Bài 4: Cấu hình bộ định tuyến với Dial-up
- Cấu hình line vật lý
- Cấu hình async interface
- Cấu hình định tuyến
- Cấu hình xác thực
Yêu cầu:
- Sử dụng thiết bị phòng lab để cấu hình một điểm truy nhập gián tiếp quay
số qua thoại.
- Vận dụng các kiến thức đã học kiểm soát và xử lý sự cố.
Thiết bị phòng lab
- 02 bộ định tuyến 2509 (leased-line và async) hoặc tương đương
- 02 modem leased-line CSU/DSU dùng cho kết nối leased-line
- 02 cáp V.35 DTE
- 04 modem dial-up 56kbps
- 02 cáp Async dùng cho kết nối modem 56kbps
- Phần mềm giả lập bộ định tuyến (router simulator)
- 02 máy tính dùng để cấu hình trực tiếp các bộ định tuyến
- các máy tính để thực hành trên phần mềm giả lập bộ định tuyến
- 04 đường điện thoại
Chương 4 : Hệ thống tên miền DNS
Chương 4 sẽ tập trung nghiên cứu về hệ thống tên miền là một hệ thống
định danh phổ biến trên mạng TCP/IP nói chung và đặc biệt là mạng Internet.
147
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
khăn
Đến năm 1984 Paul Mockpetris thuộc viện USC's Information Sciences
Institute phảt triển một hệ thống quản lý tên miền mới (miêu tả trong chuẩn
RFC 882 - 883) gọi là DNS (Domain Name System) và ngày này nó ngày càng
148
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
được phát triển và hiệu chỉnh bổ xung tính năng để đảm bảo yêu cầu ngày càng
cao của hệ thống (hiện nay dns được tiêu chuẩn theo chuẩn RFC 1034 - 1035)
1.2.Mục đích của hệ thống DNS
Máy tính khi kết nối vào mạng Internet thì được gán cho một địa chỉ IP
xác định. Địa chỉ IP của mỗi máy là duy nhất và có thể giúp máy tính có thể
xác định đường đi đến một máy tính khác một cách dễ dàng. Như đối với người
dùng thì địa chỉ IP là rất khó nhớ. Do vậy cần phải sử dụng một hệ thống để
giúp cho máy tính tính toán đường đi một cách dễ dàng và đồng thời cũng giúp
người dùng dễ
nhớ. Do vậy hệ thống DNS ra đời nhằm giúp cho người dùng có
thể chuyển đổi từ địa chỉ IP khó nhớ mà máy tính sử dụng sang một tên dễ nhớ
cho người sử dụng và đồng thời nó giúp cho hệ thống Internet dễ dàng sử dụng
để liên lạc và ngày càng phát triển.
Hệ thống DNS sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán và phân cấp
hình cây do đó việc quản lý sẽ dễ dàng và c
ũng rất thuận tiện cho việc chuyển
đổi từ tên miền sang địa chỉ IP và ngược lại. Cũng giống như mô hình quản lý
cá nhân của một đất nước mỗi cá nhân sẽ có một tên xác định đồng thời cũng
có địa chỉ chứng minh thư để giúp quản lý con người một cách dễ dàng hơn
(nhưng khác là tên miền không được trùng nhau còn tên người thì vấn có thể
trùng nhau)
II.1.Cấu trúc cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu của hệ thống DNS là hệ thống cơ sở dữ liệu phân tán và
phân cấp hình cây. Với .Root server là đỉnh của cây và sau đó các domain được
phân nhánh dần xuống dưới và phần quyền quản lý. Khi một client truy vấn
một tên miền nó sẽ lần lượt đi từ root phân cấp lần lượt xuống dưới để đến dns
quản lý domain cần truy vấn.
150
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
Cấu trúc của dữ liệu được phân cấp hình cây root quản lý toàn bộ sơ đồ
và phân quyền quản lý xuống dưới và tiếp đó các tên miền lại được tiếp tục
chuyên xuống cấp thấp hơn (delegate) xuống dưới.
Zone
Hệ thống dns cho phép phân chia tên miền để quản lý và nó chia hệ
thống tên miền ra thành zone và trong zone quản lý tên miền tên miền được
phân chia đó và nó chứa thông tin về domain cấp thấp hơn và có khả nă
ng chia
thành các zone cấp thấp hơn và phân quyền cho các dns server khác quản lý.
Ví dụ: zone “.com” thì dns server quản lý zone “.com” chưa thông tin về các
bản ghi có đuôi là “.com” và có khả năng chuyển quyền quản lý (delegate) các
zone cấp thấp hơn cho các dns khác quản lý như “.microsoft.com” là vùng
(zone) do microsoft quản lý.
Root Server
9 Là server quản lý toàn bộ cấu trúc của hệ thống dns
9 Root server không chứa dữ liệu thông tin về cấu trúc hệ thống DNS mà
nó chỉ chuyển quyền (delegate) quản lý xuố
ng cho các server cấp thấp hơn và
do đó root server có khả năng xác định đường đến của một domain tại bất cứu
Mỗi một tên miền đều được quản lý bởi ít nhất một DNS server và trên
đó ta khai các bản ghi của tên miền trên DNS server. Các bản ghi đó sẽ xác
định địa chỉ IP của tên miền hoặc các dịch vụ xác định trên Internet nh
ư web,
thư điệnt tử ...
Sau đây là các bản ghi trên dns
Tên trường Tên đầy đủ Mục đích
SOA Start of Authority Xác định máy chủ DNS có thẩm
152
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
quyền cung cấp thông tin về tên
miền xác định trên DNS
NS Name Server Chuyển quyền quản lý tên miền
xuống một DNS cấp thấp hơn
A Host Ánh xạ xác định địa chỉ IP của một
host
MX Mail Exchanger Xác định host có quyền quản lý thư
điện tử cho một tên miền xác định
PTR Pointer Xác định chuyển từ địa chỉ IP sang
tên miền
CNAME Canonical NAME Thường xử dụng xác định dịch vụ
web hosting
Cấu trúc của một tên miền
− Domain sẽ có dạng : lable.lable.label...lable
− Độ dài tối đa của một tên miền là 255 ký tự
− Mỗi một Lable tối đa là 63 ký tự
− Lable phải bắt đầu bằng chữ hoặc số và chỉ được phép chứa chữ, số, dấu
"example.microsoft.com."
Tên miền cấp
một
(Top-level
domain)
Là hai hoặc ba ký tự xác
định nước/khu vực hoặc các
tổ chức.
".com", xác định tên sử dụng trong
xác định là tổ chức thương mại .
Tên miền cấp
hai
(Second-level
domain)
Nó rất đa dạng trên internet,
nó có thể là tên của một
công ty, một tổ chức hay
một cá nhân .v.v. đăng ký
trên internet.
"microsoft.com.", là tên miền cấp
hai đăng ký là công ty Microsoft.
Tên miền cấp
nhỏ hơn
Chia nhỏ thêm ra của tên
miên cấp hai xuống thường
được sử dụng như chi
"example.microsoft.com." là phần
quản lý tài liệu ví dụ của microsof
154
Secondary server có thể cung cấp hoạt động ở chế độ không có tải trên
mạng. Khi lượng truy vấn zone tăng cao tại primary server nó sẽ chuyển bớt tải
155
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
sang secondary server hoặc khi primary server bị sự cố thì secondary sẽ hoạt
động thay thế cho đến khi primary server hoạt động trở lại
Secondary server nên được sử dụng tại nới gần với client để có thể phục vụ
cho việc truy vấn tên miền một cách dễ dàng. Nhưng không nên cài đặt
secondary server trên cùng một subnet hoặc cùng một kết nối với primary
server. Vì điều đó sẽ là một giải pháp tốt để sử dụng secondary server
để dự
phòng cho primary server vì có thể kết nối đến primary server bị hỏng thì cũng
không ảnh hưởng gì đến secondary server.
Primary server luôn luôn duy trì một lượng lớn dữ liệu và thường xuyên
thay đổi hoặc thêm vào các zone. Do đó DNS server sử dụng một cơ chế cho
phép chuyển các thông tin từ primary server sang secondary server và lưu giữ
nó trên đĩa. Các thông tin nhận dữ liệu về các zone có thể sử dụng giải pháp lấy
toàn bộ (full) hoặc lấy phần thay đổi (incremental)
Nhiều secondary DNS server sẽ
tăng độ ổn định hoạt động của mạng và
việc lưu trữ thông tin của tên miền một cách đảm bảo như một điều cần quan
tâm là dữ liệu của zone được chuyển trên mạng từ primary server đến các
secondary server sẽ làm tăng lưu lượng đường truyền và yêu cầu thời gian để
đồng bộ dữ liệu trên các secondary server.
Caching-only server
Mặc dù tất cả các DNS server đều có khả
năng lưu trữ dữ liệu trên bộ nhớ
cache của máy để trả lời truy vấn một cách nhanh chóng. Caching-only server
Bởi vì tầm quan trọng của hệ thống DNS và việc quản lý các domain thuộc
zone phải được đảm bảo. Do đó thường một zone thì thường được đặt trên hơn
một DNS server để tránh lỗi khi truy vấn tên miền thuộc zone đó. Nói cách
khác nếu chỉ có một server quản lý zone và khi server không trả lời truy vấn thì
các tên miền trong zone đó sẽ không được trả lời và không còn tồ
n tại trên
Internet. Do đó ta cần có nhiều DNS server cùng quản lý một zone và có cơ chế
để chuyển dữ liệu của các zone và đồng bộ nó từ một DNS server này đến các
DNS server khác
Khi một DNS server mới được thêm vào mạng thì nó được cấu hình như
một secondary server mới cho một zone đã tồn tại. Nó sẽ tiến hành nhận toàn
bộ (full) zone từ DNS server khác. Như DNS server thế hệ đầu tiên thường
dùng giải pháp lấy toàn bộ cơ sở dữ li
ệu về zone khi có các thay đổi trong zone.
Truyền phần that đổi (Incremental zone)
Truyền chỉ những thay đổi (incremental zone transfer) của zone được miêu
tả chi tiết trong tiêu chuẩn RFC 1995. Nó là phần bổ xung cho chuẩn sao chép
dns zone. Incremental transfer thì đươc hỗ trợ bởi cả DNS server là nguồn lấy
thông tin và DNS server nhận thông tin về zone, nó cung cấp giải pháp hiệu
quả cho việc đồng bộ nhưng thay đổi hoặc thêm bớt zone.
Giải pháp ban đầu cho DNS yêu cầu cho việc thay đổi dữ liệu về zone là
truyền toàn bộ dữ liệu của zone sử dụng truy vấn AXFR. Với việc chỉ truyển
các thay đổi (incremental transfer) sẽ sử dụng truy vấn (IXFR) được sử dụng
thay thế cho AXFR. Nó cho phép secondary server chỉ lấy về như zone thay
đổi để đồng bộ dữ liệu.
157
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
•
Tại secondary server yêu cầu chuyển zone
Sau đây là các bước yêu cầu từ secondary server đến DNS server chứa zone
để yêu cầu lấy dữ liệu về zone mà nó quản lý
.
1. Trong khi cấu hình mới DNS server. Thì nó sẽ gửi truy vấn yêu cầu gửi
toàn bộ zone ("all zone" transfer (AXFR) request) đến DNS server quản lý
chính dữ liệu của zone
2. DNS server chính quản lý dữ liệu của zone sẽ trả lời và truyển toàn bộ
dữ liệu về zone đến secondary (destination) server mới cấu hình.
158
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
zone thì được chuyển đến DNS server yêu cầu căn cứ vào version được xác
định bằng số Serial tại phần khai báo (start of authority SOA). Tại phần SOA
cũng có chứa các thông số xác định thời gian làm mới lại zone ...
3. Khi thời gian làm mới (refresh interval) của zone hết, thì DNS server
nhận dữ liệu sẽ truy vấn yêu cầu làm mới zone tới DNS server chính chưa dữ
liệu zone.
4.
DNS server chính quản lý dữ liệu sẽ trả lời truy vấn và gửi lại dữ liệu
.
Trả lời sẽ bao gồm cả số serial của zone hiện tại tại dns server chính.
5. DNS server nhận dữ liệu về zone sẽ kiểm tra số serial trong trả lời và
quyết định sẽ làm thế nào với zone
Nếu giá trị của số serial bằng với số hiện tại tại DNS server nhận trả lời thì
nó sẽ kết luận rằng sẽ không cần chuyển dữ liệu về zone
đến. Và nó sẽ thiết lập
lại với các thông số cũ và thời gian để làm mới lại bắt đầu.
¹ T
2
Như đã trình bầy các dns server phải biết ít nhất một cách để đến được
root server và ngược lại. Như trên hình vẽ muốn xác định được tên miền
mit.edu thì root server phải biết dns server nào được phân quyền quản lý tên
miền mit.edu để chuyển truy vấn đến.
Nói tóm lại tất cả các dns server đều được kết nối một cách logic với nhau:
Tất cả các dns server đều được cấu hình
để biết ít nhất một cách đến root
server
Một máy tính kết nối vào mạng phải biết làm thế nào để liên lạc với ít
nhất là một DNS server
Họat động của DNS
Khi DNS client cần xác định cho một tên miền nó sẽ truy vấn DNS.
Truy vấn dns và trả lời của hệ thống dns cho client sử dụng thủ tục UDP cổng
53, UPD hoạt động ở mức thứ 3 (network) của mô hình OSI, UDP là thủ tục
phi kế
t nối (connectionless), tương tự như dịch vụ gửi thư bình thường bạn cho
thư vào thùng thư và hy vọng có thể chuyển đến nơi bạn cần gửi tới.
160
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
Mỗi một message truy vấn được gửi đi từ client bao gồm ba phần thông tin :
Tên của miền cần truy vấn (tên đầy đủ FQDN)
Xác định loại bản ghi là mail, web ...
Lớp tên miền (phần này thường được xác định là IN internet, ở đây
không đi sâu vào phần này)
Ví dụ : tên miền truy vấn đầy đủ như
161
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1
Truy vấn DNS server
Khi DNS server nhận được một truy vấn. Đầu tiên nó sẽ kiểm tra câu trả
lời liệu có phải là thông tin của bản ghi mà nó quản lý trong các zone của
server. Nếu truy vấn phù hợp với bản ghi mà nó quản lý thì nó sẽ sử dụng
thông tin đó để trả lời trả lời (authoritatively answer) và kết thúc truy vấn.
Nếu không có thông tin về zone của nó phù hợp với truy vấn. Nó sẽ
kiểm tra các thông tin được lưu trong cache liệu có các truy vấn tương tư nào
trước
đó phù hợp không nếu có thông tin phù hợp nó sẽ sử dụng thông tin đó để
trả lời và kết thúc truy vấn.
Nếu truy vấn không tìm thấy thông tin phù hợp để trả lời từ cả cache và
zone mà dns server quản lý thì truy vấn sẽ tiếp tục. Nó sẽ nhờ DNS server khác
để trả lời truy vấn đển khi tìm được câu trả lời.
162
Giáo trình đào tạo Quản trị mạng và các thiết bị mạng
Trung tâm Điện toán Truyền số liệu KV1