Nghiên cứu vận dụng kết hợp một số phương pháp
trong đánh giá kết quả học tập học phần
Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Research and apply some methods in evaluating learning outcomes of the subject Revolutionary
policy of Vietnam Communist Party at Hanoi Architectural University
Tạ Ánh Tuyết, Lại Thị Huệ
Tóm tắt
Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập,
phát huy tính sáng tạo, đánh giá đúng năng lực
và phẩm chất của sinh viên là yêu cầu hết sức
quan trọng của nền giáo dục đại học trong giai
đoạn hiện nay.
Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của
phương pháp vấn đáp và vận dụng một số
phương pháp mới trong đánh giá kết quả kết
thúc học phần Đường lối cách mạng của Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Từ khóa: Phương pháp, Vận dụng kết hợp, Đánh giá
kết quả học tập, Vấn đáp, Trắc nghiệm, Thang điểm,
Phúc khảo, Giáo dục đại học, Sinh viên, Năng lực, Thị
trường lao động
Abstract
Renovating methods of evaluating the study results,
promoting the creativity, evaluating accurately the
capability and virtue of students are important
requirements of higher education at the present.
In this paper, we will study some solutions to improve
môn, các giảng viên phải biết vận dụng kết hợp các phương pháp đánh giá kết
quả cho phù hợp nhất.
Phương hướng cơ bản trong đổi mới và nâng cao chất lượng đánh giá kết
quả học tập học phần ĐLCM của ĐCSVN trong giai đoạn hiện nay là cải tiến
và nâng cao chất lượng của các phương pháp kiểm tra đánh giá truyền thống,
đồng thời nghiên cứu vận dụng kết hợp với các phương pháp đánh giá hiện đại
phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
2. Vận dụng kết hợp một số phương pháp trong đánh giá kết quả học
phần Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Trường Đại
học Kiến trúc Hà Nội
2.1. Phương pháp vấn đáp kết hợp với trắc nghiệm
Vấn đáp là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập phổ biến từ khá
lâu trong các trường đại học, với những ưu điểm nổi bật như thuận lợi trong
công tác ra đề thi; chấm thi cũng tương đối đơn giản, tổ chức thi cử nhanh gọn,
hạn chế tối đa việc phúc tra, phúc khảo, giảng viên thu được tín hiệu nhanh và
trực tiếp từ sinh viên. Song, thi vấn đáp cũng có những nhược điểm lớn. Các
câu hỏi trong hệ thống đề thi vấn đáp thường tương đối đơn giản không bao
quát được nội dung chương trình nên sinh viên hay nảy sinh tâm lý “học tủ”,”học
lệch”. Công tác tổ chức thi chủ yếu do các bộ môn tự tiến hành nên khó đảm bảo
sự khách quan cần thiết. Kết quả thi bị chi phối bởi yếu tố tâm lý của giảng viên.
Theo Quyết định số 679/QĐ - ĐHKT – TTrKT & ĐBCL của Hiệu trưởng
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2014, về việc ban hành
quy định về đánh giá kết quả học tập các học phần của sinh viên hệ chính quy
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, hình thức thi vấn đáp trong đánh giá kết thúc
học phần không được khuyến khích. Đối với học phần ĐLCM của ĐCSVN, để
phát huy được những ưu điểm của thi vấn đáp trong điều kiện hiện nay thì đề
thi vấn đáp cần thiết phải được cải tiến nâng cao chất lượng, cách thức tổ chức,
vận dụng cũng cần phải được đổi mới.
Trước đây, đề thi vấn đáp rất đơn giản, thường chỉ yêu cầu sinh viên trả lời
một vấn đề nhỏ trong nội dung chương trình, dẫn tới tình trạng “học tủ”, “học
quyền trực tiếp từ tay kẻ thù nào?
+ Khẩu hiệu đấu tranh chủ yếu trong Cách mạng Tháng
Tám là gì?
Trong trường hợp sinh viên không thể trả lời các câu hỏi
đơn giản như vậy thì hoàn toàn có thể kết luận không hoàn
thành đề thi vấn đáp của họ. Trong trường hợp họ trả lời
đúng, giảng viên sẽ yêu cầu họ trả lời vào nội dung chính của
câu hỏi. Trước đây, các giảng viên thường đã vận dụng cách
này trong các kỳ thi vấn đáp. Song, sự vận dụng đó chưa có
quy chuẩn rõ ràng nên mang tính chủ quan. Vì vậy, cải tiến
đề thi vấn đáp cần thực hiện trên cơ sở đề xuất của các giảng
viên và thống nhất trong bộ môn theo một quy trình và nội
dung nhất định. Quy trình đó gồm những bước sau:
Bước 1: Soạn thảo các câu hỏi vấn đáp phù hợp;
Bước 2: Soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm đơn giản có
liên quan trực tiếp đến nội dung vấn đáp;
Bước 3: Thiết kế đề thi vấn đáp, gồm các khâu sau đây:
+ Lựa chọn và xác định số lượng câu hỏi vấn đáp trong
một đề thi (thông thường là một câu hỏi);
+ Lựa chọn và xác định số lượng câu hỏi trắc nghiệm có
liên quan đến nội dung vấn đáp trong đề thi (thông thường là
03 câu, tối đa không lớn hơn 04 câu)
* Cách thức tiến hành đánh giá kết quả hoc tập bằng
phương pháp vấn đáp kết hợp với trắc nghiệm:
- Bước 1: Yêu cầu sinh viên trả lời các câu hỏi trắc
nghiệm. Sinh viên phải trả lời đúng tối thiểu ½ số các câu
hỏi trắc nghiệm thì mới đươc tiếp tục tiến hành bước thứ hai.
Trong trường hợp sinh viên hoàn thành dưới ½ số câu hỏi
trắc nghiệm có thể dừng lại cuộc vấn đáp và kết luận không
đạt về kết quả của bài thi để tránh làm mất thời gian và ảnh
của giảng viên đạt mức điểm tối đa 100% tổng số điểm trên
thang điểm 10 (điểm A).
- Xếp loại theo mức điểm cao nhất mà sinh viên đạt được.
* Đối tượng áp dụng:
Thi vấn đáp có ưu điểm là nhanh gọn, giảm thiểu các thủ
tục hành chính. Tuy vậy, thi vấn đáp cũng có nhược điểm là
đòi hỏi nhiều cán bộ chấm thi cùng phải làm việc một lúc và
phải phối hợp hết sức ăn ý với nhau; cơ sở vật chất phục
vụ thi phải được đáp ứng tốt hơn (phòng thi phải đủ rộng,
ít người qua lại gây ồn ào…). Vì vậy, phương pháp vấn đáp
kết hợp với trắc nghiệm nên được sử dụng đối với một kỳ thi
không có quá đông sinh viên, với các đối tượng là sinh viên
các lớp hệ vừa học, vừa làm hoặc lớp theo chương trình tiên
tiến.
* Một số lưu ý trong đảm bảo trật tự phòng thi, bảo mật đề
thi, thiết kế kỹ thuật của giấy thi và lưu trữ bài thi:
- Số lượng mã đề thi vấn đáp phải đảm bảo đủ để mỗi
sinh viên có một mã đề thi khác nhau.
- Số lượng giảng viên tham gia chấm thi phải đủ để đảm
bảo buổi thi vấn đáp không quá kéo dài tránh gây áp lực tâm
lý cho sinh viên, đặc biệt là những người ở cuối danh sách.
Bộ môn nên phân công một giảng viên chuyên làm nhiệm vụ
gọi sinh viên vào phòng thi, đối chiếu thẻ sinh viên, rút thăm
đề thi, đảm bảo trật tự phòng thi, các giảng viên khác tập
trung cho công tác hỏi thi, chấm thi, ghi điểm vào danh sách.
- Giấy thi vấn đáp ngoài phần ghi thông tin cá nhân của
sinh viên, cần có phần dành cho cán bộ chấm thi ghi lời nhận
xét và kết luận sơ bộ về kết quả thi. Đối với phần này, cán bộ
chấm thi số 1 nên ghi bằng mực xanh. Phần ghi điểm chính
thức của sinh viên và chữ ký của cả 2 cán bộ chấm thi công
bộ chấm thi số 2.
Sau khi đã có kết luận sơ bộ, các giảng viên tham gia
chấm thi phải hội ý để đưa ra kết luận cuối cùng về kết quả
thi; thông báo kết quả thi công khai trước toàn thể sinh viên.
Khâu cuối cùng của quá trình thi vấn đáp sau khi kết luận
chính thức về kết quả thi được công bố là giải đáp thắc mắc
và yêu cầu xem xét lại kết quả thi của sinh viên (phúc khảo).
Tuy nhiên, đối với thi vấn đáp, công việc này thường được
kết hợp trong khi cán bộ chấm thi ra kết luận sơ bộ nên ít
khi phải thực hiện lại công việc này trừ một vài trường hợp
ngoại lệ.
2.2. Hồ sơ và bảng danh mục năng lực
Trong các phương pháp đánh giá kết quả học tập trong
nền giáo dục đại học hiện đại, có một phương pháp mới rất
đáng tham khảo, nghiên cứu vận dụng tại Trường Đại học
Kiến trúc Hà Nội, không chỉ là đối với một học phần cụ thể mà
còn là căn cứ có tính chất tham khảo chung trong đánh giá
năng lực của sinh viên, đặc biệt là trong công tác công nhận
tốt nghiệp đó là hồ sơ và bảng danh mục năng lực.
Một số sinh viên có quá trình làm việc hoặc tham gia
các hoạt động xã hội trước và trong khi học thì có nghĩa
là họ đã có quá trình tích lũy những kiến thức ngoài nhà
trường. Những kiến thức này rất đáng được ghi nhận. Điều
này chẳng những phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại
mà còn có tác dụng khuyến khích sinh viên gắn lý luận với
thực tiễn. Như trên đã đề cập, nhiều trường đại học ở Hoa Kỳ
công nhận những hoạt động thực tiễn của sinh viên và lượng
hóa thành một số tín chỉ, mang lại quyền lợi trực tiếp cho sinh
viên. Đối với điều kiện của Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
hiện nay, nhất là đối với những sinh viên ngành xây dựng,
chất tham khảo trong đánh giá năng lực của sinh viên.
Những thành tích trên của sinh viên nên được thể hiện rõ
trong bản danh mục năng lực có xác nhận của Nhà trường.
Bản danh mục năng lực của sinh viên nên ghi nhận những
thành tích sau đây:
- Thành tích nghiên cứu khoa học của sinh viên trong quá
trình học bao gồm các đề tài trong lĩnh vực chuyên ngành,
trong các môn cơ sở, cơ bản; bao gồm việc chủ trì đề tài,
tham gia nghiên cứu đề tài.
- Hoạt động xã hội, nghề nghiệp của sinh viên trước và
trong quá trình học bao gồm tất cả các hoạt động trong các tổ
chức và những hoạt động mang tính chất cá nhân.
Hồ sơ và bản danh mục năng lực sẽ là một phần thành
tích học tập của sinh viên bên cạnh bảng điểm và bằng tốt
nghiệp. Đây là xu hướng mới trong đánh giá năng lực của
sinh viên, một công cụ hỗ trợ sinh viên mới ra trường trong
phỏng vấn xin việc, cũng như một trong những kênh tham
khảo đối với các nhà tuyển dụng.
Kết luận
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt
Nam tiếp tục quan điểm coi giáo dục đào tạo là quốc sách
hàng đầu. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang
bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
người học; học đi đôi với hành, gắn lý luận với thực tiễn. Phát
triển giáo dục đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học
công nghệ , yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường
lao động.
Để đạt được mục tiêu trên, đối với giáo dục đại học, đổi
mới chương trình nội dung và phương pháp giảng dạy phải
89