ...
2. Thực trạng hoạt động kinh doanh tại NHNo&PTNT HN
NHNo&PTNT HN là một chi nhánh hạch toán phụ thuộc nên các loại vốn
như vốn pháp định, lợi nhuận, các quỹ chuyên dùng, quỹ dự trữ, quỹ tài trợ và
các loại vốn khác đều được hạch toán và quản lý tại NHNo&PTNT Việt Nam.
Ngay từ khi mới thành lập, cùng với sự tăng trưởng kinh tế của cả nước
nói chung và tăng trưởng kinh tế của Hà Nội nói riêng, hoạt động tín dụng của
NHNo&PTNT HN cũng tăng trưởng không ngừng. Sự hoạt động có hiệu quả

2.Tiền gửi dân

459098 33,9 695744 35,7 667683
32,8
3.Tiền gửi các
tổ chức tín
dụng
175359 13,0 764072 39,3 171429
8,4
4. Tiền gửi
khác
222581
16,4
191164 9,8
546738 6,7
Tổng cộng 135307
5
100
194668
2
100
203561
9
100
(Nguồn; Bảng CĐTK tổng hợp năm 1999-2000-2001 của NHNo&PTNT HN )
Đến 31/12/2001 NHNo&PTNT HN có tổng nguồn huy động là 2035619
triệu đồng tăng 4,6% tổng huy động so với năm 2000 và thường xuyên vượt kế
hoạch mà NHNo&PTNT VN giao trong đó:
 Tiền gửi của các tổ chức kinh tế là 649769 triệu đồng chiếm 31,9%
tổng nguồn huy động vào năm 2001, tăng 354069 triệu đồng so với năm 2000


CHỈ TIÊU
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ trọng
(%)
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ trọng
(%)
1. Dư nợ ngắn
hạn
2. Dư nợ T&D hạn
Tổng dư nợ
Trong đó:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn
920019
111225
103124
4
59520
5,8%
89,2
10,8

207919 triệu đồng tăng 63331 triệu đồng so với dư nợ trung và dài hạn năm
2000, bằng 143,8% dư nợ trung và dài hạn năm 2000 và tăng 96694 triệu
đồng so với dư nợ trung và dài hạn năm 1999, bằng 186,9% dư nợ trung và
dài hạn năm 1999. Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn so với tổng dư nợ các năm
1999, 2000, 2001 cũng có xu hướng tăng dần tương ứng là 10,8%; 15,1%;
21,1%.
Tốc độ dư nợ năm 1999 tăng nhanh trên 100% trong khi Trung ương
quy định tốc độ tăng trưởng là 25%. Dư nợ năm 2000 lại giảm 7% so với năm
1999 do sự biến động của tỷ giá ngoại tệ đã đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá để trả
nợ làm cho dư nợ giảm 73151 triệu đồng. Sang năm 2001 dư nợ tín dụng đã
tăng thêm 26892 triệu đồng, tăng 2,8% so với năm 2000. Đây là kết quả của sự
nỗ lực rất cao của toàn bộ cán bộ công nhân viên Ngân hàng và hứa hẹn một
quy mô tín dụng của NHNo&PTNT HN sẽ được mở rộng khi mức tăng trưởng
của nền kinh tế trở lại bình thường.
Nợ quá hạn năm 1999 giảm đáng kể so với tỷ lệ này ở đầu năm nhưng
sang năm 2000 tỷ lệ nợ quá hạn lại tăng lên tới 8,2%, đây là tỷ lệ khá cao so
với tỷ lệ nợ quá hạn của hệ thống Ngân hàng. Năm 2001 nợ quá hạn giảm khá
mạnh từ 78651 triệu đồng xuống còn 45915 triệu đồng giảm 41,6% so với năm
2000 và giảm 22,8% so với năm 1999. Nếu NHNo&PTNT HN tiếp tục phát huy
theo xu hướng này sẽ nhanh chóng giảm được nợ quá hạn, nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của mình.
2.3 Hoạt động khác của NHNo&PTNT HN:
2.3.1 Về hoạt động đối ngoại và dịch vụ ngân hàng
Hoạt động đối ngoại tại NHNo&PTNT HN tuy mới bắt đầu thực hiện từ
khi phòng thanh toán quốc tế được thành lập 1997 nhưng hoạt động này đã
mang lại kết quả đáng mừng nhất là trong năm 2000: NHNo&PTNT HN đã mở
484 L/C nhập khẩu trị giá 107 triệu USD tăng trên 60% so với năm 1999 và
bằng 160% so với năm 2001. Đã thanh toán 545 món trị giá 89 triệu USD tăng
118% so với năm 1999 và bằng 131% năm 2001. Thanh toán TTR 364 món trị
giá 61 triệu USD tăng 95% so với năm 1999 và bằng 109% năm 2001. Thanh

2001. Chi trong năm 2000 là 2310 tỷ tăng 15% so với năm 1999, bằng 88%
năm 2001.
Đảm bảo an toàn quỹ nghiệp vụ trong quá trình giao dịch và vận chuyển,
mọi nhu cầu thu chi tiền mặt hoặc ngân phiếu thanh toán của các doanh
nghiệp đều được thoả mãn kịp thời, đầy đủ, tạo sự bình đẳng và thuận lợi cho
khách hàng.
Thanh toán qua liên mạng lưới liên ngân hàng và thanh toán bù trừ đã
được NHNo&PTNT HN chú ý xử lý trong nhiều năm nay nên việc luân chuyển
vốn của các DN qua NHNo&PTNT HN luôn được thông suốt. Tổng doanh số
thanh toán liên hàng và thanh toán bù trừ năm 2000 là 7846 tỷ tăng 178% so
với năm 1999. Năm 2001 thanh toán 26132 món với số tiền 10067 tỷ tăng
102,4% so với năm 2000. Ngoài ra NHNo&PTNT HN còn thực hiện 25138 lượt
chuyển tiền với giá trị 10000 tỷ đồng tăng 111,5% so với năm 2000.
NHNo&PTNT HN luôn thực hiện tốt phương châm của mình: an toàn, kịp thời,
uy tín.
2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001:
Năm 1999 tổng doanh thu của NHNo&PTNT HN đạt 87 tỷ đồng trong đó
thu lãi là 49 tỷ đồng. Chênh lệch thu chi là 5572 triệu đồng. Quỹ thu nhập cả
năm là 3570 triệu đồng và trích quỹ rủi ro 531 triệu đồng. Năm 1999 kinh
doanh có hiệu quả. Đảm bảo được đời sống cho cán bộ công nhân viên ổn định.
Làm nghĩa vụ với cấp trên và ngân sách đầy đủ.
Năm 2000 tổng thu nhập đạt 106 tỷ tăng 112% so với năm 1999. Tổng
chi phí 96 tỷ tăng 38% so với năm 1999. Năm 2000 NHNo&PTNT HN đã tận
dụng các nguồn thu nên mặc dù dư nợ giảm 7% nhưng thu lãi cho vay năm
2000 tăng 95% so với năm 1999 mặc dù lãi suất cho vay tăng 20% so với năm
trước. Với tình hình thu chi như vậy nên sau khi hạch toán 4589 triệu đồng quỹ
rủi ro, NHNo&PTNT HN vẫn đảm bảo đủ quỹ thu nhập, đủ chi lương và ăn ca
theo chế độ khoán tài chính và chi lương của NHN&PTNT Việt Nam quy định.
Năm 2001 tổng thu nhập là 259 tỷ đồng trong đó thu lãi cho vay là 51 tỷ
đồng. Tổng chi phí là 355 tỷ đồng trong đó chi trả lãi là 157 tỷ đồng. Quỹ thu

tật của nền kinh tế thị trường. DNNN chính là công cụ của Nhà nước để Nhà
nước can thiệp vào nền kinh tế. DNNN là thành phần kinh tế chiếm tỷ trọng
chủ yếu trong nền kinh tế quốc dân, nắm giữ những ngành then chốt, lĩnh vực
then chốt của nền kinh tế.
- Các DNNN có thể tham gia vào các ngành, các lĩnh vực kinh doanh
không có lợi nhuận hoặc ít lợi nhuận. Điều này doanh nghiệp khác khó có thể
thực hiện được vì trong nền kinh tế thị trường mục tiêu của các doanh nghiệp
là lợi nhuận.
- DNNN có thể tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh đòi hỏi vốn lớn mà
các thành phần kinh tế khác không đủ sức đầu tư.
- Đội ngũ cán bộ công nhân thuộc khu vực này được đào tạo, rèn luyện
thấm nhuần chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ đảm bảo cho
nền kinh tế Việt Nam không bị chệch hướng mà đi đúng theo con đường XHCN
đã lựa chọn.
1.2 Nhược điểm:
 Về máy móc công nghệ: thiết bị máy móc dùng cho sản xuất còn thiếu,
công nghệ còn lạc hậu. Do đó hàng hoá sản xuất ra chất lượng kém, mẫu mã
không phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng,
khả năng cạnh tranh không cao.
 Vốn tự có ít, hiệu quả sử dụng vốn của DNNN còn thấp.
 Sản phẩm sản xuất ra của các DNNN thường có giá thành cao hơn so
với hàng hoá nhập lậu.
 Dễ nảy sinh hiện tượng tham nhũng, tiêu cực do cơ chế quản lý giám
sát lỏng lẻo, kém hiệu lực, việc phân định chức năng quản lý chưa được xác
định rõ ràng.
 Một số DNNN còn mang nặng tư tưởng “cấp-phát”, “xin-cho” của
thời kỳ bao cấp nên chưa thực sự chủ động trong kinh doanh mà còn trong chờ
vào ưu đãi của Nhà nước.
 Lao động thuộc khu vực này tuy đông đảo nhưng ở một số DNNN thì
người lao động làm việc chưa hết năng lực, trách nhiệm công việc chưa cao,

thành lập cho đến nay, DNNN luôn luôn là khách hàng lớn của NHNo&PTNT
HN. Mối quan hệ giữa DNNN và ngân hàng là mối quan hệ truyền thống tốt
đẹp. Ngân hàng luôn tập trung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay để
doanh nghiệp đổi mới thiết bị, hiện đại hóa công nghiệp mở rộng quy mô sản
xuất, kinh doanh có hiệu qủa, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân
góp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, kể cả khi Nhà nước có chính sách chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị
trường, mối quan hệ này ngày càng được củng cố, phát triển trên cơ sở bình
đẳng đôi bên cùng có lợi. Để thấy rõ được điều này ta sẽ phân tích dư nợ
DNNN tại NHNo&PTNT HN giai đoạn 1999-2001
Bảng 3. Tình hình cho
vay đối với DNNN
CHỈ TIÊU
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ
trọng(%
)
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ
trọng(%
)
Số tiền
(tr.đ)
Tỷ
trọng(%
)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status