thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại sở
giao dịch i ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
việt nam
*********************
I.Tình hình hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam 10 năm qua
Là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế đất nước, hoạt động xuất
nhập khẩu đã góp phần xứng đáng của mình vào những thành tựu to lớn và
rất quan trọng mà toàn Đảng, toàn dân ta đã giành được trong thời kỳ đổi mới
nói chung và trong 10 năm qua nói riêng.
Những nhiệm vụ đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã
hội 1991-2000 cho lĩnh vực xuất nhập khẩu đã được hoàn thành về cơ bản.
Điều đó thể hiện trước hết trong việc đạt được tốc độ tăng trưởng cao.
Giai đoạn 1991 - 2000 đi vào lịch sử gắn với thành tựu lớn về tăng kim
ngạch xuất khẩu, đóng góp phần xứng đáng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
suốt thời kỳ này. Từ 1991 đến nay, bình quân tăng 2,5 - 3% xuất khẩu góp
phần làm tăng 1% GDP. Kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục qua các năm ở mức
cao, kim ngạch năm 1998 gấp khoảng 4,5 lần kim ngạch năm 1991, giai đoạn
1991 - 1995 tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng năm tới 28%, năm 1996
đạt kỷ lục 33,1% và năm 1997 - 22,7%, song năm 1998 chỉ tăng 1,9% - mức
tăng thấp nhất trong vòng 7 năm trở lại đây, chủ yếu do tác động của khủng
hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á. Năm 1999 và 2000, Chính phủ đã áp dụng
hàng loạt giải pháp kích cầu đầu tư và tiêu dùng, nhờ vậy tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu đã được phục hồi. Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu tăng 23,3%, năm
2000 tăng 21,3%, đạt 14,3 tỷ USD, gấp 6 lần so với năm 1990. Bình quân giai
đoạn 1991 - 2000, kim ngạch xuất khẩu tăng gần 21%/năm, gần gấp 3 lần tốc
độ tăng trưởng kinh tế. Kim ngạch xuất khẩu trên đầu người tăng từ 30 USD
năm 1991 lên 74 USD năm 1995 và tới 180 USD năm 2000, đưa Việt Nam vào
đội ngũ những nước có nền ngoại thương tương đối phát triển (kim ngạch
xuất khẩu 170 USD/người/năm).
Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu nói riêng, tổng kim ngạch XNK nói chung so
GDP tăng nhanh chứng tỏ mức độ mở cửa khá mạnh của nước ta. Năm 1998,
Cơ cấu xuất nhập khẩu chuyển dịch theo hướng tích cực:
Tỷ trọng xuất khẩu lúa gạo và dầu thô giảm còn khoảng 30% năm 1996
(năm 1990 là 40%). Tỷ trọng hàng chế biến tăng từ 8% năm 1991 lên 20%
năm 1996, khoảng 35% năm 1999 và gần 40% năm 2000. Năm 1991 mới có 4
mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 100 triệu USD là dầu thô, thuỷ sản, gạo và
hàng dệt may thì năm 2000 đã có thêm 8 mặt hàng là cà phê, cao su, điều, giày
dép than đá, điện tử, thủ công mỹ nghệ và rau quả
i
(đến năm 2000, trong 12
nhóm hàng này có 4 nhóm - dầu thô, dệt may, hải sản, giày dép - có kim ngạch
xuất khẩu trên 1 tỷ USD). Tuy nhiên, rõ ràng cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt
Nam vẫn rất bất hợp lý. Theo một số tính toán cứ 6 USD kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam thì chỉ có 1 USD là hàng gia công. Xuất khẩu nguyên liệu thô vẫn
là chủ yếu (trên 70% kim ngạch xuất khẩu). Trong khi đó ở Trung Quốc năm
1994 xuất khẩu nguyên liệu thô chỉ chiếm có 16,3%.
BẢNG 2:CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN 1991 - 2000
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
Nhóm I(%) 33,4 37,1 34,0 28,8 25,3 27,6 24,1 24,0 24,6 25,0
Nhóm II (%) 14,4 13,5 17,6 23.1 28,4 30,1 35,8 35,6 36,5 35,5
Nhóm III (%) 52,2 49,4 48,4 48,1 46,3 42,3 40,1 39,4 38,9 39,5
- Nhóm I: Công nghiệp nặng - khoáng sản
- Nhóm II: Công nghiệp nhẹ - tiểu thủ công nghiệp
- Nhóm III: Nông lâm thuỷ sản
Nguồn : Báo cáo tổng kết của vụ XNK-Bộ Thương Mại)
Nhập khẩu cơ bản đã phục vụ có hiệu quả cho phát triển sản xuất và đổi
mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hoá,
đáp ứng các nhu cầu cần thiết của đời sống nhân dân. Nhập khẩu máy móc,
thiết bị, nguyên nhiên - vật liệu phục vụ cho sản xuất chiếm vị trí chủ yếu, tỷ
trọng hàng tiêu dùng giảm hẳn, tình trạng nhập siêu lớn thuyên giảm đáng kể.
Năm 2000, tư liệu sản xuất chiếm gần 95% kim ngạch nhập khẩu, trong đó 26
Những năm 90, nhất là giai đoạn 1991-1995 đã chứng kiến những kết quả
phát triển xuất khẩu đáng kinh ngạc, trong đó có phần đóng góp của các
khoản tín dụng dành cho xuất khẩu. Với kim ngạch xuất khẩu khoảng 8-9 tỷ
USD/năm, trừ đi phần xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN còn 6-7
tỷ, giả định 80% số vốn sản xuất hàng XK là nguồn tín dụng thì tổng tín dụng
dành cho XK ước khoảng 4-5 tỷ USD/năm (tương đương 40 - 50.000 tỷ VND),
chiếm 60-70% tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng. Đó là chưa kể các
khoản tín dụng trung và dài hạn vào công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu. Nếu
căn cứ vào số doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu (khoảng 1.500) và tỷ lệ vốn
vay bình quân của doanh nghiệp là 90% thì vốn vay một chu kỳ sản xuất là
13.000 tỷ, với 3 - 4 chu kỳ sản xuất một năm thì tổng tín dụng khoảng 40.000
tỷ VND (sở dĩ có sự chênh lệch trong 2 phương pháp tính là do có sự tham gia
xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN - không được tính vào tín dụng
thúc đẩy xuất khẩu - chiếm tới 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu. Thêm vào đó là
những sai số trong tính toán vốn tự có của các doanh nghiệp tham gia xuất
khẩu và một lượng vốn tín dụng ưu đãi không qua hệ thống ngân hàng). Tuy
vậy, có thể nói từ khi bắt đầu đổi mới (1986) đến nay các ngân hàng đã dành
cho xuất nhập khẩu khoản vốn tín dụng khá lớn.
1.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của Việt Nam hiện nay là các giải pháp về tín
dụng chỉ có tính tạm thời, phần lớn là tín dụng ngắn hạn, đáp ứng yêu cầu
trước mắt, phục vụ cho từng “phi vụ” mà thiếu hẳn các dự án đầu tư dài hạn
phát triển xuất khẩu, tín dụng dài hạn chiếm tỷ lệ không đáng kể trong tổng
tín dụng (tỷ lệ chung của cả hệ thống khoảng 30%). Hiện tượng này không chỉ
có trong hoạt động tín dụng cho xuất nhập khẩu, mà còn phổ biến trong toàn
bộ hoạt động tín dụng. Đây là đặc điểm lớn nhất, có tác dụng chi phối lĩnh vực
tín dụng thúc đẩy xuất khẩu, là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình
trạng hạn chế sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam như hiện nay.
Các NHTM có liên quan tới tín dụng và dịch vụ ngân hàng cho hoạt động
xuất nhập khẩu đã có nhiều cố gắng trong các năm qua. Nhiều nhân tố mới đã
ngày 27/9/1999 trong khi chưa có các quỹ hỗ trợ xuất khẩu theo ngành hàng
nên tín dụng và ưu đãi tín dụng cho xuất khẩu không thể triển khai suôn sẻ
được. Kế hoạch thành lập một ngân hàng XNK đã bị bỏ qua trong khi vẫn chưa
có hình thức tổ chức khác đảm nhận vai trò kênh tín dụng và ưu đãi tín dụng
thúc đẩy xuất khẩu có hiệu quả. Về tín dụng trung và dài hạn cho xuất khẩu
chủ yếu qua quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia (vốn ngân sách cấp ban đầu là 1.100
tỷ) do Tổng cục ĐTPT quản lý, mới đây đã nhập thành quỹ hỗ trợ phát triển,
còn tín dụng ngắn hạn chủ yếu do Ngân hàng Ngoại thương (VCB) đảm nhiệm.
- Tín dụng cho các thành phần kinh tế phi Nhà nước phát triển xuất
khẩu rất kém, một phần do độc quyền ngoại thương của Nhà nước, phần khác
do thiếu cơ chế phát triển tín dụng cho các đối tượng này.
- Tín dụng đầu tư vào các vùng nguyên liệu xuất khẩu và phục vụ sản
xuất hàng xuất khẩu không đáng kể, đồng thời có mức độ rủi ro cao do phụ
thuộc vào thời tiết (chủ yếu nguyên liệu là nông lâm hải sản), không chắc chắn
về thị trường tiêu thụ.
Đồng thời về chính sách tín dụng nói chung, chưa có những quy định
mới để tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu. Cơ chế tín dụng phục
vụ xuất khẩu còn rất cố hữu, đóng khung vào khuôn mẫu chung đối với mọi
hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế, chưa có những giải pháp
nghiệp vụ tín dụng phù hợp hỗ trợ mạnh mẽ cho xuất khẩu.
2.Hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại NHNN&PTNT
2.1. Quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng
NHNN&PTNT
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, gọi tắt là
ngân hàng Nông Nghiệp ( NHNN), có tên giao dịch quốc tế là Vietnam Bank for
Agriculture and Rural Development (VBARD), trụ sở chính đặt tại số 2 – Láng
Hạ - Đống Đa – Hà Nội.
Tổ chức tiền thân của ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Việt Nam là ngân hàng Phát triển nông nghiệp Việt Nam, thành lập theo quyết
định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988. Từ khi thành lập đến nay, ngân hàng đã
NHNN&PTNTVN đã thiết lập quan hệ với nhiều tổ chức tài chính lớn
như : Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Cơ quan
phát triển Pháp (AFD), Hiệp hội tín dụng Châu á Thái Bình Dương (APRACA)
Có quan hệ đại lý với trên 500 ngân hàng nước ngoài, đã thiết lập quan hệ tín
dụng với 22 ngân hàng nước ngoài và 20 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam.
Với lợi thế và uy tín của mình, NHNN&PTNTVN đang trên đà phát triển
và ngày càng lớn mạnh, thực sự là người bạn đáng tin cậy của mọi khách
hàng, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
2.2.Hoạt động tín dụng tài trợ XNK tại NHNN&PTNT
2.2.1. Những kết quả đạt được
Đối với NHNN&PTNT, sự đổi mới của toàn ngành ngân hàng đã thúc đẩy
những nỗ lực đổi mới không ngừng trong hoạt động tín dụng nói chung và tín
dụng cho xuất nhập khẩu nói riêng. Đội ngũ cán bộ tín dụng năng động hơn,
thường xuyên đi xuống các đơn vị để nắm bắt tình hình, chủ động tìm đến với
khách hàng. Nhiều doanh nghiệp lớn thuộc các ngành như dệt, giày da, chế
biến nông, hải sản,... đã đánh giá cao công tác tín dụng của Ngân hàng trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Không chỉ tập trung vào các dự án lớn, NHNN&PTNT còn đặc biệt quan
tâm đến các dự án cho vay nhỏ nhưng có hiệu quả kinh tế – xã hội cao, vực dậy
một số doanh nghiệp đang trên bờ phá sản. NHNN&PTNT không chỉ đơn thuần
là bạn hàng, mà còn là người bảo trợ, đỡ đầu, cho các dự án, góp phần quan
trọng trong sự thành công của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nông sản
phẩm và vật tư phục vụ nông nghiệp - ngành hoạt động của khoảng 75% lực
lượng lao động Việt Nam và đóng góp 1/4GDP. Doanh số cho vay hàng nông,
lâm sản xuất khẩu; cho vay nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu không
ngừng gia tăng.
Tình hình cho vay xuất khẩu một số mặt hàng chính của Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 4: Kết quả cho vay xuất khẩu một số mặt hàng chính của
Tuy nhiên, các mặt hàng nông sản cũng chính là các mặt hàng xuất khẩu bị
cạnh tranh gay gắt, đồng thời phụ thuộc mạnh vào thời tiết và diễn biến giá cả
rất thất thường nên chẳng hạn như năm 1997, do tác động của khủng hoảng
tài chính - tiền tệ khu vực, xuất khẩu của nước ta bị chững lại và tín dụng của
NHNN&PTNT cho xuất khẩu hạt điều và cà phê cũng sụt giảm tới trên 30% so
với năm 1996, sau đó phục hồi chút ít trong năm 1998.
Bên cạnh đó, xuất khẩu thuỷ sản là một thế mạnh của nước ta với kim
ngạch xuất khẩu tăng nhanh trong mấy năm qua song chưa giành được sự chú
ý thích đáng của NHNN&PTNT - “bà đỡ” chính của sản xuất nông nghiệp.
Doanh số cho vay xuất khẩu thuỷ sản chỉ xấp xỉ 1.000 tỷ đồng là quá nhỏ bé so
với tiềm năng phát triển của ngành hàng xuất khẩu này.
Trong thời gian tới, NHNN&PTNT nên mở rộng hơn nữa tín dụng
cho cả các mặt hàng xuất khẩu truyền thống cũng như các mặt hàng
xuất khẩu mới có nhiều triển vọng, nhất là những mặt hàng đã qua chế
biến có tỷ lệ giá trị gia tăng cao.
Có thể thấy rằng các ngân hàng thương mại trong nước nói chung,
NHNN&PTNT nói riêng có vai trò to lớn trong việc thực hiện về kỹ thuật những
hoạt động thanh toán với nước ngoài, đảm nhận các rủi ro gắn liền với việc
này và góp phần đáng kể trong việc cung cấp các khoản tín dụng để tài trợ cho
các nhập khẩu quan trọng, đồng thời khuyến khích xuất khẩu.
2.2.2. Những hạn chế
Bên cạnh những mặt được, hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu
của NHNN&PTNT trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế như sau:
- Hạn chế trong mô hình kinh doanh TD XNK.
Từ năm 1995 đến nay, NHNN & PTNT VN triển khai hoạt động tín dụng theo
mô hình: TTĐH điều vốn cho Chi nhánh trực tiếp cho vay khách hàng.
Nhược điểm của mô hình này: Do duy trì hai Sở đầu mối với hai tài khoản NOSTRO
nước ngoài, do đó nguồn vốn không tập trung, điều hành bằng công cụ kế hoạch khó
khăn và kém hiệu quả. Nhiều trường hợp điều vốn nội bộ bị mất thời gian đến hàng
tuần, hoặc Sở đầu mối này thiếu vốn phải đi vay trong khi tài khoản NOSTRO của Sở
Nhà nước Việt Nam đã ra chỉ thị 06/NHNN7 – CT về tăng cường công tác vay
và trả nợ nước ngoài, Quy chế mở L/C trả chậm ngày 1/7/1997, và Quyết định
802/TTg ngày 24/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc xử lý tồn tại về mở
L/C trả chậm để đưa công tác bảo lãnh L/C nhập hàng trả chậm của các ngân
hàng thương mại đi vào nề nếp.
2.3. Giới thiệu về Sở giao dịch I - NHNN&PTNTVN
Nằm trong một quận dân cư đông đúc của thủ đô Hà Nội, Sở giao dịch I
(SGD I) là một đơn vị trực thuộc trung tâm điều hành NHNN&PTNTVN hoạt
động theo Luật các TCTD và điều lệ của NHNN&PTNTVN. Sở được thành lập
theo quyết định số 15/TCCB ngày 25/11/1990 do Tổng giám đốc ngân hàng
Nông Nghiệp TW ký và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 4/1991.
Là một đơn vị hạch toán phụ thuộc, trong quá trình kinh doanh, SGD I đã
mở thêm các chi nhánh, bàn giao dịch nhằm chiếm lĩnh thị trường thủ đô Hà
Nội, thuận tiện trong việc giao dịch với khách hàng.
Hiện nay, lượng khách hàng giao dịch tập trung vào hai điểm chính:
Hội sở I: Số 4, Phạm Ngọc Thạch - Đống Đa - Hà Nội.
Điểm giao dịch đặt tại: 157 Sơn Tây - Đống Đa – Hà Nội.
61 Trần Duy Hưng – Cầu Giấy – Hà Nội
2.3.1. Cơ cấu tổ chức của SGD I
Trong biên chế, SGD I hiện có 82 người. Giám đốc sở là người trực tiếp
điều hành và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc NHNN&PTNTVN.
Ngoài ban giám đốc gồm một giám đốc và 3 phó giám đốc hàng ngày
điều hành trực tiếp các hoạt động của sở, SGD I hiện có 5 phòng:
- Phòng kế hoạch kinh doanh.
- Phòng kế toán.
- Phòng hành chính nhân sự.
- Phòng kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
- Phòng ngân quỹ.
Ngoài ra, SGD I còn có các chi nhánh trực thuộc tại Tây Sơn và Trung
Yên.
ngân
Phòng
kế
toán
Chi
nhánh
trực
thuộc
Phòng
h nhchínhà
Phòng
kiểm tra
Phòng
kế hoạch
- Thực hiện các lệnh thanh toán, điều chuyển vốn trong toàn hệ thống
NHNN&PTNTVN.
- Trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng trên địa
bàn Hà Nội.
Các hoạt động kinh doanh của SGD I cụ thể như sau:
- Huy động vốn:
+ Khai thác và nhận tiền gửi tiết kiệm: Không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi
thanh toán của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước
và nước ngoài bằng nội tệ và ngoại tệ.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng và thực
hiện các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN&PTNT.
+ Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn uỷ thác của Chính phủ và các tổ
chức kinh tế trong và ngoài nước.
+ Vay vốn các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước theo quy định của
NHNN&PTNTVN.
- Cho vay:
ngân hàng nếu thực hiện tốt sẽ rất có hiệu quả vì ngân hàng chỉ thực hiện cam
kết chủ yếu bằng uy tín, ngân hàng không phải xuất vốn như trong nghiệp vụ
cho vay, thông qua nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng cũng thu được một khoản
phí đáng kể đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng, khách hàng được SGDI-
NHNN&PTNT bảo lãnh sẽ có điều kiện để khai thác nguồn vốn nuớc ngoài phục
vụ mục đích kinh doanh của mình. Tuy nhiên hoạt động bảo lãnh nếu không
được quản lý chặt chẽ, không thận trọng trong việc xem xét để đi đến quyết
định có bảo lãnh hay không thì bảo lãnh sẽ trở thành một gánh nặng cho ngân
hàng, khi khách hàng không có khả năng thanh toán hay không có khả năng
thực hiện hợp đồng, khi đó buộc ngân hàng phải trả nợ thay doanh nghiệp.
SGDI-NHNN&PTNT thực hiện bảo lãnh phục vụ hoạt động tài trợ xuất
nhập khẩu chủ yếu dưới những hình thức sau:
- Phát hành L/C trả chậm.
- Phát hành bảo lãnh thanh toán cho khách hàng nhập thiết bị máy móc
- Bảo lãnh nhận hàng
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
- Bảo lãnh dự thầu
- Và một số hình thức bảo lãnh khác có liên quan đến hoạt động đầu tư
nước ngoài và xuất nhập khẩu ....
Trước năm 1990 nghiệp vụ bảo lãnh cho hoạt động xuất nhập khẩu
thường chỉ do Ngân hàng Ngoại Thương đảm nhiệm, trên cơ sở chỉ đạo của
chính phủ, và gần như không có qui chế qui định và quản lý hoạt động bảo
lãnh, bảo lãnh tràn lan không tính đến những rủi ro mà người bảo lãnh sẽ phải
gánh chịu, dẫn đến tình trạng không thanh toán được nợ vay nước ngoài. Sau
năm 1990 hầu hết các ngân hàng thương mại đều được phép thực hiện nghiệp
vụ ngân hàng quốc tế, nghiệp vụ bảo lãnh có điều kiện để phát triển mạnh hơn.
Để chấn chỉnh lại công tác quản lý vay nợ nước ngoài, trong đó có hoạt động
bảo lãnh mà trước những năm 1990 hầu như không có quy chế quản lý, ngày
30/8/1993 chính phủ đã ban hành nghị định 58/CP qui định qui chế vay trả nợ
nước ngoài . Trên cơ sở của nghị định này Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã
+ Khoản bảo lãnh nằm trong hạn mức vay nước ngoài được Chính phủ
duyệt.
Sau khi thẩm định các điều kiện bảo lãnh. Nếu có hiệu quả tiếp tục xem
xét kiểm định tài sản thế chấp hoặc chứng từ thế chấp. Chỉ nhận bảo lãnh cho
khách hàng tối đa không quá 70% giá trị tài sản thế chấp. Sau đó cán bộ tín
dụng lập tờ trình ghi rõ ý kiến của mình có đồng ý bảo lãnh hay không và báo
cáo trưởng phòng tín dụng, Giám đốc chi nhánh duyệt giải quyết. Nếu từ chối
bảo lãnh thì ghi lý do bằng văn bản và trả lại hồ sơ cho khách hàng. Nếu đồng