VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN XUÂN NHÂN
NGUYÊN TẮC PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH
SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hà Nội - 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN XUÂN NHÂN
NGUYÊN TẮC PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH
SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH
Ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM MINH TUYÊN
Hà Nội - 2020
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 2015 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI
TỈNH BẮC NINH..........................................................................................26
2.1. Sự thể hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự 2015..........................26
2.2. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Bắc Ninh...................................37
Chương 3: MỘT SỐ YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC
HIỆN NGUYÊN TẮC PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI
VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI................................................. 55
3.1. Yêu cầu bảo đảm thực hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình
sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.................................................... 55
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm
hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội............................................ 58
KẾT LUẬN....................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 74
PHỤ LỤC.......................................................................................................77
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
TAND: Tòa án nhân dân
TNHS: Trách nhiệm hình sự
NQ: Nghị quyết
Tr: Trang
HĐXX: Hội đồng xét xử
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nam, Luận văn thạc sĩ luật học Khoa Luật trường đại học Quốc gia Hà Nội;
Đỗ Thị Minh Phượng (2002), Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và sự
thể hiện của nó trong Bộ luật Hình sự năm 1999, luận văn thạc sĩ luật học
trường Đại học luật Hà Nội; …
Các sách, giáo trình: Võ Khánh Vinh, Giáo trình luật hình sự phần
chung, Học viện khoa học xã hội, năm 2014; TS. Nguyễn Đức Mai, “Bình
luận khoa học Bộ luật Hình sự hiện hành (sửa đổi bổ sung năm 2017)”, Nxb.
Chính trị quốc gia Hà Nội; Đinh Văn Quế, “Bình luận khoa học Bộ luật Hình
sự năm 2015 – Phần thứ nhất: Những quy định chung”, Nxb. Thông tin và
truyền thông; …
* Các bài báo, tạp chí: Cao Thị Oanh, Hoàn thiện những quy định về
trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội, Tạp chí luật học
năm 2007; Nguyễn Ngọc Hòa, “Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
trong bộ luật hình sự 1999”, Tạp chí luật học năm 2000; Lê Thị Sơn, Nguyên
tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội và sự thể hiện trong Bộ luật
hình sự, Tạp chí Luật học năm 2015; Phí Thành Chung, Phân hóa trách
nhiệm hình sự của đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật Số 3/2016; Cao Thị Oanh, Biểu hiện của nguyên tắc phân
hóa trách nhiệm hình sự trong các quy định về các chế tài hình sự thuộc phần
các tội phạm, Tạp chí Nhà nước và pháp luật năm 2006…
Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống
và toàn diện các vấn đề về nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ một tỉnh cụ
thể là Bắc Ninh. Do đó luận văn đảm bảo tính mới và không trùng lặp với các
đề tài đã được công bố.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
tích thực tiễn áp dụng nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội trong quy định về quyết định hình phạt.
- Về địa bàn nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trong giai đoạn xét
xử tại TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Thời gian nghiên cứu: Các số liệu, kết quả, bản án thu thập trong 05
năm từ năm 2015-2019.
6. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật;
chủ nghĩa Mác – Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và
Nhà nước về nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18
tuổi phạm tội theo Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành; những luận điểm khoa
học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng
trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam về trách nhiệm
hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Luận văn sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp các phương pháp nghiên cứu cơ
bản như: thống kế, khảo sát, so sánh, thu thập, phân tích…nhằm làm sáng tỏ,
luận giải các luận văn, nội dung nghiên cứu đề tài.
7. Nội dung của Luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về nguyên tắc phân hóa trách
nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
5
Chương 2: Sự thể hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội trong bộ luật hình sự 2015 và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Bắc Ninh.
Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc
phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
về quyền và nghĩa vụ của công dân, chưa có khả năng nhận thức, kiểm soát
7
được suy nghĩ, hành vi của mình. Do đó, người dưới 18 tuổi dễ bị chi phối bởi
tác động bên ngoài và thực hiện các hành vi thiếu suy nghĩ chín chắn.
Từ sự phân tích trên, có thể hiểu Người dưới 18 tuổi phạm tội là người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm và phải chịu chế tài hình sự do
Tòa án áp dụng đối với họ.
1.1.2. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc đưa ra khái niệm
TNHS, có thể kể đến:
Theo TSKH.GS. Lê Cảm thì “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực
hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một
hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định”[1].
PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà và TS. Lê Thị Sơn thì cho rằng “TNHS là
một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động
của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của
TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” 11, tr. 126 ;
Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học có định nghĩa “TNHS là trách
nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi
phạm tội của mình”. Hiện nay, BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định
chủ thể của tội phạm ngoài cá nhân là người phạm tội thì hiện nay bao gồm cả
pháp nhân thương mại nên khái niệm TNHS cũng cần phải được hiểu đầy đủ
là trách nhiệm của người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phải chịu
những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình. Trách nhiệm
trong lĩnh vực pháp luật nói chung thường được hiểu theo hai nghĩa: là chức
trách, nghĩa vụ, bổn phận phải làm hoặc là hậu quả pháp lý của việc vi phạm
pháp luật.
tích.
Bản chất của TNHS là sự lên án của Nhà nước đối với người có lỗi khi
9
thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội
phạm, Bằng bản án kết tội, Nhà nước chính thức lên án đối với người đã có
hành vi phạm tội và trên cơ sở đó thể hiện thái độ phản ứng của mình thông
qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự như áp dụng hình phạt,
biện pháp tư pháp. Những biện pháp cưỡng chế này có đặc điểm chung là đều
gây ra những tác động bất lợi về pháp lý đối với người phạm tội nhằm giáo
dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa: TNHS là một dạng của
trách nhiệm pháp lý đồng thời là hậu quả pháp lý bất lợi cho người thực hiện
hành vi phạm tội với nội dung bao gồm việc phải chịu sự tác động của hoạt
động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS
(hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích.
1.1.3. Khái niệm nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội
Khái niệm phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra khái niệm, có thể
kể đến như:
Quan điểm 1: Phân hoá TNHS là sự phân chia các trường hợp phạm tội
thành những nhóm khác nhau dựa vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
đó và các đặc điểm nhân thân người phạm tội, đồng thời, phải được xử lý
bằng biện pháp hình sự phù hợp.
Quan điểm 2: Những hành vi phạm tội cụ thể không những có sự khác
nhau về nguyên nhân và điều kiện phát sinh, về tính chất của các quan hệ xã
hội bị xâm phạm mà còn có sự khác nhau ngay ở tính chất và mức độ nguy
hiểm của hậu quả do hành vi phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra cũng như ở
hiện hành, học viên xin đưa ra quan điểm về khái niệm nguyên tắc phân hóa
TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau:
11
Nguyên tắc phân hóa TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là hệ
thống những quy định, phân chia các trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội
thành những nhóm khác nhau dựa trên độ tuổi, tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện và những đặc điểm nhân
thân của họ để từ đó quyết định hình phạt hoặc áp dụng các biện pháp tư
pháp hình sự phù hợp đối với từng trường hợp phạm tội riêng biệt.
1.2. Căn cứ của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội
Căn cứ của nguyên tắc phân hoá TNHS đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội là những tiêu chí để phân hóa tội phạm do người dưới 18 tuổi thực
hiện thành những nhóm khác nhau, từ đó truy cứu TNHS phù hợp với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Phân hóa TNHS đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội bao gồm 4 căn cứ là:
Một là, căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm:
Khi nhắc đến vấn đề phân hóa TNHS thì tính nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm luôn được đề cập hàng đầu, vì đây là yếu tố quyết định xử lý về mặt
hình sự đối với các hành vi phạm tội, là tiêu chí thể hiện bản chất của tội
phạm. Do đó, nó là căn cứ pháp lý thống nhất cho sự phân hóa TNHS trong
chế định tại Phần chung và phần các tội phạm cụ thể, đồng thời ở các quy
định của các ngành luật có liên quan là tố tụng hình sự. Tại khoản 1 Điều 8
BLHS năm 2015 quy định: “1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật Hình sự...”. Cũng tại Khoản 1 Điều 9 BLHS năm
2015 quy định 4 loại tội phạm là: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm
trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.Việc phân
loại như vậy có tác dụng làm cơ sở cho việc phân hóa TNHS nói chung và
định tội phạm. VD: Trường hợp người 15 tuổi phạm một trong các tội về xâm
phạm an ninh quốc gia, nhưng là do bị người khác sai khiến chứ họ không hề
13
có mục đích chống lại Chính quyền nhân dân thì không thể truy cứu trách
nhiệm họ trong trường hợp này được. Chính vì vậy, khoản 2 Điều 12 BLHS
2015 đã sửa đổi là “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách
nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
quy định tại một trong các điều...”. Theo đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 28 điều luật đã được liệt kê tại
khoản 2 Điều 12 mà thôi. Quy định này đã thể hiện chính sách phân hóa trách
nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi một cách rõ nét và phù hợp với sự
phát triển về tâm – sinh lý cũng như nhận thức còn hạn chế của người dưới 18
tuổi.
- Hai là căn cứ đặc điểm nhân thân của người phạm tội:
Cùng với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các đặc điểm nhân
thân người phạm tội thể hiện khả năng giáo dục hoặc hoàn cảnh đặc biệt của
họ cũng cần được cân nhắc khi truy cứu TNHS người phạm tội. Để thực hiện
được yêu cầu đó trong áp dụng luật đòi hỏi các quy định của luật hình sự cũng
phải được phân hóa theo tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm và nhân
thân loại người phạm tội. Ngoài ra, hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội
cũng là yếu tố cần được cân nhắc khi xác định TNHS của họ (ví dụ: người
phạm tội là người già, phụ nữ có thai).
Nhân thân người phạm tội được sử dụng là căn cứ phân hóa TNHS vì
TNHS (trong đó có hình phạt) được quyết định không chỉ vì người nào đó đã
thực hiện tội phạm mà còn nhằm thay đổi bản chất xã hội trong nhân thân của
người đó, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Mặt khác, mức độ đạt được các mục
đích của việc áp dụng hình phạt hay còn gọi là giá trị thực tiễn của cá thể hóa
TNHS một phần phụ thuộc vào mức độ các đặc điểm nhân thân người phạm
biệt, là người từ đủ 18 tuổi trở lên.
15
- Từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151,
168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287,
289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật hình sự như đã phân tích ở phần trên.
Như chúng ta đều biết, con người không phải cứ sinh ra là đã có năng
lực TNHS, mà con người phải trải qua một quá trình trưởng thành, thông qua
hoạt động giáo dục nhận thức và hình thành năng lực một cách từ từ, phải tới
khi đạt tới một độ tuổi nhất định thì con người mới hoàn thành năng lực
chung của mình, trong đó có năng lực trách nhiệm hình sự, khi đó con người
mới có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình. Do vậy,
người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển một cách hoàn thiện về nhận thức,
tâm – sinh lý cũng có nhiều biến động nên năng lực TNHS của họ sẽ có nhiều
hạn chế. Nên việc căn cứ vào độ tuổi để phân hóa trách nhiệm hình sự là hết
sức cần thiết và có tính khoa học.
- Bốn là, căn cứ vào lỗi của người phạm tội:
Đây là căn cứ xác định chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý. Lỗi là sự biểu hiện thái độ chủ quan của người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được thể hiện dưới hai dạng là lỗi cố
ý và lỗi vô ý. Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc kết tội khách
quan, nghĩa là truy cứu TNHS chỉ căn cứ vào việc một người thực hiện hành
vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ; bởi thực tiễn
nhiều trường hợp họ gây thiệt hại nhưng họ không có lỗi tức là họ được thực
hiện những hành vi đó mà pháp luật cho phép khi đó họ không phải chịu
TNHS đối với thiệt hại họ gây ra. Do vậy, yếu tố có lỗi là một căn cứ của tội
tội phạm nói chung và đối với những tội phạm do người dưới 18 tuổi thực
hiện nói riêng. Để nhận thức đúng đắn vấn đề này, nhà làm luật cần phải xây
17
dựng đề ra những vấn đề phân hóa TNHS đối với các trường hợp phạm tội
khác nhau, đặc biệt là đối với người dưới 18 tuổi khi phạm những tội hình sự,
nhà làm luật phải hoạch định chính sách hình sự, đề ra các chủ trương, biện
pháp trong xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự nhằm đấu tranh phòng
chống tội phạm.
Trên phương diện nhận thức, cần phải hiểu bản chất của pháp luật với
tư cách là công cụ, phương tiện để Nhà nước duy trì kỷ cương, kỷ luật và
quản lý xã hội, mang bản chất, thể hiện ý chí và phục vụ lợi ích của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động mà ở đó pháp luật hình sự được xem là công
cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội cũng như bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của công dân và trừng trị những kẻ chống đối, cố tình vi phạm pháp luật. Tùy
theo từng giai đoạn lịch sử phát triển của xã hội mà chính sách hình sự đối với
người phạm tội cũng có sự thay đổi cho phù hợp với thực tiễn, thì mức độ
phân hóa TNHS đối với các loại tội phạm nói chung và đối với những người
dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, cũng thay đổi theo.
Để nhận thức đúng đắn vai trò định hướng, chỉ đạo hoạt động xây dựng
và áp dụng pháp luật hình sự, đòi hỏi Nhà nước, nhà làm luật phải khái quát
những vấn đề về chính sách hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, quan
điểm, đường lối xử lý mang tính phân hóa TNHS đối với các trường hợp
phạm tội bao gồm các nội dung:
Thứ nhất, quy định đường lối xử lí khác nhau đối với các nhóm tội
phạm khác nhau. Nội dung này thường gắn liền với bản chất của Nhà nước
cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng giai đoạn nhất
định. Nội dung phân hóa này có thể được thể hiện trực tiếp ở hình phạt được
quy định đối với các tội phạm trong nhóm hoặc trong các quy định khác có
phạm tội và chính sách hình sự của Nhà nước. Kết quả của nội dung phân hóa
này được thể hiện ở đường lối xử lí đối với mọi trường hợp phạm tội do người
19
chưa thành niên thực hiện phải ít nghiêm khắc hơn so với trường hợp người
đã thành niên phạm tội tương ứng.
Thứ năm, quy định đường lối xử lí khác nhau đối với các trường hợp
phạm cùng một tội nhưng khác nhau về hình thức thực hiện tội phạm. Nội
dung phân hóa này thể hiện đường lối xử lí phân hóa giữa những trường hợp
phạm tội đơn lẻ với những trường hợp phạm tội dưới hình thức đồng phạm
mà mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên đáng kể.
Toàn bộ những nội dung phân hóa trên đây được thể hiện qua các chế
định thuộc Phần chung và các quy định thuộc Phần các tội phạm, chúng là cơ
sở để chuyển tải tư tưởng phân hóa TNHS vào thực tiễn. Trong đó, những quy
định về tội phạm là những quy định giữ vai trò là cơ sở cho việc phân hóa
TNHS và những quy định về TNHS là nơi trực tiếp thể hiện kết quả của hoạt
động phân hóa TNHS.
1.3.2. Nội dung về lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự
Trước hết, để có thể phân hóa TNHS đối với người phạm tội, nhà làm
luật cần xây dựng những quy định về tội phạm thể hiện sự phân hóa tối đa
trên cơ sở tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và nhân thân người phạm
tội. Nội dung phân hóa trong các quy định này mặc dù không trực tiếp thể
hiện đường lối xử lý phân hóa đối với người phạm tội nhưng chúng là cơ sở
bắt buộc để xây dựng các quy định về TNHS phù hợp với các yêu cầu của
nguyên tắc phân hóa TNHS. Các quy định về tội phạm là những quy định đầu
tiên quyết định TNHS của người phạm tội, chúng phần nào phản ánh mức độ
TNHS mà người phạm tội phải chịu. Do đó, nếu tư tưởng phân hoá TNHS
được thể hiện tốt ngay từ những quy định về tội phạm sẽ góp phần thực hiện
triệt để mục tiêu phân hoá TNHS. Trên cơ sở phân hóa tội phạm, tất cả các