Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý cuả Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một
chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ
nghĩa xã hội, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh.
Thực hiện chủ trương trên, từ sau Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986)
đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số chủ trương chính sách nhằm
khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển. Từ đó, cùng
với các doanh nghiệp quốc doanh, các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh
như các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần...
đã phát triển nhanh chóng, đang trở thành lực lượng đáng kể trong sự nghiệp
phát triển kinh tế- xã hội và ngày càng thể hiện vai trò của mình trong quá trình
phát triển kinh tế đất nước.
Hiện nay, các doanh nghiệp ở nước ta tuy có tốc độ phát triển tương đối
khá nhưng gặp khó khăn về nhiều mặt như : thiết bị và công nghệ lạc hậu, trình
độ quản lý và tổ chức yếu kém, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm
kém, giá thành sản phẩm cao, thị trường không ổn định, bị hàng hoá nhập khẩu
lậu cạnh tranh gay gắt...
Khó khăn lớn nhất của hầu hết các doanh nghiệp nước ta hiện nay là vốn
để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị, công nghệ... Thực trạng nhu
cầu vốn đang là nhu cầu cấp thiết của các doanh nghiệp bởi vì các doanh nghiệp
trong nước tích luỹ nội bộ thấp, vốn tự có ít. Mặt khác đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vốn trong nước và từ năm 1996 đến nay,
đầu tư nước ngoài đã bắt đầu chững lại. Nắm bắt được nhu cầu vốn của thị
trường, hệ thống ngân hàng đã tăng cường hoạt động của mình để góp phần
cung cấp vốn cho nền kinh tế nhằm đem lại vốn cho các doanh nghiệp, đồng
thời đem lại lợi nhuận cho mình.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt
động cho vay của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội”.
Với mong muốn có thể tìm tòi, phát hiện được một số hạn chế, qua đó có
thể đưa ra một số giải pháp đóng góp nhằm khắc phục những tồn tại để nâng cao
hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Đây là đề tài nghiên cứu một nội dung nhỏ
trong tổng thể rất nhiều nội dung cần xem xét đến đối với một khoản vay hay
một dự án đầu tư. Vì vậy, đối tượng và phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn và tập
trung chủ yếu vào thẩm định tài chính dự án đầu tư gắn với hoạt động cho vay
của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội.
Trên cơ sở hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản liên quan tới thẩm
định tài chính dự án đầu tư, đánh giá công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân
hàng TMCP Á Châu Hà Nội để đưa ra giải pháp, Khoá luận Tốt nghiệp của tôi
được kết cấu theo ba chương:
Chương 1: Ngân hàng thương mại đối với hoạt động thẩm định tài
chính dự án đầu tư.
Chương 2: Thực trạng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong
hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính
dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội.
Do trình độ hiểu biết thực tế còn nhiều hạn chế và thời gian thực tập tại
Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội không nhiều nên những vấn đề nêu ra trong
Khoá luận Tốt nghiệp của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất
mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, sửa chữa để Khoá luận Tốt nghiệp của
tôi hoàn thiện thêm, góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu các biện pháp cụ thể
nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho
vay của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, viết Báo cáo thực tập, làm Khoá luận
Tốt nghiệp, tôi đã được sự giúp đỡ và chỉ dẫn nhiệt tình của Tiến sĩ Nuyễn Võ
hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và đầu tư, các hoạt động trung gian.
Đây là ba hoạt động truyền thống của một ngân hàng thương mại. Chúng
có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau. Để có vốn cho vay, ngân hàng phải
huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các nhà tiết kiệm. Đồng thời với lợi thế là một
trung gian trên thị trường tài chính, ngân hàng thương mại thực hiện một số dịch
vụ cung cấp cho khách hàng. Các hoạt động dịch vụ này vừa tạo ra thu nhập,
vừa hỗ trợ cho các hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Hoạt động huy động vốn:
Huy động vốn của ngân hàng thương mại được thể hiện tập trung thông
qua việc thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trong công chúng. Ngân hàng tập trung
được một số vốn lớn từ các tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, tài khoản tiền gửi
có kỳ hạn, từ các công cụ kỳ phiếu, trái phiếu... Bên cạnh đó, khi cần vốn cho
nhu cầu thanh khoản hay đầu tư, cho vay, ngân hàng có thể vay của Ngân hàng
Trung ương hay của các tổ chức tín dụng khác. Trên bảng cân đối tài sản, hoạt
động huy động vốn được biểu hiện qua các tài sản nợ của ngân hàng.
- Hoạt động cho vay và đầu tư :
Ngân hàng thương mại sử dụng tiền tiết kiệm, nhàn rỗi huy động được từ
công chúng đem cho vay hoặc đầu tư chứng khoán. Trên bảng cân đối tài sản,
các hoạt động này được biểu hiện là tài sản có của ngân hàng.
Các hoạt động cho vay và đầu tư đem lại cho ngân hàng thương mại một
khoản thu nhập chiếm một tỷ trọng lớn trong thu nhập của ngân hàng.
- Hoạt động trung gian:
Các ngân hàng thương mại còn thực hiện các nghiệp vụ trung gian theo
yêu cầu của khách hàng như : thanh toán, chuyển tiền, uỷ thác, ký thác, tư vấn,
bảo lãnh, bảo quản vật có giá... Nghiệp vụ này không những mang lại lợi nhuận
cho ngân hàng mà còn tạo điều kiện mở mang cho các nghiệp vụ trên.
2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Đây là hoạt động truyền thống mang tính chất đặc trưng cơ bản của ngân
trọng. Đầu tư sẽ duy trì những tiềm lực sẵn có, đảm bảo cho quá trình tái sản
xuất diễn ra bình thường và tạo một tiềm lực lớn hơn trong tương lai.
1. Đầu tư dự án
Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với những mục
tiêu, phương pháp và phương tiện cụ thể để đạt tới trạng thái mong muốn.
* Các yếu tố cấu thành dự án đầu tư :
- Mục tiêu: Mục tiêu của dự án đầu tư mang tính xác định, là những lợi
ích cần đạt được thông qua việc thực hiện dự án đầu tư, ngoài ra còn có các mục
tiêu khác do việc thực hiện dự án đầu tư tạo ra.
- Các hoạt động của dự án: là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực
hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định, được thực hiện theo một lịch
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
trình cụ thể với trách nhiệm của các bộ phận liên quan tạo thành kế hoạch làm
việc của dự án đầu tư.
- Đầu vào của dự án đầu tư : là các nguồn lực đã được xác định về vật
chất, tài chính, con người để tiến hành các hoạt động của dự án đầu tư.
- Đầu ra của dự án đầu tư : đó là những kết quả cụ thể mang tính chuẩn
mực được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án đầu tư.
- Thời hạn: là khoảng thời gian từ khi bắt đầu nghiên cứu cơ hội đầu tư
đến khi dự án chấm dứt hoạt động, thông thường được xác định trong luận
chứng kinh tế kỹ thuật.
- Các chủ thể: bao gồm các bên liên quan phối hợp với nhau để thực hiện
dự án đầu tư và thụ hưởng những lợi ích do dự án mang lại.
* Các giai đoạn hình thành và phát triển của một dự án đầu tư :
Một dự án đầu tư từ khi hình thành đến khi kết thúc thường trải qua ba
giai đoạn: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành và khai thác dự án đầu
tư. Các công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần
tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm
nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo điều kiện
ên
cứu
khả
thi
lập
dự
án,
luận
chứn
g
kinh
tế kỹ
thuật
.
Đán
h giá
và
quyế
t
định:
thẩm
định
dự
án.
Đàm
phán
và
ký
kết
các
dụng
.
Sử
dụng
chưa
hết
công
suất.
Sử
dụng
công
suất ở
mức
cao
nhất.
Công
suất
giảm
dần và
thanh
lý.
- Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, bao gồm các hoạt động:
+Nghiên cứu, đánh giá cơ hội đầu tư : sản phẩm của bước này là báo cáo
về cơ hội đầu tư.
Đây là giai đoạn hình thành dự án và là bước nghiên cứu sơ bộ nhằm xác
định triển vọng đem lại hiệu quả và sự phù hợp với thứ tự ưu tiên trong chiến
lược phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của ngành trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của vùng, của đất nước.
Bản chất của việc nghiên cứu cơ hội là khá sơ lược. Việc xác định đầu
vào, đầu ra và hiệu quả tài chính kinh tế xã hội của cơ hội đầu tư thường dựa
Trong ba giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo điều kiện tiền
đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở hai giai đoạn sau, đặc biệt là đối
với giai đoạn vận và khai thác dự án.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động
cho vay của ngân hàng thương mại
2.1. Thẩm định dự án đầu tư.
a. Khái niệm.
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan,
khoa học và toàn diện để cho phép đưa ra quyết định đầu tư.
b. Thẩm định về sự cần thiết phải đầu tư.
Với quan điểm mỗi dự án đầu tư là một mắt xích quan trọng trong chương
trình phát triển kinh tế trung hạn, dài hạn của ngành, vùng, lãnh thổ nhằm đạt
được mục tiêu của chương trình phát triển kinh tế đó, việc thẩm định sự cần thiết
phải đầu tư nhằm trả lời các câu hỏi: Dự án có ưu tiên thế nào trong quy hoạch
phát triển chung, Dự án nếu được đầu tư sẽ làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp
và nền kinh tế được bao nhiêu, sử dụng các nguồn tài nguyên và cơ sở vật chất
sẵn có như thế nào, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập và làm giảm chi ngoại
tệ.
c. Thẩm định dự án về phương diện thị trường.
Đây là khía cạnh quan trọng trong quyết định sự thành bại của dự án đầu
tư. Nhìn nhận dưới góc độ của một ngân hàng thương mại, thì sản phẩm của
doanh nghiệp chính là đối tượng tín dụng ngân hàng sẽ tài trợ. Xét dưới tác động
gián tiếp, thì rủi ro của ngân hàng sẽ gắn liền với sản phẩm của doanh nghiệp.
Vì vậy, việc phân tích, đánh giá vị thế của sản phẩm trên thị trường của doanh
nghiệp là vô cùng quan trọng. Việc thẩm định dự án về phương diện thị trường
được tiến hành trên các mặt giá cả, quy cách phẩm chất, mẫu mã... của sản phẩm
để từ đó xác định tính cạnh tranh và khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản
phẩm.
hiện có hiệu quả các dự án đâù tư.
- Xem xét tình hình, kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án trên góc độ
hạch toán kinh tế của đơn vị thực hiện dự án đầu tư. Có nghĩa là xem xét những
chi phí sẽ và phải thực hiện kể từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án, xem
xét những lợi ích mà đơn vị thực hiện dự án sẽ hoặc phải đạt được do thực hiện
dự án.
Trong quá trình phân tích, để biểu hiện tổng hợp các nguồn có liên quan
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đến việc thực hiện dự án và những lợi ích thu được phải sử dụng đơn vị tiền tệ.
Mà tiền có giá trị về mặt thời gian. Do đó, trước khi đi vào tính toán và phân
tích về mặt tài chính của dự án phải hiểu thế nào là tiền có giá trị về mặt thời
gian và phải xử lý ra sao trong quá trình phân tích tài chính của dự án.
Việc thẩm định dự án đầu tư về khía cạnh tài chính giúp ngân hàng xem
xét, tính toán các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án, xem xét các kế
hoạch tài chính của dự án đầu tư có đem lại hiệu quả kinh tế tài chính hay
không. Qua đó giúp ngân hàng có quyết định quan trọng là có tài trợ cho dự án
hay không.
2.2. Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư.
Mỗi dự án đầu tư chứa đựng nhiều nội dung kinh tế kỹ thuật rất phức tạp.
Các nội dung này có quan hệ ràng buộc, tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau hình
thành nên dự án đầu tư. Do vậy, bất cứ trục trặc tại một mặt nào đó đều có ảnh
hưởng đến các mặt khác và có ảnh hưởng đến hiệu qủa cuối cùng của dự án.
Thẩm định tài chính dự án đầu tư phải xem xét tất cả các khía cạnh và đưa ra
câu trả lời: mỗi khía cạnh đó đã khả thi chưa. Tuy nhiên, các dự án đầu tư đưa
đến ngân hàng thương mại xin vay vốn thường rất đa dạng với nhiều phạm vi,
lĩnh vực và quy mô khác nhau. Trong điều kiện và khả năng có hạn, đặc biệt là
đối với các ngân hàng thương mại không chuyên sâu về lĩnh vực cho vay đầu tư
phát triển thì ngân hàng đó sẽ khó có thể thẩm định chi tiết được tất cả các khía
cạnh, ngân hàng chỉ tập trung vào khía cạnh tài chính. đây là mặt ngân hàng có
* Xác định tổng nhu cầu vốn đầu tư cho dự án.
Khi một dự án đầu tư đưa đến ngân hàng xin vay vốn thì dự án đó đã
được rất nhiều cấp xem xét, phê duyệt, tổng vốn đầu tư đã được xác định. Tuy
nhiên, ngân hàng vẫn phải tiến hành xem xét lại trên cơ sở các thẩm định khác
của ngân hàng. Điều này là rất quan trọng bởi vì vốn đầu tư đủ sẽ tạo ra điều
kiện cho dự án được thực hiện một cách thuận lợi, thông suốt, từ đó nâng cao
hiệu quả của dự án. Vốn đầu tư thiếu sẽ gây khó khăn cho việc thi công, xây
dựng cũng như hoạt động vận hành của dự án sau này. Ngược lại, thừa vốn đầu
tư sẽ gây lãng phí vốn, làm giảm hiệu quả tài chính của dự án.
Tổng vốn đầu tư cần thiết cho một dự án bao gồm: Vốn đầu tư cố định và
vốn lưu động ban đầu.
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
* Xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, khả năng đảm bảo từ mỗi nguồn
đó, từ đó xác định số vốn mà ngân hàng cần tài trợ.
Các nguồn tài trợ cho dự án có thể là nguồn vốn Ngân sách cấp phát, ngân
hàng cho vay, vay vốn nước ngoài, vốn liên doanh do các bên tham gia liên
doanh đóng góp... Ngân hàng cần làm rõ mức vốn đầu tư cần thiết từ nguồn để
đi sâu tìm hiểu khả năng thực hiện của các nguồn đó.
Vì vốn đầu tư phải được thực hiện theo đúng tiến độ ghi trong dự án, vừa
đủ đảm bảo tiến độ thực hiện các công việc chung của dự án, vừa để tránh ứ
đọng vốn, nên các nguồn tài trợ được xem xét không chỉ về mặt số lượng mà
còn cả về thời điểm nhận được tài trợ.
* Xem xét dự toán các bảng tài chính và phân tích tài chính.
Ở nội dung này, ngân hàng thương mại sẽ thẩm định tính chính xác, hợp
lý, hợp lệ của bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên các nội dung
của luận chứng kinh tế kỹ thuật, các chỉ tiêu mức kinh tế kỹ thuật của ngành do
Nhà nước ban hành hoặc các cơ quan chức năng, chuyên môn công bố và dựa
trên kết quả thẩm định các mặt thị trường, tổ chức, kinh tế xã hội của Nhà nước.
Các bảng tài chính được thẩm định thông thường bao gồm:
tiêu khác nữa phụ thuộc vào điêù kiện của từng dự án đầu tư cụ thể.
* Đánh giá tài chính dự án đầu tư.
Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của hoạt động đầu tư là đánh đổi lợi ích
hiện tại lấy lợi ích tương lai, lâu dài và bấp bênh nên chỉ tiêu đánh giá dự án đầu
tư cũng phải phản ánh không đồng thời các mặt nói trên của dự án. Các chỉ tiêu
thường được sử dụng khi phân tích, đánh giá tài chính dự án đầu tư bao gồm:
+ Khả năng sinh lợi của dự án đầu tư.
• Giá trị hiện tại ròng(Net Present Value- NPV).
NPV của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tại của các
luồng tiền kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư. NPV của
một dự án đầu tư được tính theo công thức:
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trong đó: C
o
: Vốn đầu tư ban đầu của dự án tính tại thời điểm o.
C
i
: Luồng tiền do dự án mang lại năm thứ i.
n : Thời kỳ phân tích.
r: Tỷ lệ chiết khấu áp dụng cho dự án.
Sử dụng: Chỉ chấp nhận các dự án có NPV >o. Nếu có nhiều dự án loại
trừ nhau thì ta chọn dự án có NPV
max
.
• Chỉ số doanh lợi(Profitarilyty Index – PI).
PI được tính dựa vào mối quan hệ giữa tỷ số thu nhập ròng hiện tại so với
vốn đầu tư ban đầu. Công thức xác định như sau:
Về nguyên tắc, dự án khả thi thì phải là dự án có PI >1, tức là giá trị hiện
tại của các khoản thu nhập trong thời kỳ phân tích tại thời điểm bắt đầu vận
i
i
r
PI
0
1
1
∑
=
+
=
( )
0
1
1
0
=
+
+−=
∑
=
n
i
i
i
r
NPV
C
C
)(
+ Khả năng hoàn vốn .
Khả năng hoàn vốn của dự án đầu tư được biểu thị bằng thời gian thu hồi
vốn đầu tư ban đầu và thời gian hoàn trả vốn vay.
Thời gian hoàn trả vốn đầu tư ban đầu là thời gian từ khi bắt đầu thực
hiện đầu tư đến năm T được xác định từ công thức:
Thời gian hoàn trả vốn vay được xác định tương tự như với xác định thời
gian hoàn trả vốn ban đầu được xác định tương ứng với lượng vốn đi vay.
• Khả năng trả nợ.
Khả năng trả nợ được đánh giá bằng chỉ tiêu tỷ lệ đảm bảo nợ đến hạn
(Debt service coverage ratio –R
trả nợ
) và được xác định theo công thức sau:
Nguồn tiền để trả nợ hàng năm.
R
trả nợ
=
Số nợ phải trả hàng năm.
Nguồn tiền để trả nợ được xác định bằng Tổng mức khấu hao hàng năm
và Lợi nhuận dùng để trả nợ. Số nợ phải trả hàng năm bao gồm cả nợ gốc và lãi
phải trả trong năm.
Đánh giá khả năng trả nợ không những cho thấy mức độ tin cậy của dự án
về mặt tài chính mà còn là điều kiện để các ngân hàng thương mại, các tổ chức
tài chính xem xét tài trợ cho dự án. Đây là chỉ tiêu rất quan trọng và được các
nhà tài trợ tài chính đặc biệt quan tâm.
( )
∑
=
+
=
Doanh thu hoà vốn = Điểm hoà vốn lý thuyết x Tổng doanh thu.
Sản lượng hoà vốn = Điểm hoà vốn lý thuyết x Tổng sản lượng.
Sản lượng hoà vốn.
Công suất hoà vốn =
Công suất hoạt động.
.Điểm hoà vốn tiền tệ: là điểm cho phép dự trù khả năng của dự án để có
tiền vay trả nợ trung, dài hạn ngân hàng.
Định phí – Khấu hoa cơ bản.
Điểm hoà vốn tiền tệ =
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Doanh thu – Biến phí.
Tính điểm hoà vốn khi thẩm định tài chính dự án đầu tư là một công việc
hết sức quan trọng bởi vì nó cho phép ngân hàng thấy được mức độ chịu đựng
của dự án đối với những thay đổi bất lợi và giúp ngân hàng đánh giá tốt hơn về
chất lượng tài chính của dự án đầu tư.
• Đánh giá độ nhạy của dự án đầu tư.
Đánh giá độ nhạy có mục đích xác định tính giới hạn an toàn của dự án
khi có sự thay đổi các yếu tố đầu tư và hoạt động xét theo hiệu quả của nó. Từ ý
nghĩa đó, độ nhạy của dự án đầu tư được đặc trưng bằng tỷ lệ mức độ thay đổi
các chỉ tiêu đánh giá dự án(khả năng sinh lời, khả năng hoàn vốn, ...) so với mức
độ thay đổi các yếu tố xác định của dự án. Tổng quát, độ nhạy của dự án đầu tư
được xác định như sau:
Trong đó: E là độ nhạy.
δχ
i
là mức biến đổi của nhân tố ảnh hưởng.
δF
j
là mức biến đổi của chỉ tiêu đánh giá dự án.
lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tốt sẽ giúp ngân hàng nhanh chóng tìm
ra lời giải tối ưu cho bài toán : cho dự án nào vay, cho vay bao nhiêu, thời gian,
lãi suất, quản lý và thu hồi vốn ra sao, hỗ trợ dự án thế nào.
2. Các nhân tố ảnh hưởng.
- Phương pháp và chỉ tiêu thẩm định.
Thẩm định tài chính bao gồm tập hợp các hoạt động xem xét, đánh giá, dự
đoán các luồng chi phí, lợi ích tài chính của dự án và xác định giá trị ròng của
chúng trong điều kiện giá trị của tiền thay đổi theo thời gian trong các phương
pháp, chỉ tiêu thẩm định là rất quan trọng.
Một trong những yếu tố quan trọng để xác định hiệu quả kinh tế tài chính
là tỷ lệ chiết khấu được lựa chọn để tính toán. Nếu tỷ lệ này quá thấp sẽ khuyến
khích đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, nhưng nếu quá cao sẽ hạn chế đầu tư.
- Thông tin.
Ngân hàng rất cần có những thông tin đầy đủ, chính xác, có chất lượng
cao về dự án cũng như khách hàng xin vay vốn. Chất lượng và sự đầy đủ của
những thông tin này phụ thuộc một phần vào việc lập, thẩm định dự án của chủ
đầu tư và cung cấp thông tin của các chủ thể liên quan.
Bên cạnh đó, phương pháp thu thập, xử lý, phân tích, lưu trữ và sử dụng
thông tin của ngân hàng cũng rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin và khả năng đảm bảo thông tin cho công tác thẩm định dự án đầu tư.
- Con người.
Con người là nhân tố quyết định chất lượng công tác thẩm định tài chính
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
dự án đầu tư. Con người với trình độ và kinh nghiệm của mình là nhân tố trung
tâm liên kết, phối hợp các nhân tố khác trong thẩm định. Vì vậy, đòi hỏi các
ngân hàng phải có những con người xử lý thông tin giỏi, phải có kiến thức, đủ
năng lực sử dụng công nghệ cao.
- Tổ chức quản lý và điều hành.
Thẩm định tài chính dự án đầu tư là tập hợp của rất nhiều hoạt động có
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
có vốn điều lệ là 353,711 tỷ VND trong tổng số vốn tự có của Ngân hàng là
404,311 tỷ VND. Các cổ đông góp vốn của Ngân hàng TMCP Á Châu bao gồm:
- Cổ đông nước ngoài( là các tập đoàn kinh tế và các quỹ đầu tư nước
ngoài tại Việt Nam) chiếm 25,47%.
- Cổ đông trong nước là pháp nhân chiếm 17,97%.
- Cổ đông trong nước là cá nhân chiếm 56,57%.
Như vậy, trong hệ thống ngân hàng TMCP Việt Nam hiện nay, Ngân hàng
TMCP Á Châu là ngân hàng có vốn điều lệ cao nhất.
Hoạt động chính của Ngân hàng TMCP Á Châu bao gồm việc nhận tiền
gửi, cung cấp tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ, thanh toán chuyển
khoản và nhờ thu, phát hành bảo lãnh ngân hàng, tín dụng chứng từ và đầu tư
vào các dự án... Ngân hàng TMCP Á Châu là Ngân hàng hoạt động sớm trong
lĩnh vực tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mới như : Phát hành thẻ tín dụng
ACB- Master Card và ACB-VISA; huy động và cho vay bằng vàng, cho vay trả
góp để mua nhà đất, xây dựng, sửa chữa nhà, các hình thức cho vay trả góp khác
để phục vụ nhu cầu của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Hiện nay, Ngân hàng TMCP Á Châu đã có 9 chi nhánh, 4 văn phòng giao
dịch và 3 trung tâm: Trung tâm thẻ, Trung tâm vàng và Trung tâm Giao dịch địa
ốc. Các chi nhánh của Ngân hàng TMCP Á Châu được trải rộng trên toàn quốc.
Cho đến nay, Ngân hàng TMCP á Châu đã mở các chi nhánh sau:
Hà Nội: Giấy chấp thuận số 0016/ GCT ngày 14 tháng 12 năm 1993.
Sài Gòn: Giấy chấp thuận số 0021/ GCT ngày 16 tháng 2 năm 1994.
An Giang: Giấy chấp thuận số 0019/ GCT ngày10 tháng 8 năm 1994.
Cần Thơ:Giấy chấp thuận số 0024/ GCT ngày 22 tháng 11 năm 1994.
Hải Phòng:Giấy chấp thuận số 0027/ GCT ngày 27 tháng 7năm 1995.
Chợ Lớn: Giấy chấp thuận số 0040/ GCT ngày 7 tháng 8 năm 1995.
Đà Nẵng: Quyết định số 212/ QĐ-NH5 ngày 18 tháng 8 năm 1996.
Cà Mau: Giấy chấp thuận số 0035/ GCT ngày 12 tháng 9 năm 1997.
Đaklak : Quyết định số 297/ QĐ-NH5 ngày 29 tháng 8 năm 1998.
Kiếm- Thành phố Hà Nội. Từ ngày 01 tháng 12 năm 1999 Ngân hàng TMCP Á
Châu Hà Nội chuyển trụ sở về số 184- 186- Bà Triệu- Quận Hai Bà Trưng-
Thành phố Hà Nội.