Lời mở đầu
Phát triển kinh tế là mục tiêu cuả tất cả các quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam. Trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nớc thì đầu t luôn đ-
ợc coi là động lực và là đòi hỏi cấp bách của chúng ta. Trên thực tế, chúng ta đã
tiến hành công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, bằng việc đẩy mạnh đầu
t trung và dài hạn. Những năm qua, tốc độ đầu t trong nền kinh tế có sự tăng tr-
ởng mạnh mẽ, có đợc vậy không thể không kể đến vai trò của các ngân hàng th-
ơng mại với t cách là nhà tài trợ lớn cho các dự án đầu t. Song nền kinh tế nớc ta
trong thời gian qua còn rất nhiều khó khăn, đặc biệt là năm 1998, 1999 với hàng
loạt các vụ đổ vỡ tín dụng xảy ra giữa các ngân hàng thơng mại và các tổ chức
tín dụng đã làm ảnh hởng không ít đến nền kinh tế nói chung và bớc phát triển
của từng doanh nghiệp, từng ngân hàng nói riêng, Trong vài năm gần đây, công
tác thẩm định dự án đầu t ở Việt Nam đang ngày càng đợc hoàn thiện cho thích
hợp với tình hình kinh tế của đất nớc. Tuy nhiên, hoạt động thẩm định dự án
đầu t vẫn còn nhiều bất cập, chất lợng thẩm định dự án cha cao, dự án đầu t cha
thực sự có hiệu quả trong việc đem lại lợi nhuận cho chủ đầu t và ngân hàng
nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế, xã hội.
Đứng trớc thực tế đó, đòi hỏi toàn bộ hệ thống ngân hàng thơng mại phải
không ngừng nâng cao chất lợng tín dụng mà trọng tâm là nâng cao chất lợng
thẩm định dự án. Với t cách là bà đỡ của nền kinh tế và là ngời bạn đồng
hành với hoạt động của doanh nghiệp , đóng vai trò là ngời tài trợ vốn cho dự án
thì công tác thẩm định dự án đầu t là không thể thiếu đợc trong hoạt động của
các ngân hàng. Làm tốt công tác thẩm định dự án đầu t sẽ góp phần quyết định
trong việc nâng cao hiệu quả vốn vay, giảm rủi ro cho ngân hàng, góp phần thúc
đẩy sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp. Nh vậy, việc nâng cao chất lợng
thẩm định dự án đầu t không chỉ có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của
ngân hàng mà còn góp phần tiết kiệm vốn cho toàn xã hội, thúc đẩy mở rộng,
phát triển an toàn, hiệu quả cho nền kinh tế đất nớc, định hớng đầu t đúng đắn
cho các doanh nghiệp.
Đóng góp vào quá trình chung đó phải kể đến Ngân hàng thơng mại cổ
phần á Châu ( ACB ), một đơn vị đạt đợc nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt
đầu t. Vậy hoạt động đâù t là gì?
Lý thuyết phát triển đã chỉ ra rằng: Khả năng phát triển của một quốc gia
đợc hình thành bởi các nguồn lực về vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Đó là hệ thống các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ đ-
ợc biểu hiện bằng phơng trình:
D = f ( C,T, L, R )
Trong đó: D : Khả năng phát triển của quốc gia.
C, T, L, R : Khả năng vốn, công nghệ, lao động và tài nguyên.
Và phơng trình này đợc xây dựng và thực hiện thông qua hoạt động đầu t.
Hoạt động đầu t đợc hiểu nh là việc huy động nguồn lực để biến các lợi ích
dự kiến thành hiện thực trong một khoảng thời gian đầu t dài trong tơng lai. Các
nguồn lực ở đây chính là vốn, con ngời, tài nguyên thiên nhiên và thời gian...và
lợi ích dự kiến có thể lợng hoá đợc (tức là đo đợc hiệu quả bằng tiền) nh sự tăng
lên của sản lợng và lợi ích không thể lợng hoá đợc nh sự phát triển trong lĩnh
vực giáo dục quốc phòng, giải quyết các vấn đề xã hội...
Đứng trên góc độ xã hội đầu t là hoạt động bỏ vốn kinh doanh để từ đó thu
đợc các hiệu quả kinh tế, xã hội vì mục tiêu phát triển quốc gia. Còn trên góc độ
doanh nghiệp, hiểu đơn giản đầu t là việc bỏ vốn kinh doanh để mong thu đợc
lợi nhuận trong tơng lai.
Nhng dù đứng trên góc độ nào chúng ta cũng đều thấy hoạt động đầu t là
điều kiện cần để thúc đẩy sự phát triển sản xuất kinh doanh hay rộng hơn là
phát triển kinh tế xã hội.
Hoạt động đầu t có tính chất đặc biệt đợc thể hiện trên những đặc điểm
sau:
Do là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu t thờng và trớc hết là quyết
định tài chính. Với một lợng vốn hữu hạn nên bỏ vốn ra bao nhiêu và thu đợc
bao nhiêu, hiệu quả đạt đợc nh thế nào?
3
Hoạt động đầu t là hoạt động có tính chất lâu dài, mang nặng tính rủi ro và
do vậy luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trớc mắt và lợi ích trong tơng lai.
- Đầu t đổi mới sản phẩm
- Đầu t thay đổi thiết bị
- Đầu t mở rộng xuất khẩu sản phẩm, nâng cao chất lợng, mở rộng thị tr-
ờng tiêu thụ.
4
- Đầu t khác: nh góp vốn thực hiện liên doanh với các doanh nghiệp, tổ
chức kinh tế khác, đầu t vào tài sản tài chính v.v... Việc phân loại này giúp cho
doanh nghiệp có thể kiểm soát đợc tình hình thực hiện đầu t theo những mục
tiêu nhất định.
Mục tiêu đầu t sẽ đợc thể hiện dới các kết quả tài chính, kết quả kinh tế và
kết quả xã hội. Mỗi nhà đầu t khi theo đuổi mục tiêu nào đó sẽ cố gắng đạt đợc
tối đa kết quả đó. Muốn tối đa hoá hiệu quả đầu t thì trớc khi quyết định đầu t
nhất thiết phải có dự án đầu t. Trên thực tế, hoạt động đầu t đợc thể hiện tập
trung qua việc thực hiện các dự án đầu t. Vậy dự án đầu t là gì?
1.1.2. Dự án đầu t
1.1.2.1. Khái niệm và vai trò của dự án đầu t
- Khái niệm:
Về bản chất, Dự án đầu t là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo
mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tợng nhất định nhằm đạt sự tăng trởng về
số lợng, cải tiến hay nâng cao chất lợng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong
khoảng thời gian xác định.
Dự án đầu t là một tập hợp các hoạt động kinh tế đặc thù với các mục tiêu,
phơng pháp và phơng tiện cụ thể để đạt đợc đến trạng thái mong muốn. Dự án
đầu t dài hạn đợc thể hiện bằng văn bản pháp lý làm căn cứ để thực hiện những
mục tiêu đầu t.
Xét về mặt hình thức, dự án đầu t là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một
cách chi tiết, đầy đủ, khoa học, và toàn diện một dự kiến đầu t trong tơng lai.
Đây cũng là phơng tiện chủ yếu mà chủ đầu t sử dụng để thuyết phục nhằm
nhận đợc sự ủng hộ về mặt tài chính từ phía Chính phủ, các tổ chức tài chính.
Xét trên góc độ quản lý thì dự án đầu t là cơ sở để các cơ quan quản lý Nhà
có thể phân loại các dự án thành:
+ Dự án đổi mới thiết bị công nghệ.
+ Dự án đẩy mạnh tiêu thụ những sản phẩm hiện có trên thị trờng
+ Dự án tung những sản phẩm vào thị trờng mới.
+ Dự án chế tạo sản phẩm mới.
+ Dự án cải tiến sẩn phẩm hiện có.
- Phân loại theo mối quan hệ các dự án: Để đánh giá tính hiệu quả của dự
án ngời ta có thể phân loại các dự án dựa vào mối quan hệ của chúng:
+ Dự án độc lập: Là những dự án có đặc điểm là khi đợc chấp thuận
hay từ chối đều không ảnh hởng dòng tiền của các dự án khác. Khi hai dự án đ-
ợc coi là độc lập về kinh tế thì việc đánh giá và chấp nhận hay từ chối dự án nào
đó sẽ không chịu ảnh hởng bởi quyết định của dự án kia.
Tuy nhiên ở đây ta chỉ xét đến sự độc lập về kinh tế, còn giữa các dự án
luôn tồn tại nhiều mối tơng quan trên nhiều phơng diện: sự chi phối của các
chính sách kinh tế vĩ mô, sự tăng giảm giá trị đồng tiền...
+ Dự án loại phụ thuộc: Đó là dự án có dòng tiền ( thu nhập, chi phí )
chịu sự quyết định chấp thuận hay từ chối dự án khác. Trên thực tế, loại dự án
này thờng là loại dự án lệ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế và một dự án chịu lệ
6
thuộc vào dự án khác nhng ngợc lại, nó cũng có những ảnh hởng nhất định đối
với những dự án mà nó lệ thuộc.
+ Dự án loại trừ nhau: Là loại dự án mà khi một dự án đợc chấp
thuận sẽ làm triệt tiêu hoàn toàn những khoản lợi nhuận tiềm tàng thu đợc từ dự
án khác. Tức là nếu một trong các dự án đợc chấp thuận thì những dự án còn lại
sẽ bị bác bỏ. Trên thực tế khả năng huy động tài chính cho đầu t cũng có giới
hạn đối với chủ đầu t, trong trờng hợp đó các dự án đầu t sẽ loại trừ nhau, cạnh
tranh nhau về mặt ngân quỹ, vốn đầu t tạo ra mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa
các dự án tiềm tàng.
1.1.2.3. Chu trình của một dự án đầu t
Nh vậy, dự án đầu t có thể đợc phân chia thành nhiều loại trên các góc độ
là bớc quan trọng nhng cũng khó khăn nhất của quá trình phân tích.
Thậm chí những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này cũng mắc phải
những sai lầm rất lớn. Xác định luồng tiền liên quan tới nhiều nhân tố hay biến
số. Đánh giá những nhân tố này có thể rất khó chính xác. Những sai lầm
nghiêm trọng trong việc xác định luồng tiền cụ thể dấn đến những kết luận sai
về việc chấp thuận hay bác bỏ dự án hoặc xếp hạng các dự án đầu t hoàn toàn
ngợc lại nh nó phải có.
Gần nh tất cả các dự án đợc phân tích dựa trên cơ sở giả định công ty đang
trong quá trình hoạt động liên tục. Điều đó có nghĩa là có đã thực hiện một
khoản đầu t nào đó và cũng đã có những luồng tiền thu nào đó. Nh thế, việc
phân tích dự án chỉ thích hợp khi xem xét những luồng tiền đầu t mới và những
luồng tiền thu mới do việc đầu t mới tạo ra. Nói cách khác, những luồng tiền
thích hợp cho việc phân tích dự án vốn ( bao gồm luồng tiền chi phí và luồng
tiền thu ròng sau khi dự án đi vào hoạt động ), là những luồng tiền do việc thực
hiện dự án tạo ra. Ngời ta còn gọi đây là những luồng tiền tăng lên.
Sau đây, chúng ta sẽ đề cập những vấn đề cơ bản trong việc xác định luồng
tiền chi phí và luồng tiền thu nhập.
a. Xác định luồng tiền ra của dự án:
Phần lớn các dự án đầu t đòi hỏi các khoản chi phí đầu t ngay từ ban đầu,
sau đó các luồng tiền thu ròng mới xuất hiện. Nói chung việc xác định các chi
phí đầu t không phức tạp nh xác định các luồng tiền thu:
Chi phí mua sắm hàng hoá và lắp đặt: Nếu nh chúng ta mua một thiết bị thì
không chỉ đơn giản tính giá mua là chi phí đầu t, mà chúng ta phải tính thêm
vào đó cả những chi phí liên quan cho đến khi có thể đa thiết bị vào hoạt động.
Chẳng hạn, chi phí vận chuyển bảo hiểm, lắp đặt, vận hành thử. Chúng đợc
cộng vào giá mua tài sản cố định (hàng hoá vốn) để xác định chi phí đầu t.
Chi phí cơ hội: Cần đa các loại chi phí cơ hội vào hạch toán cho dự án.
Trong nhiều trờng hợp doanh nghiệp đã sở hữu sẵn một số tài sản hữu dụng cho
việc thực hiện dự án. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp không phải bỏ chi phí
mua tài sản đó nữa. Chi phí cơ hội của một tài sản là giá trị hiện giá cao nhất
thúc giai đoạn đầu t và dự án đi vào hoạt động, không phải giá trị đầy đủ của
tất cả các luồng tiền hoạt động đầu t thích hợp cho sự phân tích. Luồng tiền
thích hợp ở đây là luồng tiền sẵn sàng cho việc sử dụng, tức là sẵn sàng cho việc
chia lãi đầu t. Luồng tiền nh thế phải là luồng tiền hoạt động sau thuế.
Ký hiệu : CF : Dòng tiền dự án
D : Khấu hao;
TD : tiết kiệm thuế từ khấu hao;
R : Lãi vay;
TR : Tiết kiệm thuế từ lãi vay;
EBIT : Lợi nhuận trớc thuế và lãi;
T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ta có : CF = EBIT + D; EBIT = CF - D
9
Lợi nhuận trớc thuế = EBIT - R = CF - D - R;
Thuế thu nhập = T ( CF - D - R )
Dòng tiền sau thuế = CF - T ( CF - D - R )
= ( 1 - T ) CF + TD + TR
Tiết kiệm thuế từ khấu hao là phần thu nhập hoạt động, còn tiết kiệm thuế
từ lãi vay phản ánh sự thật là dự án đầu t đợc tài trợ bằng vốn vay, hay TR liên
quan đến phơng pháp tài trợ dự án. Mặc dù tiết kiệm thuế do lãi vay là một
nguồn của dòng tiền sau thuế. Nhng theo thông lệ kế toán nó đợc đa vào chi
phí sử dụng vốn. Sự thật là chi phí lãi vay bao hàm trong công thức tính chi phí
trung bình của vốn (WACC) đã đợc điều chỉnh đối với thuế (chi phí nợ sau
thuế). Do vậy, về lý luận cũng nh trong thực tiễn, chúng ta sử dụng chi phí nợ
sau thuế để tính WACC và sử dụng WACC để chiết khấu thu nhập ròng của dự
án. Thu nhập ròng của dự án chính là dòng tiền sau thuế nhng không tính phần
tiết kiệm thuế do lãi vay.
Thu nhập ròng của dự án = ( 1 - T ) CF + TD
= (1 - T) lợi nhuận trớc thuế + D + (1 - T) R
vì (1-T)R chính là chi phí nợ sau thuế đã tính WACC và sử dụng WACC
Khấu hao đợc thừa nhận trong kế toán khi tính vào thu nhập, nhng không
đợc thừa nhận là một luồng tiền của dự án, và đây không phải là chi phí bằng
tiền thực tế.
Chi phí lãi vay là khoản vừa là chi phí vừa là chi tiêu bằng tiền thực sự, nh-
ng không đợc khấu trừ chi phí lãi vay vào doanh thu, vì chi phí lãi vay tợng trng
cho thời gian của tiền tệ và khoản tiền này đã đợc tính bằng cách chiết khấu
dòng tiền tơng lai. Khấu trừ tiền lãi vào dòng tiền cũng là tính lãi gấp đôi.
Chi phí thua lỗ vốn đầu t của dự án trong quá khứ theo hạch toán kế toán
vẫn là chi phí cho kỳ này tuy nhiên nó không đợc xem xét đến trong dự án mới.
Các chi phí quản trị chung đợc xem xét trong hạch toán dự án sẽ chỉ là
những chi phí phát sinh trực tiếp từ dự án.
1.1.2.5. Nguồn tài trợ dự án
Hoạt động đầu t bao giờ cũng đòi hỏi phải có một lợng vốn lớn, phải có
thời gian dài nên chủ đầu t thờng không chỉ dùng một nguồn vốn duy nhất để
đầu t mà để tài trợ cho một dự án, nhà đầu t có thể khai thác ở các nguồn sau:
+ Nguồn tài trợ từ vốn ngân sách: chỉ đối với lĩnh vực đâù t mang tính chất
chính sách của kinh tế Nhà nớc.
+ Nguồn vốn chủ sở hữu:
- Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp
- Các quỹ của doanh nghiệp
- Huy động vốn cổ phần phát hành thêm cổ phiếu
+ Nguồn vốn đi vay theo các hình thức:
- Vay của các tổ chức tín dụng
- Phát hành trái phiếu.
Huy động và sử dụng nguồn vốn nào thì nhà đầu t cũng phải bỏ ra một
khoản chi phí đợc gọi là chi phí vốn.
Tuỳ theo quy mô đầu t, nhu cầu vốn, chi phí vốn mà chủ đầu t sẽ lựa chọn
nguồn tài trợ cho dự án sao cho có thể tối đa giá trị tài sản chủ sở hữu.
11
1.1.3. Hoạt động cho vay theo dự án đầu t của ngân hàng th ơng mại:
nhất định: chi phí trả lãi, chi phí giao dịch, chi phí liên quan khác. Những chi
phí này sẽ đợc bù đắp đồng thời ngân hàng thu lợi nhuận thông qua hoạt động
sử dụng vốn.
Hoạt động sử dụng vốn:
Hoạt động ngân quỹ: là việc ngân hàng nắm giữ tiền mặt tại két, các khoản
tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng trung ơng và các ngân hàng thơng mại khác,
12
tiền trong quá trình thu, theo quy định về dự trữ bắt buộc của Ngân hàng trung -
ơng đồng thời để nhằm bảo đảm khả năng thanh toán, tránh rủi ro mất khả năng
thanh toán có thể dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng, chính ngân hàng cũng để ra
một khoản dự phòng... hoạt động này thờng không sinh lời.
Hoạt động cho vay: Là sự thể hiện của quan hệ tín dụng- quan hệ tạm thời
sử dụng vốn của nhau- quan hệ giữa ngân hàng và phần còn lại của nên kinh tế
trên sự tin tởng có vay có trả. Trong quan hệ này thì ngân hàng vừa là ngời cho
vay vừa là ngời đi vay. Đây là hoạt động mang tính chất truyền thống của Ngân
hàng.
Hoạt động đầu t: Là hoạt động ngân hàng sử dụng nguồn vốn của mình
đầu t vào các tài sản tài chính nh cổ phiếu công ty, trái phiếu chính phủ hoặc
tham gia góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp để hởng lãi suất hoặc chia
lợi nhuận .
Hoạt động trung gian thanh toán: Trên cơ sở các mối quan hệ thiết lập với
khách hàng, các ngân hàng trong nớc cũng nh các ngân hàng ngoài nớc, ngân
hàng thực hiện thanh toán qua: Hệ thống thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng (
với hệ thống ngân hàng ), phát hành các loại séc, thẻ ngân hàng, thực hiện trích
tài khoản, chuyển khoản, thanh toán trực tiếp cho các cá nhân... Qua đó ngân
hàng thu phí, tỷ trọng của hoạt động này ngày càng tăng.
Cung cấp các dịch vụ khác: Ngân hàng thơng mại còn thu phí dịch vụ
thông qua các hoạt động khác nh: t vấn đầu t, bảo lãnh ( dự thầu thanh toán,
phát hành chứng khoán...), làm đại lý, quản lý két... bới ngân hàng có những u
thế về uy tín, trình độ chuyên môn nguồn thông tin và các mối quan hệ rộng
khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào đó không đợc vợt quá hạn mức đa ra. Ph-
ơng thức cho vay này thờng đợc áp dụng với những khách hàng lớn, có nhu cầu
vốn thờng xuyên ( có dòng tiền tài chính ra vào tơng đối ổn định ) và khách
hàng này đợc ngân hàng tín nhiệm.
Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng xác định số tiền lãi vay phải trả
cộng với số tiền nợ gốc. Tổng số tiền vay đợc chia ra để trả theo từng kỳ hạn trả
nợ, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu bên vay khi họ đã hoàn trả hết nợ
gốc và tiền lãi. Khách hàng vay theo phơng thức này phải có phơng án trả nợ
khả thi bằng các khoản thu nhập có cơ sở chắc chắn.
Cho vay theo dự án đầu t: áp dụng cho nhu cầu vay vốn trung và dài hạn
để phục vụ đầu t và phát triển sản xuất kinh doanh. Vay theo hình thức này
khách hàng phải trả mức lãi suất cao phù hợp với tính rủi ro do thời gian cho
vay vốn dài, ngoài ra còn phải trả phí cam kết nếu có yêu cầu ra hạn mức tín
dụng.
Để ra quyết định tài trợ cho vay vốn ngân hàng quan tâm nhất đến việc thu
hồi vốn vay và lãi vay, và mối quan tâm này đặc biệt quan trọng đối với phơng
thức cho vay theo dự án đầu t bởi những đặc trng của dự án đầu t là:
- Cho vay theo dự án thờng đòi hỏi thời gian dài mà đi cùng với thời gian
dài thì yếu tố rủi ro càng cao. Rủi ro xảy ra có thể do chủ quan hay
khách quan. Chủ quan là về phía khách hàng vay vốn ( thay đổi trong
kế hoạch sản xuất dự án đầu t, bùng nợ, cố tình làm ăn kém hiệu quả để
14
thu lợi ích riêng... ). Rủi ro mang tính khách quan là các yếu tố rủi ro
thuộc về thị trờng ( thay đổi sức mua, giá, sản phẩm cạnh tranh ), về cơ
chế kinh tế, chính sách kinh tế tài chính của Nhà nớc...Rủi ro xảy ra dù
theo nguyên nhân nào đều ảnh hởng trực tiếp tới khả năng trả nợ của
khách hàng, khả năng thu nợ của ngân hàng, giảm hiệu quả dụng vốn,
giảm chất lợng tín dụng của ngân hàng.
- Mặt khác, dự án đầu t thờng đòi hỏi lợng vốn lớn, và để đảm bảo cho
khoản vốn vay đó không phải lúc nào cũng có thể đảm bảo bằng tài sản
mục tiêu nhất định khi tiến hành thẩm định.
Đối với chủ đầu t:
Sự sống cón của doanh nghiệp trong tơng lai phụ thuộc phần lớn vào quyết
định đầu t ngày hôm nay. Do vậy, trớc khi quyết định đầu t chủ đầu t phải xem
xét kĩ lỡng liệu các lợi ích dự kiến thu đợc từ dự án có tơng ứng với chi phí bỏ
ra hay không; mối quan tâm hàng đầu của họ là độ lớn và tính chắc chắn của
luồng tiền trong tuơng lai nhằm tối đa hoá lợi ích tài chính ( giá trị tài sản chủ
sở hữu ). Vì vậy thẩm định dự án đầu t giúp họ tìm đợc dự án đầu t tối u, tính
khả thi cao trên cơ sở phù hợp với nguồn lực của doanh nghiệp và khả năng tìm
nguồn tài trợ, giảm chi phí chuẩn bị và thực hiện đầu t.
Đối với cơ quan quản lý nhà nớc:
Trên góc độ của toàn nền kinh tế quốc dân, phù hợp với mục tiêu xây dựng
và phát triển đất nớc thì việc thẩm định phải dựa trên quan điểm lợi ích và chi
phí xã hội là chính, quan tâm đến sự phù hợp của dự án trong chiến lợc phát
triển vùng ngành kinh tế, các vấn đề tác động môi trờng, công ăn việc làm... để
từ đó ra quyết định chấp nhận việc thực hiện dự án và đánh giá dự án sau khi đã
hoàn thành.
Đối với ngời tài trợ:
Một dự án thờng kéo dài đòi hỏi một lợng vốn lớn và bị chi phối bởi nhiều
yếu tố mà trong tơng lai có thể sẽ biến động khó lờng. Những con số tính toán
cũng nh những nhận định đa ra trong dự án ( khi lập dự án ) chỉ là ớc tính, dự
kiến bởi vậy nên chứa đựng ít nhiều yếu tố chủ quan của ngời lập dự án. Ngời
lập dự án có thể là chủ đầu t hoặc cơ quan t vấn do chủ đầu t thuê lập dự án trên
cơ sở ý đồ kinh doanh và mong muốn của chủ đầu t. Các nhà soạn thảo thờng
đứng trên góc độ hẹp ( với mục tiêu xác định ) để nhìn nhận vấn đề của dự án
nên dễ bỏ qua một số yếu tố liên quan, để làm cho dự án trở nên khả thi nhằm
đạt đợc sự ủng hộ và tài trợ từ bên ngoài. Nh vậy, dự án do chủ đầu t lập có tính
khả thi trớc hết sẽ đứng trên quan điểm lợi ích riêng của họ.
Trên góc độ nhà tài trợ bên cạnh mục tiêu nhằm đóng góp cho sự phát
triển của đất nớc, khuyến khích doanh nghiệp thực hiện dự án mang lại hiệu quả
Cần phân tích đánh giá quan hệ cung cầu về sản phẩm của dự án tại thời
điểm hiện tại và tơng lai, xác định thị trờng chủ yếu cho sản phẩm so sánh giá
thành sản phẩm, giá bán sản phẩm của dự án với giá cả thực tế trên thị trờng cả
trong hiện tại và tơng lai, để xác định khả năng chiếm lĩnh thị trờng của sản
phẩm, xác định lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, dự báo những biến động về giá
cả... để từ đó xác định quy mô sản xuất, quy mô đầu t, lựa chọn thiết bị công
nghệ cho phù hợp. Tuy nhiên, đây là khâu thẩm định hết sức phức tạp nhng
cũng hết sức quan trọng, để có đợc những đánh giá toàn diện, chính xác về khía
cạnh này cần phải thu thập đầy đủ thông tin, có sự kết hợp tình hình thực tế với
số liệu thống kê cũng nh các định hớng chỉ đạo, các chính sách từ phía Nhà nớc,
các ngành và địa phơng về các vấn đề liên quan.
Thẩm định khía cạnh công nghệ - kỹ thuật:
Xem xét mức độ hiện đại của công nghệ, sự phù hợp của công nghệ với
điều kiện thực tế và các yêu cầu sản xuất sản phẩm, đánh giá về tính hữu hiệu
17
của thiết kế dự án và tìm ra cách giải quyết hay quản lý, kiểm tra tính đồng bộ,
phù hợp của máy móc thiết bị với quy mô và công nghệ của dự án, tính hợp lý
của nội dung, tiến độ các hạng mục trong xây dựng cơ bản...
Phân tích kỹ thuật là tiền đề cho việc tiến hành phân tích mặt kinh tế tài
chính, không có số liệu của phân tích kỹ thuật thì không thể tiến hành phân tích
mặt kinh tế tài chính tuy rằng các thông số kinh tế có ảnh hởng đến các quyết
định về mặt kỹ thuật.
Quyết định đúng đắn trong khâu thẩm định này giúp tiết kiệm đợc các
nguồn lực do lựa chọn đợc những dự án khả thi về mặt kỹ thuật, đồng thời tránh
gây tổn thất nguồn lực và bỏ lỡ cơ hội tăng nguồn lực. Chi phí đòi hỏi cho khâu
thẩm định này cũng lớn thờng chiếm trên dới 80% chi phí nghiên cứu khả thi và
chiếm từ 1-5% tổng chi phí đầu t.
Thẩm định khía cạnh tổ chức, quản lý:
Đây là công việc cần thiết bởi chúng ta hiểu rõ tầm quan trọng của công
tác tổ chức quản lý trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, với dự án đầu t, nó tác
chi phí trên góc độ xã hội. Lợi ích là những đóng góp thực sự của dự án vào
phúc lợi chung của quốc gia; chi phí là những khoản chi làm tiêu hao nguồn lực
thực sự của nền kinh tế. Do đó, khi lấy những chỉ tiêu từ thẩm định tài chính
phải có những điều chỉnh nhất định về giá tính toán, về thuế...
Việc thẩm định ngoài việc chỉ ra đóng góp của dự án vào mục tiêu kinh tế -
xã hội nh tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập xác định đối tợng hởng lợi
hay chịu chi phí một cách đầy đủ, nghiêm túc tác động của môi trờng - xem
mức độ ảnh hởng đến môi trờng có thể chấp nhận đợc không và đa ra các giải
pháp cải thiện nhằm hớng tới sự phát triển bền vững.
Các nội dung thẩm trên đối với một dự án đầu t là hết sức cần thiết không
thể bỏ qua bất kỳ khâu thẩm định nào bởi mỗi một khía cạnh đều có ảnh hởng
đến sự tồn tại của dự án. Mặt khác, các nội dung thẩm định có mối liên hệ mật
thiết với nhau: những nhận xét đánh giá, tính toán ở mặt này có thể là cở sở cho
việc phân tích mặt khác và sự phù hợp giữa các yếu tố của dự án đơng nhiên là
sự cần thiết. Ví dụ thẩm định thị trờng cho những nhận định về chi phí nguyên
vật liệu, đánh giá sức tiêu thụ sản phẩm - là cơ sở đa ra dự tính về các dòng tiền
trong thẩm định tài chính.
Thẩm định môi trờng đa ra số liệu về những khoản chi phí bỏ ra trong
những năm nhất định để xử lý các vấn đề liên quan. Thẩm định thị trờng đa ra
số liệu về lợng vốn đầu t và giải pháp lựa chọn nguồn tài trợ.
Nh vậy, các nội dung không thể chỉ đợc xem xét một cách phiến diện độc
lập nhau. Tuy nhiên, thẩm định dự án đầu t là một công việc hết sức phức tạp,
đòi hỏi phải tiêu tốn thời gian, công sức và tiền bạc. Vì thế để tiết kiệm đợc
nguồn lực, ngời ta thờng tiến hành thẩm định từng bớc, nếu dự án không đợc
chấp thuận ở một khâu nào đó thì sẽ lập tức bị loại bỏ luôn mà không cần tiến
hành thẩm định ở các khâu tiếp theo. Về nguyên tắc các khâu thẩm định đỏi hỏi
tiêu tốn ít thời gian công sức, tiền bạc nhất sẽ đợc tiến hành trớc để nhằm hạn
chế tiêu tốn nguồn lực. Nhìn chung khâu thẩm định tài chính kinh tế dự án th-
ờng đợc tiến hành sau khi đã hoàn thành các khâu thẩm định khác.
19
định, trong phạm vi bài viết chỉ xin đề cập đến công tác thẩm định tài chính dự
án đầu t phục vụ cho hoạt động cho vay của ngân hàng thơng mại.
Phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân là tăng trởng và bền
vững trong hoạt động sử dụng vốn của mình ( đặc biệt là hoạt động cho vay )
các ngân hàng thơng mại phải hết sức coi trọng khâu thẩm định tài chính dự án:
Thông qua thẩm định tài chính dự án đầu t Ngân hàng thơng mại sẽ đánh
giá đợc nhu cầu vay vốn của dự án, tính hợp lý của việc sử dụng vốn đầu t, hiệu
20
quả tài chính mà dự án mang lại và khả năng trả nợ của các dự án. Kết luận đa
ra chủ yếu dựa vào sự phân tích về dòng tài chính ( lợi ích và chi phí ) của dự án
đầu t.
Thực tế ngân hàng quan tâm nhất đến khả năng trả nợ đích thực của dự án
(lãi và gốc ) mặc dù nó liên quan chặt chẽ đến hiệu quả tài chính của dự án. Qua
thẩm định tài chính, ngân hàng phải lựa chọn và tìm ra những dự án đầu t có
hiệu quả tài chính để cho vay. Bởi chỉ khi cho vay những dự án đầu t có hiệu
quả thì ngân hàng mới có khả năng thu hồi vốn và lãi, mới bảo đảm giá tăng lợi
nhuận đồng thời bảo toàn vốn để không ngừng tăng trởng và phát triển.
Thông tin số liệu trong luận chứng kinh tế kỹ thuật hay các báo cáo tài
chính có thể không phản ánh đúng thực trạng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
có thể quá lạc quan về tình hình kinh doanh trong những năm tới hay tính toán
không đầy đủ các yếu tố chi phí để làm tăng hiệu quả của dự án. Vì vậy, việc
thẩm định tài chính dự án đầu t do chủ đầu t mang đến lại là rất cần thiết để
ngân hàng xem xét lại cơ sở an toàn cho đồng vốn của mình thông qua việc
thẩm tính thực tế của các số liệu, thông tin.
Là đơn vị kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng, hứa hẹn khả năng sinh lời cao
nhng đồng thời cũng chứa đựng nhiều rủi ro đặc biệt trong hoạt động cho vay
trung dài hạn, nên việc nâng cao chất lợng tín dụng và hạn chế rủi ro là mục
tiêu cuả bất cứ ngân hàng nào, nó quyết định sự tồn tại và phát triển Ngân hàng.
Một trong những hoạt động nhằm đạt mục tiêu đó là phải tiến hành thẩm định
tài chính dự án đầu t.
b.1. Tổ chức công tác thẩm định tài chính dự án đầu t :
Nhìn chung việc tổ chức thẩm định tài chính dự án đầu t nói riêng và thẩm
định dự án nói chung phải phù hợp với việc tổ chức hoạt động của từng ngân
hàng, nó do từng ngân hàng quy định thể hiện qua việc quy định chức năng,
nhiệm vụ của từng phòng. Các ngân hàng sẽ chọn và tổ chức thẩm định theo các
phơng thức khác nhau, xuất phát từ cách tiếp cận thông tin khác nhau, cách thức
quản lý khách hàng và thông tin khách hàng khác nhau, nhng nhìn chung quy
trình thẩm định một dự án gồm có:
Thẩm định trớc khi cho vay: đây là quá trình thẩm định trớc khi cho vay
gồm các công việc nh đọc hồ sơ vay vốn kỹ lỡng, xen xét mức độ trung thực
của khách hàng và khả năng tài chính của khách hàng trong những năm gần
nhất; xem xét dự án đầu t về mặt vật chất; đến cơ sở xin vay để tận mắt xem xét
hoạt động sản xuất kinh doanh của ngời xin vay, từ đó xem xét tính chính xác
trung thực của các báo cáo tài chính, trách nhiệm của khách hàng và quá khứ tín
dụng của khách hàng ( trớc đây vay nợ và trả nợ nh thế nào... ). Ngân hàng
thông qua các cơ quan chủ quản của bên vay để nắm đợc những thông tin này.
Thẩm định trong khi cho vay: Đó là quá trình thẩm định khi đã cho vay,
khách hàng đã đang sử dụng tiền vay bao gồm: việc giám sát xem việc sử dụng
tiền vay có đúng mục đích hay không thông qua các hệ thống giấy tờ, báo cáo l-
u chuyển hàng hoá, tiền tệ... nhằm mục đích khuyến khích khách hàng hoạt
động có hiệu quả để đảm bảo an toàn tiền vay, hạn chế tiền vay qua tay ngời thứ
ba, biện pháp sử dụng trong công việc này là đòi hỏi có bảo đảm tiền vay. Nếu
22
là sự đảm bảo bằng hình thức thế chấp tài sản thì trong giai đoạn này, ngân
hàng phải đảm bảo tình trạng của tài sản thế chấp sao cho giá trị tài sản không
thay đổi quá nhiều so với lúc đánh gía ban đầu. Nếu không ngân hàng phải
quản lý tài sản hình thành từ nguồn vốn vay tránh sự sử dụng tuỳ ý của khách
hàng.
Trong quá trình này, ngân hàng phải nỗ lực thu hồi các khoản thanh toán
đúng kỳ hạn, theo định kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng để đánh giá khả
23
+ Vốn lu động ban đầu: là các chi phí để tạo ra tài sản lu động, các điều
kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thờng theo các điều kiện kinh tế kỹ
thuật dự tính: dự trữ sản xuất ( nguyên, nhiên vật liệu... ), dự trữ bán thành
phẩm, thành phẩm tồn kho, các khoản thuộc quỹ tiền mặt...
Thứ hai: Phải xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, khả năng đảm bảo từ
mỗi nguồn từ đó xác định số vốn mà ngân hàng cần phải tài trợ.
Các nguồn tài trợ cho dự án có thể là nguồn vốn do ngân sách cấp, vốn vay
ngân hàng, vốn liên doanh... Vì vậy, khi thẩm định cơ cấu nguồn vốn, ngân
hàng cần phải làm rõ mức vốn đầu t cần thiết từ từng nguồn để đi sâu tìm hiểu
khả năng hiện thực của các nguồn đó.
Đối với các dự án đợc ngân sách hỗ trợ vốn một phần hay cấp phát thì cần
xem xét các cam kết đảm bảo của các cấp có thẩm quyền đối với nguồn vốn
này.
Đối với nguồn vốn vay các tổ chức tín dụng thì phải tính đến độ tin cậy về
khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng đã cam kết cho vay.
Nếu là vốn tự có thì ngân hàng cần kiểm tra, phân tích tình hình tài chính
và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ba năm trớc đây và hiện tại, chứng tỏ
rằng cơ sở đã đang và sẽ tiếp tục hoạt động có hiệu quả, có tích luỹ và do đó
đảm bảo cơ cấu vốn để thực hiện dự án.
Với những dự án có sử dụng vốn vay nớc ngoài, ngân hàng tập trung xem
xét các điều kiện cho vay; lãi suất cố định hay thả nổi, các loại chi phí liên
quan, phơng thức và kỹ thuật chuyển vốn...
Sau khi kiểm tra tính hiện thực của các nguồn vốn, xác định lịch trình rút
vốn từ các nguồn khác, ngân hàng thơng mại sẽ phải xác định đợc số vốn mà
ngân hàng cần tài trợ và kế hoạch bỏ vốn của mình.
B ớc hai sẽ xem xét các bảng dự toán tài chính và phân tích tài chính.
Trong nội dung này, ngân hàng sẽ thẩm định tính chính xác, hợp lý, hợp lệ của
các bảng dự trù tài chính. Cơ sở để xem xét là dựa trên nội dung của luận chứng
kinh tế kỹ thuật và các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật, dựa trên kết quả thẩm
+ Doanh lợi vốn tự có.
+ Doanh lợi vốn.
Trong các phơng pháp phân tích tài chính thì phân tích tỷ lệ tài chính là ph-
ơng pháp truyền thống và áp dụng rộng rãi, có tính hiện thực cao.
Phân tích các luồng tiền mặt:
Phân tích tài chính dự án đầu t quan tâm tới lợng tiền đi vào và đi ra từ các
dự án hay còn gọi là các luồng tiền của dự án. Đảm bảo cân đối các luồng tiền
này là một mục tiêu quan trọng của phân tích tài chính dự án.
Trên cơ sở bảng dự trù cân đối thu chi, ngân hàng biết đợc tại thời đỉm nào
tiền mặt cuả dự án tăng, giảm, nguyên nhân thay đổi dòng tiền.
Điều này rất có ý nghĩa vì các dòng tiền mặt đảm bảo cho dự án vận hành
một cách nhịp nhàng, hiệu quả. Nếu dòng tiền mặt bị ngng trệ thì hoạt động
của dự án sẽ cực kỳ khó khăn, thậm chí là thất bại hoàn toàn.
25