THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM.
1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam.
Ngân hàng ngoại thương Việt Nam chính thức được thành lập ngày
1/4/1963 mà tổ chức tiền thân là cục quản lý hối đoái của Ngân hàng quốc gia
Việt Nam. Trong thời kì đó, nước ta áp dụng hệ thống Ngân hàng một cấp -
Ngân hàng nhà nước vừa đóng vai trò quản lý vĩ mô theo chủ trương chính
sách của chính phủ, vừa đảm nhận vai trò kinh doanh nên cục quản lý ngoại
hối được coi như một bộ phậm phục vụ kinh tế đối ngoại duy nhất của Việt
Nam.
Ngay từ khi được thành lập, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã phải
đối mặt với những thách thức lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong suốt
cuộc kháng chiến, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã làm trọn nhiệm vụ
chống Mỹ, làm tốt chức năng thanh toán quốc tế duy nhất ở Việt nam và tham
gia trực tiếp vào công tác tổ chức chi viện tài chính cho chiến trường miền
Nam.
Sau khi hoà bình lập lại, trong thời kỳ kế hoặch hoá tập trung, Ngân hàng
ngoại thương không chỉ thực hiện chức năng là Ngân hàng đối ngoại duy nhất
của Việt nam mà còn thực hiện vai trò quản lý toàn bộ vốn ngoại tệ của
quốcgia. Toàn bộ các hoạt động xuất nhập khẩu, mọi đồng vốn ngoại tệ đã
được Ngân hàng ngoại thương thực hiện và sử dụng để phục vụ cho công cuộc
kiến thiết và hàn gắn vết thương chiến tranh trong điều kiện khó khăn, bó buộc
do hậu quả của chính sách cấm vận vũ trang.
Sau khi hai pháp lệnh Ngân hàng ra đời Ngân hàng ngoại thương Việt
Nam được thống đốc Ngân hàng nhà nước ký quyết định số 286 QD – NH5
ngày 21/9/1998 thành lập theo mô hình tổng công ty ngà nước tại quyết đínhố
90/TTG ngày 7/3/1996 theo uỷ quyền của thủ tướng chính phủ.
• Nguồn vốn: Để nâng cao nguồn vốn, Ngân hàng ngoại thương một
mặt vẫn tiếp tục thực hiện các giải pháp đa dạng hoá các hình thức huy động
vốn, áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt, cạnh tranh, mặt khác đã áp dụng
dịch vụ khách hàng trọn gói (nhận tiền gửi, bán ngoại tệ, cấp thẻ tín dụng)
đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ Ngân hàng nhằm tạo ra các giải pháp
huy động vốn có hiệu quả. Vào thời điểm cuối năm 2000, tổng nguồn vốn đạt
35720 tỷ VNĐ, trong đó nguồn vốn bằng ngoại tệ đạt 1877triệu USD chiếm 68,
2% và nguồn vốn đạt 11356 tỷ VNĐ chiếm 31, 8%.Năm 2001, tổng nguồn vốn
đạt 46272 tỷ VNĐ đến tại thời đIểm 31/12/2001 tăng 31, 7% so với cuối năm
trước.
Vốn chủ sở hữu:
Là một trong bốn Ngân hàng thương mại quốc doanh chủ đạo của Việt
nam, nhiều năm nay chính phủ rất chú trọng việc cấp bổ xung vốn điều lệ cho
các Ngân hàng thương mại quốc doanh nói chung trong đó có Ngân hàng
ngoại thương. Một mặt làm tăng thêm uy tín của Ngân hàng ngoại thương,
mặt khác nâng cao hệ số an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Cuối năm
1996, tại quy định QĐ 764 /TTG của chính phủ, Ngân hàng được phép tăng vốn
đIều lệ từ 200 tỷ lên 1100 tỷ VNĐ. Tuy nhiên, do ngân sách ngà nước còn khó
khăn nên đến cuối năm 2000 chính phủ mới xem xét và cấpmột số vốn còn lại
cho Ngân hàng (599 tỷ VNĐ, trong đó đã cấp 300 tỷ, đầu năm 2001 cấp tiếp
229 tỷ VNĐ)
Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam tính đến 31-12-
2001
là 1496 tỷ đồng chiếm 4% tổng số tài sản có:
Vốn huy động:
Đơn vị tiền: tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Biến động
00/99 (%)
Số tiền Tỷ trọng
(%)
5
3
7
13
35720
1410
24858
11339
10077
5185
1327
777
3011
4267
100
4
69
32
28
15
4
2
9
12
37, 2
26
36
13
96
48
5185
1327
777
3011
4267
100
4
84
69, 57
31, 7
28, 2
14, 5
3, 7
2
8, 6
12
46272
1874
40490
33532
19957
13595
6877
1469
840
4410
3989
100
4, 1
87, 5
Mastercard, Visa, Amex và JCB chọn làm đại lý thanh toán thẻ từ năm 1990.Từ
đó mạng lưới thẻ thanh toán của Ngân hàng ngoại thương ngày càng được
mở rộng và doanh thu cũng như lợi nhuận từ hoạt động này ngày càng tăng
lên qua các năm. Cho đến nay, số thẻ mà Ngân hàng ngoại thương đã phát
hành là gần 4000 thẻ (3328 thẻ với tổng số tiền là40 tỷ VNĐ)
Năm 1995, Ngân hàng ngoại thương phát hành thẻ Ngân hàng và tiền,
đưa công nghệ thẻ “thông minh” là một trong những công nghệ hiện đại bậc
nhất thế giới vào Việt Nam. Năm 1997, Ngân hàng phát hành thẻ ATM – thẻ
ghi nợ. Đây là lần đầu phát hành thí điểm, chưa nhân rộng nhưng đến nay đã
có hơn 1000 chủ thể tại Hà Nội với hơn 2000 chủ thể tại thành phố Hồ Chí
Minh đã và đang sử dụng. Tháng 4/1997, Ngân hàng ngoại thương chính thức
trở thành thành viên của tổ chức thẻ quốc tế Mastercard và thực hiện thanh
toán trực tiếp.
Kinh doanh ngoại tệ:
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ có tầm quan trọng lớn đối với Ngân hàng
ngoại thương. Trong thời gian qua, hoạt động này của Ngân hàng bị ảnh
hưởng lớn bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực. Tuy nhiên, do
hoạt động năng động, về cơ bản Ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ
trong thanh toán quốc tế, bám sát diễn biến tài chính, tiền tệ trong khu vực, có
các giải pháp kịp thời đảm bảo an toàn nghiệp vụ ngoại tệ, vì vậy nghiệp vụ
kinh doanh ngoại tệ vẫn đảm bảo có lãi. Bên cạnh đó, với thế mạnh về nguồn
vốn ngoain tệ, Ngân hàng luôn bám sát định hướng của Ngân hàng ngoại
thương của chính phủ trong việc mua bán ngoại tệ phục vụ mục tiêu ổn định
thị trường.
Dịch vụ Ngân hàng bán thẻ:
Với chủ trương tăng cường hoạt động bán thẻ một mặt nhằm đa dạng
hoá hoạt động, mặt khác để tạo thế ổn định nguồn vốn và tiền mặt cho Ngân
hàng. Trong nhiều năm qua, Ngân hàng ngoại thương đã tích cực mạnh dạn
trong việc đổi mới công nghệ trang bị, mở rộng mạng lưới, cơ sở phục vụ
khách hàng. Song song với việc phát triển mạng lưới hoạt động, Ngân hàng đã
Năm 2001, hoạt động Ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng
có nhiều khó khăn hơn những năm trước. Tuy nhiên, do bám sát diễn biến tình
hình cùng với sự chỉ đạo kịp thời của các cấp lãnh đạo, Ngân hàng ngoại
thương đã áp dụng nhièu giải pháp phù hợp với tình hình thực tế, hoạt động
tín dụng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Kết qủa hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngoại thương trong 3 năm
qua được thể hiện ở bảng sau:
- Về cơ cấu cho vay:
Dư nợ cho vay ngắn hạn đến 31/12/2000 quy ra VNĐ là 7126 tỷ đồng
chiếm khoảng 70% tổng dư nợ cho vay các tổ chức kinh tế. Dư nợ cho vay ngắn
hạn năm 2001 tăng hơn 10% so với năm2000. Trong vài năm trở lại đây, xu
hướng cho vay tiền VNĐ tăng mạnh, tỷ trọng cho vay ngoại tệ giảm dần do tỷ
giá diễn biến phức tạp, người đi vay thích vau nội tệ hơn để tránh rủi ro về tỷ
giá, mặc dù lãi suất cho vay tiền VNĐ cao hơn ngoại tệ.
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 So sánh 2001 với 2000
Số tiền (tỷ đồng) Tỷ lệ (%)
I. Ngắn hạn
- Doanh số cho vay
- Doanh số thu nợ
- Dư nợ
- Nợ quá hạn
- Tỷ lệ quá hạn
II. Trung - dài hạn
- Doanh số cho vay
- Doanh số thu nợ
- Dư nợ
- Nợ quá hạn
- Tỷ lệ quá hạn
III. Tổng cộng
- Doanh số cho vay
1064
730
3060
91
2, 97%
22503
21300
4291
3261
693
-813
179
195
324
-78
4471
3456
25
18, 8
10, 7
-65
20, 2
36, 5
11, 8
-46, 2
24, 8
19, 4
- Dư nợ
- Nợ quá hạn
- Tỷ lệ quá hạn
năm 2000 tăng so với năm 1999 là 498 tỷ VNĐ, tăng khoảng 10,5% lên 15,5%
chủ yếu là do cáckhoản vay cũ của các năm trước (trước năm 1999) còn đọng
lại chuyển sang. Nhưng nhìn một cách bao quát qua 3 năm 1999, 2000, 2001 ta
thấy được chất lượng tín dụng đã có nhiều cải tiến (có hiệu quả)
• Hoạt động cho vay theo dự án đầu tư tại Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam
Từ năm 1990 trở về trước, Ngân hàng ngoại thương là một trung tâm
thanh toán quốc tế của Việt nam, độc quyền chuyên về thanh toán tín dụng
xuất nhập khẩu. Vì thế cho vay đối với các dự án trung và dài hạn không phải
là thế mạnh của Ngân hàng ngoại thương mà thuộc về các Ngân hàng khác
như: Ngân hàng đầu tư và phát triển, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn, Ngân hàng công thương. Sau khi có pháp lệnh về Ngân hàng, tất cả
các Ngân hàng đều có quyền bình đẳng trong khi các hoạt động kinh doanh
thanh toán quốc tế, tín dụng xuất nhập khẩu và các nghiệp vụ khác. Ngân hàng
không còn thế mạnh độc quyền như trước đây, do vậy đỏi hỏi sự cạnh tranh với
các Ngân hàng khác để tồn tại và phát triển. Ngân hàng đã mở rộng các hoạt
động tín dụng (tài trợ)không chỉ đối với các dự án ngắn hạn mà còn đối với cả
các dự án trung và dài hạn.
Cho vay đối với các dự án trung và dài hạn tại Ngân hàng ngoại thương
Việt Nam là hình thức cho vay theo các dự án đầu tư và phát triển. Các dự án
lớn của nhà nước, các tổng công ty nhà nước được coi là ưu tiên hàng đầu của
Ngân hàng. Hội đồng tín dụng đã được thành lập tại các chi nhánh và Ngân
hàng trung ương, quy trình thẩm định cácdự án cho vay được cải biến, các văn
bản nội bộ được rà soát lại. Kết quả, tổng dư nợ cho vay đối với các dự án
trung và dài hạn đã tăng thêm đáng kể qua các năm từ 8814 tỷ VNĐ năm 1999
lên 10186 tỷ VNĐ năm 2001.
Ngân hàng ngoại thương đã tập trung vốn để cho vay, tài trợ đối với các
tổng công ty lớn như các tổng công ty 90, 91 và các dự án lớn có bảo lãnh của
chính phủ như: tổng công ty bưu chính, tổng công ty lương thực miền Bắc …
Ngân hàng cũng cùng các tổ chức khác tham gia cho vay đồng tài trợ.
Bước 2: Lập tờ trình thẩm định
Trên cơ sở các dữ liệu, tài liệu trong hồ sơ khách hàng, hồ sơ vay vốn và
các thông tin thu thập được qua điều tra thực tế, cán bộ tín dụng lập tờ trình
thẩm định theo bảng hướng dẫn thẩm định do trung ương soạn thảo và chịu
trách nhiệm về số liệu, phương pháp tính toán nêu trong tờ trình. Nội dung tờ
trình thẩm định nêu rõ ý kiến, quan điểm của cán bộ tín dụng trên các mặt, hồ
sơ pháp lý có đầy đủ không, lời lỗ ra sao, khả năng trả nợ của khách hàng, mức
độ rủi ro có thể chấp nhận được, những đề xuất và giải pháp để hạn chế …
Trong đó cán bộ tín dụng phải chú trọng đặc biệt tới việc thẩm định năng lực
tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, hơn nữa đây cũng
chính là nghiệp vụ của công tác này.
Trong trường hợp dự án vượt quá quyền hạn, khả năng của giám đốc chi
nhánh thì sẽ được giao cho bộ phận tái thẩm định thuộc phòng thẩm định và
đầu tư chứng khoán để kiểm tra lại một cách độc lập trước khi quyết định cho
vay.
Cán bộ tái thẩm định không tiếp xúc trực tiếp với khách hàng mà yêu cầu
bộ phận tín dụng cung cấp thông tin liên quan đến khách hàng, dự án. Trong
quá trình tái thẩm định, cán bộ tín dụng kiểm tra lại phưong pháp tính toán,
hiệu quả dự án, khả năng trả nợvà các số liệu của bộ phận tín dụng nêu trong
tờ trình thẩm định để đưa ra ý kiến nhận xét của mình xem có cho vay được
hay không, cần bổ sung điều kiện gì với sự tham gia nhận xét lại của phòng
thẩm định và đầu tư chứng khoán với các dự án có quy mô lớn đã làm cho quy
trình thẩm định tài chính dự án đầu tư thông tin tại NHNT thêm chặt chẽ,
chính xác, đảm bảo lựa chọn được các dự án khả thi, có hiệu quả cao.
Sau cùng, các dự án sẽ được Hội đồng thẩm định xem xét thông qua lần
cuối và quyết định cho vay hay không.
3.2. Nội dung thẩm định tài chính Dự án đầu tư tại NHNTVN.
Thẩm định Tài chính dự án đầu tư là một nội dung thẩm định quan
trọng đối với các dự án đưa đến Ngân hàng ngoại thương xin vay vôn. Những
nội dung tài chính được xem xét khi thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động
- Vốn vay NHNT.
- Vốn vay Ngân hàng khác.
- Vốn vay nước ngoài.
+ Các nguồn vốn khác: Vốn do ngân sách nhà nước cấp, vốn góp liên
doanh, phát hành trái khoán, cổ phần, công trái,. ...
• Xác định doanh thu theo công suất dự kiến.
Sau khi khi đã xác định được khả năng công suất thiết bị kết hợp với kết
quả nghiên cứu thị trường để xác định giá bàn bình quân, khối lượng sản
phẩm tiêu thụ trong năm, ngân hàng xác định doanh số trong năm kế hoạch.
• Xác định chi phí đầu vào theo công suất có thể đạt được trong
năm trả nợ. Căn cứ vào những kết quả thẩm định trước đó và căn cứ vào các