NGUYỄN THỊ THÁI
KHÓA 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÁI
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH LỮ HÀNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THÁI
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH LỮ HÀNH
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU
KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH LỮ HÀNH .......................................6
1.1. Khái quát về du lịch lữ hành và điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành ...........................6
1.2. Pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành................................................................... 20
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH
DỊCH VỤ DU LỊCH LỮ HÀNH TỪ THỰC TIỄN TP. HỒ CHÍ MINH ..........29
2.1. Quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành ....................................... 29
2.2. Tổ chức thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành từ thực tiễn Tp.
Hồ Chí Minh .................................................................................................................................... 44
2.3. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật về điều kiện kinh
doanh dịch vụ du lịch lữ hành .......................................................................................................... 57
Chương 3. HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT VỀ
ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ DU LỊCH LỮ HÀNH .......................... 62
3.1. Yêu cầu khách quan hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành.... 62
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật ...................................................................................... 65
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật ..................................................................................... 71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 75
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt
DL
Du lịch
6
DV
Dịch vụ
7
DVLH
Dịch vụ lữ hành
8
ĐVT
Đơn vị tính
9
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
10
Tp.
Thành phố
16
USD
Đô la Mỹ
17
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH
Bảng 2.1. Số khách du lịch nội địa và quốc tế đến Tp. Hồ Chí Minh
Bảng 2.2. Top 10 doanh nghiệp lữ hành inbound hàng đầu Tp.Hồ Chí Minh
Bảng 2.3. Top 10 công ty du lịch – lữ hành uy tín năm 2019
Hình 2.1. Doanh thu của các cơ sở lữ hành tại Tp. Hồ Chí Minh, giai đoạn
2013 – 2017
Hình 3.1. Số khách du lịch quốc tế đến trên Thế giới, giai đoạn 1990 – 2016
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch đang là ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam. Tuy nhiên ngành du lịch của nước ta còn non trẻ, tỷ trọng đóng
giám sát để hoạt động theo pháp luật là điều cần phải chú trọng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Để điều chỉnh các hoạt động Du lịch, nhà nước đã ban hành các văn bản pháp
lý từ năm 1960, trải qua năm tháng, các văn bản pháp luật này đã có những thay
đổi, chủ yếu điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tiễn phát triển của xã hội. Tuy
nhiên, dưới góc độ pháp lý, Luật Du lịch nói chung và các điều kiện kinh doanh về
dịch vụ du lịch lữ hành nói riêng còn có nhiều kẽ hở, nhiều nội dung chưa đi vào
thực tiễn, vì vậy đã có nhiều công trình khoa học khác nhau nghiên cứu về các nội
dung này. Đối với đề tài này đã có có các công trình nghiên cứu như sau:
Luận văn thạc sĩ của Lê Công Bằng: Pháp luật kinh doanh lữ hành (2014) Đại
học Luật TP. Hồ Chí Minh. Ở luận văn này đã có những đánh giá đúng đắn về tầm
quan trọng của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động du lịch
lữ hành, bàn đến phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên, luận văn này cơ sở pháp lý
thực tiễn là luật Du lịch 2005 nên ở thời điểm hiện tại đã có nhiều điểm không còn
phù hợp.
Luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Tâm: Điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch
theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình (2018) Học viện Khoa học xã
hội. Luận văn này chủ yếu mới chỉ hệ thống hóa các văn bản pháp luật, nêu một
cách chung chung, chưa có những đánh giá cụ thể. Đặc biệt, đối với luận văn này
đang đánh giá hoạt động du lịch nội địa nói chung, bao gồm hoạt động lữ hành và
hoạt động lưu trú, phạm vi về không gian trong địa bàn tỉnh Ninh Bình nên có thể
xem là không trùng lặp với đề tài của học viên.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Minh Thảo: Điều kiện kinh doanh du lịch lữ
hành theo pháp luật Việt Nam hiện nay (2018) Học viên Khoa học xã hội. Đối với
luận văn này đã có nhiều đóng góp có giá trị thực tiễn, tuy nhiên, tác giả của luận
2
văn đang đánh giá các văn bản pháp luật chung, trên phạm vi toàn quốc, đề tài có
- Đề xuất các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, nâng cao hiệu quả thực hiện và
thi hành pháp luật.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật về điều kiện kinh
doanh dịch vụ du lịch lữ hành ở Việt Nam hiện nay, bao gồm Luật du lịch 2005,
Luật Du lịch 2017, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 và các Nghị định,
Thông tư hướng dẫn liên quan khác.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tập trung vào điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành,
bao gồm các điều kiện về thành lập doanh nghiệp lữ hành như điều kiện về ký quỹ,
về người phụ trách kinh doanh; điều kiện về hướng dẫn viên; các điều kiện kinh
doanh của đại lý lữ hành, điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài qua thực tiễn Tp. Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên nền tảng cơ sở lý luận về pháp luật Du lịch, đặc
biệt là những vấn đề về kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành, từ đó làm rõ các vấn đề
lý thuyết được nêu ra trong luận văn.
Đề tài được triển khai nghiên cứu với phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học bao gồm:
phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh, nhận xét, phương pháp lịch sử
để hoàn thành luận văn.
Phương pháp tổng hợp và phân tích: nhằm làm sang tỏ những vấn đề lý luận
của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành.
Phương pháp so sánh: so sánh các quy định pháp luật cũ và pháp luật mới, so
sánh giữa luật Du lịch với các pháp luật lien quan khác có cùng quy định về điều
kiện kinh doanh, từ đó đưa ra các hạn chế, chồng chéo, thiếu sót của pháp luật.
lữ hành
1.1.1. Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành và kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành
1.1.1.1. Khái niệm dịch vụ du lịch lữ hành
Với mục tiêu đến năm 2030 ngành du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn của đất nước [3] của Bộ Chính trị cho thấy Nhà nước đã chú trọng đến
việc đầu tư, phát triển ngành Du lịch nhằm làm cho ngành Du lịch có vị trí quan
trọng trong sự phát triển kinh tế nước nhà.
Dịch vụ du lịch lữ hành là một hình thức kinh doanh của ngành Du lịch, sự
phát triển của kinh doanh dịch vụ lữ hành góp phần quan trọng vào sự phát triển của
ngành Du lịch nói riêng và sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung. Dịch vụ có
nhiều cách định nghĩa khác nhau, dựa vào từng cách tiếp cận ta có:
Dịch vụ là một hoạt động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và
làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa… mà cao nhất là trở thành những
thương hiệu, những nét văn hóa kinh doanh và làm hài lòng người tiêu dùng để họ
sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả [31].
Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không
tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam
theo quy định của pháp luật [21].
Theo Philip Kotler, dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này
cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô
hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có
thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào.
Theo định nghĩa thứ nhất, dịch vụ là một hoạt động bổ sung nhằm làm đa
dạng, phong phú và khác biệt hơn từ những sản phẩm vật chất đã có sẵn nào đó, từ
6
đó người sử dụng dịch vụ họ sẵn sàng chi trả một mức chi phí cao hơn cho sản
phẩm vật chất thông qua các hoạt động dịch vụ.
Trong 4 định nghĩa nói trên, có đến 3 định nghĩa cho rằng, Du lịch là “những
chuyến đi”, rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến nơi khác khám phá, tham quan,
trải nghiệm, không có mục đích kiếm tiền ở hoạt động du lịch này.
Đối với định nghĩa thứ 4, định nghĩa Du lịch trên khía cạnh kinh tế, dưới cách
nhìn của người quản lý kinh tế, nó vẫn đảm bảo chung là “đáp ứng nhu cầu đi lại,
trao đổi, lưu trú, ăn uống, tham quan giải trí….”. Nghĩa là vẫn có điểm giống với 3
định nghĩa kể trên.
Như vậy có thể hiểu Du lịch là ngành kinh tế mà ở đó chủ thể của nó bao gồm
khách du lịch, các nhà quản lý kinh tế, những người tham gia vào các hoạt động
khác xúc tiến cho những chuyến tham quan của khách du lịch được thỏa mãn một
số nhu cầu nhất định nào đó của khách tham quan. Qua các hoạt động này, các nhà
quản lý kinh tế địa phương sẽ thu được nguồn lợi từ khách du lịch mang lại.
Lữ hành có nhiều cách hiểu khác nhau, lữ hành là một từ Hán Việt, theo Đại
từ điển Hán Việt thì Lữ hành có nghĩa là đi đường xa [35,tr.1067]
Lữ hành là tất cả những hoạt động di chuyển của con người cũng như những
hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó [16,tr.48]
Theo nghĩa rộng, lữ hành là tất cả sự di chuyển của con người từ nơi này đến
nơi khác, bằng bất kỳ phương tiện gì, với bất kỳ lý do gì. Ở nghĩa rộng này, cho
thấy lữ hành có tương đồng với du lịch như đã phân tích ở trên, tuy nhiên không
phải tất cả các hoạt động của lữ hành đều là du lịch, bởi quá trình vận chuyển đó
hành khách có nhiều mục đích khác nhau, có thể là những chuyến công tác, có thể
là học sinh sinh viên, có thể là thăm khám, chữa bệnh hay một lý do nào khác,
không vì mục đích kiếm tiền trong chuyến đi đó.
Cũng từ những phân tích của khái niệm du lịch ở trên, ta thấy không phải tất
cả các hoạt động của Du lịch đều là lữ hành, bởi kinh doanh Du lịch còn có cả nhà
hàng, khách sạn và các dịch vụ khác. Như vậy, trong lữ hành có Du lịch, và trong
Du lịch có cả lữ hành.
Từ những khái niệm kể trên, có thể định nghĩa về “Dịch vụ du lịch lữ hành” là
một ngành kinh tế mà ở đó các sản phẩm du lịch được tổ chức trọn gói, dịch vụ
8
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, các đại lý lữ hành. Các tour di lịch, chương trình
9
d lịch có thể được khách hàng mua trực tiếp tại các doanh nghiệp dịch vụ lữ hành
hoặc thông qua các đại lý lữ hành, tùy vào cách tiếp cận của khách du lịch.
Còn theo Luật du lịch 2017, Kinh doanh dịch vụ lữ hành là việc xây dựng,
bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du
lịch [36]. Theo đó, kinh doanh dịch vụ lữ hành phân biệt với các hoạt động kinh
doanh dịch vụ du lịch khác như kinh doanh nhà hàng, kinh doanh dịch vụ lưu trú,
vui chơi giải trí. Trong Luật Du lịch 2017, kinh doanh dịch vụ lữ hành chú trọng
vào việc xây dựng, tổ chức một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch. Hay nói
gọn lại, kinh doanh dịch vụ lữ hành là kinh doanh chương trình du lịch. Cũng theo
Luật Du lịch 2017 thì “Chương trình du lịch là văn bản thể hiện lịch trình, dịch vụ
và giá bán được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ điểm xuất phát đến
điểm kết thúc chuyến đi [26].
Muốn thực hiện được các chương trình du lịch, các công ty du lịch, đại lý du
lịch đã khai thác nhu cầu của khách du lịch, liên kết các dịch vụ ăn uống, vui chơi
giải trí, tham quan, lưu trú ở các địa phương để tạo thành các tour du lịch trọn gói,
bán với giá gộp cho khách du lịch. Du khách thường sử dụng các dịch vụ của các
công ty lữ hành, đại lý lữ hành, bởi vì sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí cho việc
tìm kiếm thông tin, tổ chức các chuyến du lịch. Đó cũng là lý do tại sao các doanh
nghiệp hằng năm cho nhân viên đi du lịch họ thường đăng ký qua các công ty lữ
hành, để sử dụng các dịch vụ trọn gói. Không phải những người quản lý công đoàn
các công ty, xí nghiệp, đoàn thể không thể tự tìm kiếm các danh tham thắng cảnh,
các nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, mà việc thực hiện các công việc này
làm cho họ mất nhiều thời gian, lại không được giá rẻ như mong muốn, hoặc có thể
có giá rẻ, nhưng lại mang đến những phiền phức không đáng có (thanh toán tiền các
dịch vụ ăn uống, mua vé các dịch vụ vui chơi giải trí, thanh toán tiền lưu trú…).
Trên thực tế, kinh doanh dịch vụ lữ hành tồn tại hai hoạt động phổ biến: Kinh
lữ hành không làm tăng giá trị sản phẩm, không được phép xây dựng các chương
trình du lịch để bán cho khách du lịch. Các đại lý hoạt động với vai trò là trung
gian, thông qua đại lý lữ hành khoảng cách giữa cơ sở kinh doanh du lịch và khách
du lịch được xích lại gần nhau hơn.
11
1.1.2. Khái niệm điều kiện kinh doanh và điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành
1.1.2.1. Khái niệm điều kiện kinh doanh
Mọi người có quyền tự do kinh doanh mọi ngành nghề mà pháp luật không
cấm [21]. Tuy nhiên, quyền tự do kinh doanh luôn gắn liền với một hệ thống pháp
luật cụ thể, một quốc gia nhất định và trong một nước có pháp luật tự do nghĩa là
làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm [1,tr.101]
Trong bối cảnh đó quan niệm về tự do kinh doanh và giới hạn quản lý của nhà nước
đối với sự phát triển của thị trường luôn có những bước phát triển mới. Với mỗi giai
đoạn phát triển, pháp luật lại có những thay đổi trong việc nhận định lại nội hàm
của quyền tự do kinh doanh. Một lẽ đương nhiên khi quyền tự do kinh doanh của cá
nhân được mở rộng, pháp luật phải thay đổi cách thức và nội dung quản lý nhà nước
đối với thị trường [28,tr.52]. Mỗi quốc gia khác nhau đều xây dựng cho mình những
khung pháp lý nhất định để quản lý kinh tế - xã hội nước nhà. Tùy vào trình độ phát
triển của mỗi quốc gia, giới hạn của sự tự do là khác nhau, không quốc gia nào hoàn
toàn giống quốc gia nào cả.
Để hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật
Đầu tư 2014 đã được xây dựng với phương thức tiếp cận theo hướng đơn giản hóa
điều kiện và thủ tục đăng kí kinh doanh, dỡ bỏ hàng loạt hạn chế, bất cập của quy
định cũ, mở rộng các nhóm quyền tự quyết, tự chủ trong hoạt động của doanh
nghiệp[15,tr.36]. Tại khoản 1, Điều 7, Luật Doanh nghiệp 2014 quy định doanh
nghiệp có quyền được “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không
cấm”[24]. Quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hiện
điều kiện kinh doanh để phù hợp với yêu cầu quản lý kinh tế và môi trường pháp lý
riêng của quốc gia mình” [32,tr.19].
Theo Luật Đầu tư 2014 thì Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là
ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó
phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng [23].
Tại Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư thì
điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy
13
định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt
động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Mặt
khác, các quy định này giúp thực hiện các yêu cầu của nhà nước về quản lý hoạt
động kinh tế tốt hơn đối với các nhóm ngành nghề kinh doanh, tạo khung pháp lý để
các chủ thể kinh doanh có quyền tự do kinh doanh trong đó [32,tr.32]. Cũng theo
quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định này thì các điều kiện đầu tư kinh doanh
được áp dụng theo các hình thức sau:
1. Giấy phép; 2. Giấy chứng nhận đủ điều kiện; 3. Chứng chỉ hành nghề; 4.
Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; 5. Văn bản xác nhận; 6. Các hình
thức văn bản khác theo quy định của pháp luật ngoài các hình thức điều kiện trên;
7. Các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động
đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức
văn bản [24].
Tại Khoản 3 Điều 7 của Luật Đầu tư năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2016)
thì điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
phải được quy định tại các Luật, Pháp lệnh, Nghị định và Điều ước quốc tế mà
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên [23]. Do vậy, chỉ có Quốc hội,
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ mới được ban hành quy định về điều kiện
tổng hợp. Sản phẩm của chương trình du lịch mang tính phi vật chất, không lưu kho
bãi và không chuyển quyền sở hữu. Đây chính là các đặc điểm của sản phẩm dịch
vụ.
Thứ hai: Kinh doanh dịch vụ lữ hành là ngành nghề trung gian.
Như trên vừa nói, kinh doanh dịch vụ lữ hành là một hoạt động dịch vụ, vì là
hoạt động dịch vụ nên chắc chắn nó có tính trung gian trong việc tạo ra một sản
phẩm du lịch trọn gói. Việc liên kết các sản phẩm dịch vụ riêng lẻ thành các sản
phẩm dịch vụ có tính chất tổng hợp, đưa hàng hóa dịch vụ có tính riêng lẻ thành
hàng hóa có tính chất tổng hợp, sản phẩm bán lẻ trở thành sản phẩm bán buôn. Để
làm được việc này, các nhà kinh doanh dịch vụ lữ hành đã phải lên kế hoạch một
cách tỷ mỷ, nghiên cứu kỹ càng từng hoạt động riêng lẻ, nghiên cứu tâm lý, thị hiếu
của khách du lịch, từ đó tạo ra sản phẩm hàng hóa phù hợp với nhu cầu của khách
du lịch. Khách du lịch họ có thể tự thiết kế chuyến đi cho riêng mình hay cho tập
15
thể mình, nhưng việc chuyên môn hóa trong xã hội đã làm cho những du khách
riêng lẻ hay những đoàn khách du lịch họ muốn được hưởng thụ những giá trị thật
sự của nó, đó là việc thông qua một công ty kinh doanh dịch vụ lữ hành, khách du
lịch mua sản phẩm du lịch và trả giá cho các công việc mà nhà cung cấp dịch vụ đã
dày công kết nối để tạo thành.
Thứ ba: kinh doanh dịch vụ lữ hành có tính thời vụ.
Tính thời vụ của kinh doanh dịch vụ lữ hành chịu sự tác động của cả yếu tố tự
nhiên cũng như yếu tố kinh tế xã hội. Lao động phục vụ cho hoạt động lữ hành chủ
yếu vào mùa du lịch. Việc làm ăn chụp giật, cạnh tranh không lành mạnh và sử
dụng các hành vi sai trái để thực hiện mục đích trong kinh doanh dịch vụ lữ hành
xảy ra cũng do tính thời vụ - đặc thù của ngành nghề. Các yếu tố như không gian,
thời gian, lịch sử, thời tiết, địa hình hay yếu tố kinh tế xã hội khác cũng ảnh hưởng
lớn tới tính thời vụ trong du lịch. Các công ty lữ hành, khách du lịch chịu ảnh
hưởng trực tiếp bởi tính thời vụ của kinh doanh dịch vụ lữ hành, chính tính thời vụ
Như đã phân tích ở trên, Kinh doanh dịch vụ lữ hành là ngành nghề kinh
doanh đặc thù, là một trong số 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện do Luật đầu
tư 2014 quy định, ở hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành có đầy đủ các đặc điểm
như ngành nghề trung gian, mang tính dịch vụ và có tính thời vụ. Chính từ những
đặc điểm này yêu cầu Kinh doanh dịch vụ lữ hành phải có những điều kiện nhất
định để đảm bảo cho kinh doanh dịch vụ lữ hành phát triển, góp phần vào sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Là một hoạt động dịch vụ, vì thế việc các doanh nghiệp lữ hành tổ chức các
chương trình du lịch phải có sự sắp xếp khéo léo, tài tình để các dịch vụ riêng lẻ
được liên kết lại với nhau, đưa ra một chương trình du lịch trọn gói, từ đó quảng cáo
cho khách du lịch biết được sản phẩm mình lựa chọn gồm có những dịch vụ gì,
dừng chân ở đâu, tham quan chỗ nào. Tuy nhiên khách du lịch muôn hình vạn trạng,
để thiết kế được các chương trình du lịch trọn gói với giá hấp dẫn, người điều hành
các doanh nghiệp dịch vụ lữ hành phải là những người có trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm nhất định về kinh doanh lữ hành, vì thế Điều 31, điểm c khoản 1 và
điểm c khoản 2 Luật Du lịch 2017 đã quy định cụ thể về yêu cầu này.
Tính thời vụ của kinh doanh dịch vụ lữ hành đã tạo nên sự tập trung quá đông
17
khách du lịch cho địa phương có du lịch. Sự tập trung quá đông này làm mất đi sự
cân đối trong quản lý của địa phương, gây ra sự khó khăn trong quản lý lưu trú,
quản lý các dịch vụ an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh trật tự xã hội, tài nguyên du
lịch bị khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường, các doanh nghiệp kinh doanh lữ
hành không lành mạnh sẽ có những chiêu trò để níu kéo khách, ảnh hưởng đến
quyền lợi của khách du lịch, cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp lữ
hành khác.
Khách du lịch là đối tượng vô cùng quan trọng của kinh doanh dịch vụ lữ
hành, vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho khách du lịch yêu cầu đặt ra đối với các
doanh nghiệp lữ hành là phải ký quỹ, nguồn ký quỹ này nhằm giải quyết các vấn