SKKN một số kinh nghiệm sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học ngữ văn 9 nhằm nâng cao chất lượng dạy học - Pdf 65

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
TRƯỜNG THCS QUẢNG ĐỊNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ KINH NGHIỆM SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG
DẠY HỌC NGỮ VĂN LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY VÀ HỌC

Người thực hiện: Tô Thị Hợp
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: THCS Quảng Định
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn

THANH HÓA, NĂM 2016

1


1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đang là mối quan tâm lớn của
ngành giáo dục, của những người làm công tác giáo dục và của toàn xã hội. Theo
đó, nhiệm vụ nâng cao chất lượng các môn học, trong đó có bộ môn Ngữ văn, đang
đặt ra các thách thức cho các thầy giáo, cô giáo. Đặc biệt trong hoàn cảnh, giai
đoạn hiện nay, không ít học sinh, phụ huynh quan tâm ít đi, say mê ít đi ( Chứ
không muốn nói là là không còn yêu thích) môn Ngữ văn.
Các nhà trường, các thầy cô giáo, trong đó có các thầy cô giảng dạy bộ môn
Ngữ văn hiện nay đang có nhiều trăn trở tìm ra các giải pháp nhằm làm tốt hơn nữa
nhiệm vụ nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn.

2


sinh dễ hiểu, dễ nhớ và phát huy tối đa khả năng sáng tạo trong quá trình học.
BĐTD là công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở các trường THCS và bậc
học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trình bày các ý tưởng, tóm tắt, hệ
thống hóa kiến thức của một bài học, một chủ đề, một chương hay một cuốn sách
một cách rõ ràng, mạch lạc, lôgíc và đặc biệt là dễ dàng phát triển thêm các ý tưởng
mới vào bài giảng cũng như bài học.BĐTD giúp học sinh học được phương pháp
học tập chủ động, tích cực. Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh
có xu hướng không thích học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc
trưng môn học thường phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Một số em học tập chăm chỉ
nhưng thành tích họch tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài nấy, học
phần sau không biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kết
kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau.
Do đó, việc sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được
phương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
Tóm lại, việc sử dụng Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học sẽ giúp HS:
1. Tăng sự hứng thú trong học tập.
2. Phát huy khả năng sáng tạo, năng lực tư duy của các em.
3. Tiết kiệm thời gian rất nhiều.
4. Nhìn thấy được bức tranh tổng thể.
5. Ghi nhớ tốt hơn.
6. Thể hiện phong cách cá nhân, dấu ấn riêng của mỗi em.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Soạn giảng bộ môn Ngữ văn lớp 6, lớp 9 theo sơ đồ tư duy và chuẩn
KTKN.
- Hướng dẫn học sinh ghi chép, he thống bài học theo BĐTD.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp xây dựng cơ sở lý thuyết

Với bộ môn Ngữ văn THCS gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm
văn. Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho HS các KN nghe,
nói, đọc viết, nhưng có vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù.
Văn học có mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi văn
bản thể hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản
đó. Cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là cái duy
nhất không lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Tiếng Việt: Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ
năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết.
- Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt, có ý thức sử dụng và
giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
- Dạy Tiếng Việt thông qua:
+ Từ: nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…
+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và liên
kết các câu,…
+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kết
đoạn văn…
Làm văn: giúp HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức tạo
lập văn bản theo từng loại thể.
- Phân môn Làm văn Ở THCS:
+ Văn nghệ thuật (miêu tả, tự sự, biểu cảm)
+ Văn nghị luận (Nghị luận chính trị, xã hội - Nghị luận về sự việc, hiện tượng
trong đời sống; nghị luận về tư tưởng đạo lí; ngghị luận văn học)
- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những kiến
thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn bản
dưới hình thức nói hoặc viết.

4



è

Kết quả
0- 2,75

H

9A
9B

S
2
8
2

3,0

– 5- 6,75

TB

7- 8,75

9-10

SL
7

SL
0

7
7,0

SL
17
18

%
60,
8
64,

6

%
25,
0
21,

SL
2
4
2

%
85,
7
89,
5


Cấu tạo:
Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề.
Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ
chủ đề.
Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý
chính.
Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm
thì ý càng cụ thể, chi tiết. Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng
lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị
kiến thức nào đó.

6


3.2. Các bước thiết kế một SĐTD
Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy..., hay trên phần
mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh
minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ đề,
thì ta đưa ra những ý chính nào. Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề
các nhánh chính, nối chúng với trung tâm.
Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi
ý chính ấy. Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính. Cứ thế ta triển khai thành
mạng lưới liên kết chặt chẽ.
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo tác
động trực quan, dễ nhớ.
Lưu ý:
Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh
con.

Đối với giáo viên:
Ngoài việc tham dự các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ có liên
quan đến việc đổi mới PPDH, giáo viên cần nghiên cứu kĩ những tài liệu liên quan
đến việc hướng dẫn sử dụng SĐTD và phần mềm vẽ SĐTD Mind Map để có
những tri thức cơ bản về nó (Hiểu biết về SĐTD, cấu tạo, vai trò, tiện ích, phương
pháp tạo lập, thiết kế, việc sử dụng nó trong quá trình dạy học...); đồng thời, giáo
viên cần đầu tư thời gian vào việc tập vẽ, cả vẽ trên giấy và trên phần mềm trong
máy vi tính (Nhớ là phải nghiên cứu kĩ cách sử dụng phần mềm để thực hiện thao
tác cho nhanh nhẹn, thuần thục). Sau khi đã hiểu kĩ, nắm chắc về vai trò, công dụng
của SĐTD, sử dụng thành thạo phần mềm, nắm vững phương pháp vẽ một SĐTD,
thì việc ứng dụng nó vào quá trình dạy học là việc dễ dàng. (Dĩ nhiên chuyện
SĐTD đẹp hay xấu phụ thuộc vào sự tưởng tượng, liên tưởng, óc sáng tạo và năng
khiếu mỗi người).
Đối với học sinh
Cần dành thời gian hợp lý cho các em “làm quen” với SĐTD, theo cách sau
đây:
Để tiết kiệm thời gian, lại khỏi phải làm cái công việc giới thiệu, hướng dẫn
cách vẽ SĐTD trở đi, trở lại hết lớp này đến lớp khác, giáo viên nên tham mưu cho
Ban Giám hiệu trường, hoặc Chuyên môn trường, chọn thời gian thuận lợi ngay từ
đầu năm học tổ chức một buổi ngoại khóa “Làm quen với Sơ đồ tư duy” (Tùy theo
tình hình cụ thể của từng đơn vị trường mà có thể tổ chức theo khối lớp giáo viên
trực tiếp dạy, khối học sáng - chiều hoặc toàn trường) để giới thiệu, cho các em làm
quen và hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho các em.(Lưu ý rằng đây cũng là một bước
tạo không khí sôi nổi, lôi cuốn các em tiếp cận với một phương pháp, kĩ thuật dạy
học mới). Để buổi ngoại khóa thành công, giáo viên cần chuẩn bị tốt các nội dung
sau:
+ Về phía học sinh, giáo viên cần nhắc nhở các em mang theo đầy đủ các
dụng cụ: giấy vở, bìa lịch cũ, bìa cứng, bút chì, hộp màu, tẩy,...
+ Về phía giáo viên, cần chuẩn bị trước: phòng máy, máy chiếu, bảng phụ,
phấn màu, ... và một số SĐTD đã vẽ sẵn trên trên máy, trên giấy vở, trên bìa lịch,

Bước 4: “Trang trí”
Sau khi các em vẽ xong sườn của SĐTD, giáo viên gợi ý cho các em vẽ chèn
thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho các
em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các
ý trong sơ đồ.(Kĩ năng hội họa - dấu ấn sáng tạo riêng)
Lưu ý:
+ Giáo viên lưu ý học sinh khi vẽ SĐTD, các em nên kết hợp dùng màu sắc,
đường nét, ... ngay trong quá trình vẽ để tiết kiệm thời gian.
+ Không nên dùng quá nhiều màu, không dùng những màu sắc quá sặc sỡ,
không quá chú trọng vào đường nét, hình ảnh làm lãng phí thời gian.
Bước 5: “Chia sẻ kinh nghiệm”
Ở bước này, giáo viên thu một số SĐTD các em vừa vẽ theo từng loại (Sơ đồ
không triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ đồ vẽ không
đúng trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt,... )
Cho học sinh quan sát, nhận xét, góp ý chỉnh sửa, bổ sung. Giáo
viên lắng nghe, định hướng cho các em chỉnh sửa, bổ sung:
+ Như trên đã trình bày, SĐTD là một sơ đồ mở. Vì vậy, giáo viên cần tôn
trọng và phát huy sự sáng tạo của các em, bởi đây là “sản phẩm” của chính các em.
Giáo viên chỉ chỉnh sửa cho các em chủ yếu về mặt kiến thức. Mặt khác, giáo viên
cũng cần khuyến khích, biểu dương những SĐTD vẽ đảm bảo đầy đủ kiến thức
trọng tâm, đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc.
+ Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên lập
SĐTD trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài trên
lớp để có điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì? Những gì mình còn
sai sót cần bổ sung, sửa chữa. Nếu làm được như vậy, chẳng những giúp các em
nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện cho các em phát triển năng lực tư duy (Tư
duy lô-gic, tư duy hệ thống...) rất tốt.
9



“Liên kết văn bản” lên bảng. Sau đó, giáo viên đưa ra câu hỏi dẫn dắt cho các em:
Các câu văn trong đoạn và các đoạn văn trong văn bản được liên kết chặt chẽ với
nhau qua những mặt liên kết nào? Có những phép liên kết phổ biến nào được sử
dụng để thực hiện việc liên kết trong văn bản? Em hãy dựa vào cụm từ khóa trên,
lập SĐTD biểu thị mối quan hệ các mặt liên kết trong văn bản? rồi cho học sinh
tiến hành lập SĐTD. Sau đây là SĐTD minh họa:

Sử dụng SĐTD trong kiểm tra 15 phút
Chúng ta cũng có thể dùng SĐTD trong các hình thức kiểm tra trên giấy (15
phút) một cách dễ dàng để tăng cường việc rèn luyện thói quen tư duy lô-gic, tư
duy hệ thống cho học sinh thông qua các bài kiểm tra viết, nhằm phát triển năng
lực tư duy sáng tạo cho các em. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần lưu ý rằng kiểm tra
kiến thức cũ bằng phương pháp vẽ SĐTD chỉ là một hình thức kiểm tra nhằm việc
giúp học sinh củng cố, hệ thống kiến thức có tính chất lý thuyết. Do đó, giáo viên
nên chọn kiểm tra những kiến thức có tính hệ thống, xâu chuỗi, các em có thể dễ
11


dàng hệ thống hóa bằng SĐTD. Ví dụ: Trong ch¬ng tr×nh ng÷ v¨n 9 lập SĐTD
về Từ loại (xét về cấu tạo, xét về ngữ pháp), về các Phương châm hội thoại, về Trau
dồi vốn từ, về Nghĩa của từ, Các cách phát triển từ vựng, ...trong phân môn Tiếng
Việt; lập SĐTD về hệ thống luận điểm, luận cứ trong một văn bản nghị luận, về dàn
ý của một kiểu văn bản nào đó...trong phân môn Tập làm văn; hay lập SĐTD để
khái quát, sơ đồ hóa kiến thức về một tác giả, tác phẩm nào đó, về quá trình phát
triển tính cách, tâm trạng...của một nhân vật trong tác phẩm truyện hay mạch cảm
xúc, trình tự kết cấu của một bài thơ...đối với phân môn Văn học. Mặt khác, về yêu
cầu của đề kiểm tra, giáo viên cần đưa ra từ hay cụm từ khóa ngắn gọn, rõ ràng, cụ
thể, khái quát được chủ đề của phần kiến thức cần kiểm tra trong câu hỏi để định
hướng, giúp học sinh dễ dàng nắm bắt chính xác yêu cầu đề và có thể vẽ đúng
SĐTD theo yêu cầu. Sau đây là một số ví dụ minh họa các dạng đề kiểm tra viết

Huệ

14


Tiết 93:

VĂN BẢN: ĐÊM NAY BÁC KHÔNG NGỦ
Minh Huệ

I. TÌM HIỂU CHUNG

1. Tác giả

Như vậy, chúng ta có thể dễ dàng sử dụng SĐTD kết hợp trong việc dạy học
bài mới với dùng chính nó để cô đọng kiến thức của bài học cho học sinh ghi. Việc
sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học bài mới sẽ giúp học sinh từng bước phát
hiện, tiếp cận và chiếm lĩnh toàn bộ kiến thức bài học một cách khoa học, có hệ
thống, lô-gic. Bắt đầu bài học bằng từ, cụm từ trung tâm thể hiện trọng tâm kiến
thức, thông qua sự định hướng dẫn dắt của giáo viên, các em tự khám phá, tìm hiểu
các đơn vị kiến thức của bài học (các ý lớn, nhỏ) một cách liền mạch, có hệ thống,
đến khi tiết học kết thúc cũng là lúc toàn bộ kiến thức của bài học được cô đọng và
trình bày một cách sinh động, khoa học và sáng tạo trên bảng đen (hoặc trên màn
hình). SĐTD ấy không chỉ cung cấp cho các em “bức tranh tổng thể” về kiến thức
của bài học mà nó còn giúp cho các em dễ dàng nhận ra mạch lô-gic kiến thức của
bài học. Do đó, chúng ta có thể dùng nó như phần nội dung ghi bảng của giáo viên
để học sinh ghi chép.
Tuy nhiên, chúng ta cần linh hoạt sử dụng ở những tiết dạy, bài dạy cho phép
chứ không nên lạm dụng SĐTD để khỏi phải ghi bảng ở tất cả các tiết dạy. Mặt
khác, việc sử dụng kết hợp này càng thuận lợi hơn khi chúng ta sử dụng phần mềm

kiến thức đã học cho các em. Sau đây là một vài ví dụ
Tiết 167,168( Ngữ văn 9). Tổng kết văn học

17


18


Tit 147,148. Tng kt Ng phỏp ( Ng vn 9)

Tóm li, vi nhng u im ca mỡnh, s t duy tr thnh mt cụng c
gi m, kớch thớch quỏ trỡnh tỡm tũi kin thc ca hc sinh. Vic s dng STD
trong quỏ trỡnh dy hc giỳp cỏc em hc tp mt cỏch ch ng, tớch cc v huy
ng c tt c hc sinh tham gia xõy dng bi mt cỏch ho hng. Cỏch hc ny
cũn phỏt trin c nng lc riờng ca tng em khụng ch v trớ tu (v, vit gỡ trờn
BTD), h thng húa kin thc (huy ng nhng iu ó hc trc ú vo vic
chn lc cỏc ý ghi), kh nng hi ha (hỡnh thc trỡnh by, kt hp hỡnh v, ch
vit, mu sc), s vn dng kin thc c hc qua sỏch v vo cuc sng.
Vic vn dng STD trong dy hc s dn hỡnh thnh cho HS t duy mch
lc, hiu bit vn mt cỏch sõu sc, cú cỏch nhỡn vn mt cỏch h thng, khoa
hc. S dng STD kt hp vi cỏc phng phỏp dy hc tớch cc khỏc nh vn
ỏp gi m, thuyt trỡnh, cú tớnh kh thi cao gúp phn i mi PPDH, c bit l
i vi cỏc lp cp THCS.
4. Hiu qu SKKN
Trong năm học 2015 - 2016, Trờng THCS Quảng Định, Quảng Xơng
có hai lớp 9, tôi áp dụng sơ đồ t duy trong giảng dạy đối với học sinh lớp 9A,
còn lớp 9B tôi sử dụng phơng pháp dạy học truyền thống. Sau khi áp dụng,
tôi thấy đa số các em đều hứng thú, tích cực, chủ động tiếp thu bài học.
19

9A

S
2

9A
9B
9B

2
8
28
2
8
2
8

7- 8,75

TB

9-10

trở

lên

SL
1


17

8

9B

5- 6,75

4,75

%
10,

SL
17

7

%
60,

SL
7

8

64,
6
50,0
58,

4
39,5
31,
1
31,
1

2
1
1

SL
2

%
85,

4

7

2
5
27
2
7
2
6

89,

dục, xây dựng các phòng học chức năng, phòng
vi tính
- Có biện pháp tích cực khuyến khích cán bộ giáo viên tự học tập
nâng cao trình độ tin học và xây dựng ý thức vận dụng sơ đồ t duy vào
dạy học.
20


- Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cốt cán về đổi mới PPDH.
- Tích cực dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên môn
đúng kế hoạch;
- Đánh giá, xếp loại giáo viên đúng năng lực, trình độ và đề xuất khen
thưởng kịp thời những giáo viên tích cực trong đổi mới PPDH.
2.2. Với Phòng Giáo dục
- Tổ chức các chuyên đề, hướng dẫn soạn giáo án, sử dụng SĐTD trong dạy
học.
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy ở
trường THCS Qu¶ng §Þnh - một ngôi trường còn nhiều khó khăn, điều kiện học
tập của các em học sinh còn thiếu thốn nhiều. Nhưng bằng sự nỗ lực, thầy và trò
nhà trường đang dần dần khắc phục để đưa sự nghiệp giáo dục đi lên. Rất mong
được sự góp ý chân thành của lãnh đạo cấp trên và các bạn đồng nghiệp để sáng
kiến kinh nghiệm của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Quảng Xương, ngày 10 tháng 4 năm 2016

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết, không sao chép nội dung của người
khác.
Người viết

Lí do chọn đề tài
2
Mục đích
3
Đối tượng nghiên cứu
4
Phương pháp nghiên cứu
PHẦN THỨ HAI. NỘI DUNG

Trang 1
Trang 1
Trang 2
Trang 2

1
2

Cơ sở lí luận
Thực trạng sử dụng BĐTD trong dạy học
Ngữ văn ở trường THCS
Thuận lợi

Trang 2
Trang 4

Khó khăn
Một số kinh nghiệm sử dụng BĐTD trong
dạy học Ngữ văn THCS nhằm nâng cao chất
lượng dạy học
Sơ đồ tư duy - khái niệm, cấu tạo, các bước

Trang 6
Trang 6
Trang 7
Trang 9
Trang 17

PHẦN THỨ BA. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1

Kết luận

Trang 18

2

Đề xuất, kiến nghị

Trang 19
23


24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status