Luận văn thạc sỹ - Tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------------

LÊ THỊ KIM CHUNG

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI
ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KINH TẾ HỌC

HÀ NỘI, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------------

LÊ THỊ KIM CHUNG

TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI
ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số: 9310101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN VIỆT HÙNG



MẠI VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
8
1.1. Một số vấn đề lý luận về tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế 8
1.1.1. Tự do hóa thương mại 8
1.1.2. Các lý thuyết về tác động của thương mại tự do đến nền kinh tế 9
1.1.3. Cơ sở lý thuyết về thuế quan và phân tích tác động của thuế quan 19
1.1.4. Hiệp định thương mại tự do 27
1.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm
28
1.2.1. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
29
1.2.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về Việt Nam
41
1.2.3. Kết luận chung từ tổng quan nghiên cứu và xác định “khoảng trống” nghiên cứu 46
1.3. Các giả thuyết nghiên cứu
48
Tóm tắt chương 1 50
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN KINH TẾ VIỆT NAM..........................51
2.1. Thực trạng tự do hóa thương mại tại Việt Nam
51
2.1.1. Tổng quan các FTA của Việt Nam
51
2.1.2. Các giai đoạn của quá trình tự do hóa thương mại tại Việt Nam 53
2.1.3. Đánh giá chung các FTA của Việt Nam
57
2.1.4. Tình hình thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan trong các FTA của Việt Nam 59
2.2. Phân tích tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam giai đoạn
1995 - 2017 61
2.2.1. Tác động đến hoạt động thương mại của Việt Nam 61

3.3.5. Tác động tới GDP
111
3.3.6. Tác động tới việc làm 113
3.3.7. Tác động tới NS chính phủ
114
Tóm tắt chương 3 116
CHƯƠNG 4: TÁC ĐỘNG CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI ĐẾN MỘT SỐ
NGÀNH SẢN PHẨM: TIẾP CẬN MÔ HÌNH CÂN BẰNG RIÊNG
117
4.1. Khái quát về mô hình nghiên cứu
117
4.2. Mô hình cân bằng riêng
118
4.2.1. Cơ sở lý thuyết của mô hình 118
4.2.2. Mô hình ước lượng thực nghiệm
122
4.2.3. Nguồn số liệu và quy trình thực hiện ước lượng
126
4.3. Định lượng tác động của tự do hóa TM đến một số ngành sản phẩm
128
4.3.1. Tổng quan tình hình hoạt động của các ngành sản phẩm 128
4.3.2. Dự báo lượng NK của một số mặt hàng NK của Việt Nam năm 2018
134
4.3.3. Kết quả đo lường ảnh hưởng của tự do hóa thương mại
137
Tóm tắt chương 4 142
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ..................................143
5.1. Kết luận chung về tác động của tự do hóa TM đến kinh tế Việt Nam
143
5.2. Một số khuyến nghị 146

Mô hình VAR trễ phân phối dừng tự hồi quy

ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CGE

Mô hình Cân bằng tổng thể

DN

Doanh nghiệp

ECM

Mô hình Hiệu chỉnh sai số

EU

Liên minh Châu Âu

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FTA

Hiệp định thương mại tự do


Mô hình tự hồi quy vecto

VECM

Mô hình hiệu chỉnh sai số dạng véc tơ

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

XK

Xuất khẩu

XNK

Xuất Nhập khẩu


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 1.1.

Nguồn gốc và tác động của thương mại tự do đến nền kinh tế 18

Hình 1.2.

Phân tích cân bằng riêng ảnh hưởng của cắt giảm thuế quan trong một
nước nhỏ

Hình 1.3.

Số dòng thuế đã cắt giảm của Việt Nam theo cam kết trong các FTA tính
đến 2018

Hình 2.3.

26

60

Kim ngạch XNK hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2017 (tỷ USD)
61

Hình 2.4.

Cơ cấu XK của Việt Nam theo đối tác giai đoạn 1995 – 2017 (%)

63

Hình 2.5.

Cơ cấu NK của Việt Nam theo đối tác giai đoạn 1995 – 2017 (%)

63

Hình 2.6.

Vốn đầu tư toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế (%)

Bảng 2.3.


Hình 2.13.

Cơ cấu thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2000-2017 (%)

Hình 2.14.

Tỷ trọng các ngành trong GDP, đóng góp của các ngành vào tăng trưởng
GDP (%)

Hình 3.1.

69
71

75

75
76

77

Những tương tác vĩ mô chính do giảm thuế quan trong mô hình kinh tế
lượng vĩ mô 82

Hình 3.2.

66

Sự liên kết giữa các mức giá trong khối giá cả


Hình 4.1.

Ảnh hưởng trên thị trường trong nước của việc gỡ bỏ các rào cản TM
119

Hình 4.2.

Ảnh hưởng trên thị trường NK khi gỡ bỏ các rào cản TM

Hình 4.3.

Lượng sản xuất trong nước của các ngành giai đoạn 2004 – 2016 (tấn) 128

Hình 4.4.

Lượng NK một số mặt hàng giai đoạn 2004-2017 (tấn)

Hình 4.5.

Biến động giá NK một số mặt hàng giai đoạn 2004 – 2016 (%)

Hình 4.6.

Tỷ trọng kim ngạch NK bình quân giai đoạn 2004 – 2017 của các mặt
hàng theo đối tác

119
130
131


Bảng 4.2.
Bảng 4.3.
Bảng 4.4.
Bảng 4.5.
Bảng 4.6.

1

Sự thay đổi trong phúc lợi khi loại bỏ thuế NK 22
Các FTA tự do của Việt Nam 1
52
Cam kết về thuế NK trong các FTA đã ký kết 58
Các giả định của mô hình kinh tế lượng vĩ mô 100
Kết quả ước lượng các phương trình hành vi khối sản xuất
101
Kết quả ước lượng các phương trình hành vi khối giá cả
101
Kết quả ước lượng phương trình hành vi tiêu dùng của hộ gia đình 103
Kết quả ước lượng phương trình hành vi Xuất - Nhập khẩu 104
Kết quả dự báo tác động của việc cắt giảm thuế NK đến giá cả
105
Kết quả dự báo tác động của giảm thuế NK đến đầu tư 107
Kết quả dự báo tác động của việc cắt giảm thuế NK lên XNK 108
Phân rã thay đổi GDP theo các thành phần (%) 111
Kết quả dự báo tác động của việc giảm thuế NK tới việc làm 112
Kết quả bự báo tác động của giảm thuế NK tới NS chính phủ 113
Thuế suất NK trung bình của một số mặt hàng NK giai đoạn 2016 –
2018 của Việt Nam theo cam kết của một số FTA (%) 133
Kết quả dự báo lượng nhập khẩu của một số mặt hàng NK năm 2017 135
Kết quả dự báo lượng NK của một số mặt hàng NK năm 2018135

phân bổ nguồn lực sang các hoạt động kinh tế mà quốc gia đó có lợi thế so sánh; cho
phép phát triển nền kinh tế quy mô thông qua việc xuất khẩu ra thị trường thế giới. Ba
là, thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài, trong quá trình tự do hóa TM, nguồn đầu tư
trực tiếp nước ngoài sẽ bị thu hút bởi những ngành mà quốc gia có lợi thế so sánh.
Việc này sẽ tạo ra sự hình thành vốn vật chất trong nước và cho phép chi nhiều hơn
cho nghiên cứu và phát triển. Nói cách khác, tự do hóa TM sẽ đẩy nhanh tốc độ công
nghiệp hóa trong nước. Bốn là, tự do hóa TM có thể giúp quốc gia đó được tiếp cận các
công nghệ mới, từ đó có thể nâng cao năng lực công nghệ của một quốc gia và hỗ trợ
cải thiện năng suất. Năm là, tạo việc làm và tăng thu nhập bình quân đầu người, tự do
hóa TM thúc đẩy hoạt động XNK, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đẩy nhanh tốc độ
công nghiệp hóa trong nước. Điều này giúp tạo ra nhiều việc làm mới và số lượng việc
làm tăng lên. Thu nhập bình quân đầu người và mức tiêu dùng trung bình sẽ tăng lên, thu
hẹp khoảng cách giàu nghèo của một quốc gia.


2
Nhận thức được tầm quan trọng đó, kể từ cuối thập niên 80, cải cách TM ở Việt
Nam đã bước đầu phát triển, bao gồm việc tạo ra và chỉnh sửa một hệ thống thuế NK và
XK, sự gỡ bỏ dần dần các rào cản phi thuế quan và sự bãi bỏ quy định các cơ chế TM.
Hiện tại, tất cả các DN đều được phép XK hoặc NK tất cả các loại hàng hóa phù hợp với
ngành nghề kinh doanh của mình theo đăng ký kinh doanh. Việc bãi bỏ các quy định về
quyền buôn bán đã làm tăng tính cạnh tranh và hiệu quả của các hoạt động TM. Cùng
với các biện pháp cải cách đơn phương, cải cách TM của Việt Nam bắt đầu phát triển
đều đặn từ năm 1995 với việc tham gia vào các FTA tự do song phương và đa phương.
Cho đến nay, Việt Nam đã trở thành thành viên của tất cả các tổ chức quốc tế lớn; tiếp
cận, ký kết hoặc tham gia đàm phán về 19 FTA . Bắt đầu bằng việc trở thành thành
viên của ASEAN vào năm 1995, tham gia APEC vào năm 1998. Việt Nam cũng đã
hoàn thành một FTA song phương với Hoa Kỳ vào năm 2000, là thành viên chính thức
của WTO vào năm 2007 và đã tham gia vào các FTA tự do khu vực như: Trung QuốcASEAN, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Australia và New
Zealand, ASEAN - Ấn độ. Việt Nam cũng đã tham gia hoặc đang đàm phán các FTA

cũng đều sử dụng mô hình mô phỏng là mô hình cân bằng riêng khả tính (PE), chỉ
có nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh và cộng sự (2004) sử dụng mô hình cân
bằng riêng với cách tiếp cận kinh tế lượng để lượng hóa tác động của cắt giảm thuế
quan khi tự do hóa TM ở Việt Nam nói chung đến phúc lợi của doanh nghiệp, người
tiêu dùng, nguồn thu NS chính phủ và lợi ích ròng cho xã hội. Tuy nhiên nghiên
cứu này chỉ dự báo đến năm 2004, thời gian cũng đã khá lâu trong khi từ năm 2004
đến nay Việt Nam cũng đã tham gia nhiều FTA hơn, hội nhập kinh tế sâu rộng hơn
và từ 2015 đến nay Việt Nam bước vào thời kỳ cắt giảm thuế quan sâu và đạt đến
mức độ cam kết cuối cùng với việc xóa bỏ thuế quan. Từ năm 2004 đến nay còn rất
hiếm các nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận kinh tế lượng với mô hình cân bằng
riêng để dự báo tiếp tác động của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa TM đến
phúc lợi của doanh nghiệp, người tiêu dùng, nguồn thu NS chính phủ và lợi ích
ròng cho xã hội.
Xuất phát từ tầm quan trọng của tự do hóa TM nói trên và yêu cầu của thực tiễn
nghiên cứu ở Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài “Tác động của tự do hóa thương
mại đến kinh tế Việt Nam” làm nội dung nghiên cứu của luận án. Qua nghiên cứu đề
tài, tác giả mong muốn sử dụng phương pháp kinh tế lượng để có thể dự báo được tác
động của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa TM đến khía cạnh toàn bộ nền kinh tế và
khía cạnh doanh nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm hướng tới các mục đích sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung nhất về tự do hóa TM và tác động
của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa TM đến nền kinh tế nhằm làm rõ câu hỏi:
TM tự do có tác động như thế nào đến nền kinh tế? Tác động theo những kênh nào?
Việc giảm thuế quan khi tự do hóa TM có tác động như thế nào đến nền kinh tế?
- Nghiên cứu cũng thực hiện tổng quan nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam
về tác động của tự do hóa TM đến kinh tế Việt Nam, để từ đó lựa chọn mô hình nghiên


4

TM theo cấp độ ngành từ khía cạnh doanh nghiệp thì sử dụng thuế khá thuyết phục vì
biểu thuế đến cấp ngành.


5

3.2. Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi nội dung nghiên cứu.
- Về khía cạnh toàn bộ nền kinh tế: đề tài tập trung đánh giá cú sốc của việc cắt
giảm thuế quan khi tự do hóa TM đến các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam như:
XNK, GDP, đầu tư, giá cả, việc làm, nguồn thu ngân sách.
- Về khía cạnh ngành: để xem xét tác động của việc cắt giảm thuế quan khi tự do
hóa TM đến doanh nghiệp, người tiêu dùng và lợi ích ròng cho xã hội đề tài xem xét từ
khía cạnh các ngành, do đó đề tài tập trung vào lượng hóa ảnh hưởng của việc cắt giảm
thuế quan đến lợi ích của các doanh nghiệp sản xuất trong nước, lợi ích ròng cho xã
hội của 6 ngành sau:
1. Ngành sản xuất giấy
2. Ngành sản xuất bông
3. Ngành sản xuất Cao su
4. Ngành Khí đốt hóa lỏng
5. Ngành sản xuất sắt thép
6. Ngành sản xuất sợi dệt
b. Phạm vi thời gian nghiên cứu.
- Khía cạnh toàn bộ nền kinh tế: đề tài dựa trên cơ sở số liệu vĩ mô thu thập được
từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2016 để dự báo tác động của cú sốc cắt giảm thuế
quan khi tự do hóa TM đến các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam từ 2018 đến 2028.
- Khía cạnh ngành: đề tài dựa trên cơ sở số liệu thu thập được của 6 ngành từ quý
1 năm 2004 đến quý 1 năm 2018 để ước lượng và dự báo, từ đó lượng hóa được ảnh
hưởng của việc cắt giảm thuế quan đến thặng dư của các doanh nghiệp sản xuất trong
nước, lợi ích ròng cho xã hội của các ngành năm 2018.

đến phúc lợi của các bên tham gia vào thị trường.
Dựa trên tổng quan nghiên cứu thực nghiệm, luận án chỉ ra những hướng nghiên
cứu và những vẫn đề còn tồn tại của các nghiên cứu thực nghiệm. Qua đó, luận án đã đề
xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm phù hợp cho trường hợp của Việt Nam, đó là sử
dụng phương pháp tiếp cận kinh tế lượng với mô hình kinh tế lượng vĩ mô và mô hình
cân bằng riêng trên cách tiếp cận kinh tế lượng. Đây là sự khác biệt với các nghiên cứu
trước khi chỉ sử dụng các mô hình mô phỏng như mô hình cân bằng tổng thể khả tính
(CGE) và mô hình cân bằng riêng khả tính (CPE) cho trường hợp Việt Nam.
Luận án đã dự báo được tác động của cú sốc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa
thương mại đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2018-2028. Luận án
khẳng định chính sách tự do hóa thương mại đem lại lợi ích nhưng cũng đem lại thiệt
hại cho nền kinh tế. Những lợi ích trong giai đoạn 2018 – 2028, đó là: xuất- nhập


7
khẩu, đầu tư, GDP, việc làm đều tăng, tuy nhiên những lợi ích này chưa được ổn định,
lợi ích này tăng nhiều nhất từ 2018 đến 2023, từ 2024 -2028 thì những lợi ích thu được
có xu hướng giảm hơn so với giai đoạn đầu, cho thấy về lâu dài Việt Nam đã không
duy trì được lợi thế cạnh tranh. Luận án cũng chỉ ra được sự gia tăng của xuất khẩu
chưa phải là yếu tố quyết định sự gia tăng của GDP trong giai đoạn 2018 – 2028, mà
chính là sự gia tăng đáng kể từ cầu cuối cùng, cụ thể là sự gia tăng từ tiêu dùng và đầu
tư là yếu tố quyết định sự gia tăng của GDP. Những thiệt hại mà chính sách tự do hóa
thương mại đem đến cho nền kinh tế là nguồn thu ngân sách từ thuế giảm khá nhiều
trong giai đoạn 2018 – 2028 do thuế quan được cắt giảm sâu. Từ khía cạnh ngành, luận
án chỉ ra thiệt hại của các doanh nghiệp trong nước, lợi ích của người tiêu dùng năm
2018 khi thuế quan được cắt giảm theo các cam kết của hiệp định thương mại tự do.
Cuối cùng, luận án khẳng định mặc dù có những thiệt hại nhưng tự do hóa thương mại
vẫn đem đến lợi ích ròng cho xã hội.
Luận án đưa ra một số khuyến nghị nhằm tận dụng được những lợi ích mà tự do
hóa thương mại đem lại cho Việt Nam trong thời gian tới.

Xu hướng tự do hóa TM bắt nguồn từ quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế thế
giới với những cấp độ khác nhau là toàn cầu hóa và khu vực hóa, lực lượng sản xuất
phát triển vượt ra ngoài phạm vi biên giới một quốc gia, sự phân công lao động quốc tế
phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, vai trò của các công ty đa quốc gia được tăng cường,
hầu hết các quốc gia chuyển sang xây dựng mô hình “kinh tế mở” với việc khai thác
ngày càng triệt để lợi thế so sánh của nền kinh tế mỗi nước. Tự do hóa TM đều đem lại
lợi ích cho từng quốc gia và tạo điều kiện cho việc phát huy các lợi thế so sánh và lợi thế
cạnh tranh của từng quốc gia dù trình độ phát triển khác nhau.
Tự do hóa TM liên quan đến một loạt các hoạt động để đạt được sự cởi mở về
TM quốc tế, bao gồm giảm thiểu và loại bỏ hàng rào thuế quan và các rào cản khác
giữa các quốc gia TM để tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho các hoạt động TM
giữa các quốc gia phát triển cả bề rộng và bề sâu. Cuối cùng, kết quả của tự do hóa TM
đem lại là hàng hóa, công nghệ cũng như các hoạt động dịch vụ của nước ngoài được
xâm nhập vào thị trường nội địa ngày càng dễ dàng hơn, bên cạnh đó XK hàng hóa và
dịch vụ từ trong nước ra nước ngoài cũng thuận lợi hơn. Điều đó tức là phải có sự kết
hợp hài hòa giữa tăng cường XK với nới lỏng NK.
Để thực hiện tự do hóa TM các biện pháp được áp dụng theo chiều hướng nới
lỏng dần với bước đi phù hợp và phải dựa trên cơ sở các cam kết song phương và đa
phương của các quốc gia đối với các công cụ bảo hộ mậu dịch đã và đang áp dụng


9
trong quan hệ TM quốc tế. Các biện pháp này có thể đòi hỏi các nước tham gia vào
FTA giảm hoặc loại bỏ các rào cản TM đối với các biểu thuế, hạn ngạch, trợ cấp XK và
thuế. Về bản chất thì đó là việc thực hiện các biện pháp cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ
các hàng rào phi thuế quan đã và đang áp dụng.

1.1.2. Các lý thuyết về tác động của thương mại tự do đến nền kinh tế
Cho đến nay chưa có một lý thuyết toàn diện nghiên cứu tác động của tự do hóa
thương mại đến nền kinh tế. Mà tác động của tự do hóa thương mại đến nền kinh tế

là “trò chơi thắng thua”, điều đó có nghĩa là bất kì của cải nào mà một quốc gia có
được đều đem đến sự tổn thất tương ứng ở một quốc gia khác tham gia giao thương.
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
Lý thuyết này được đưa ra bởi Adam Smith, người được coi là cha đẻ của nền
kinh tế hiện đại, và cũng là người đầu tiên ủng hộ nền thương mại tự do. Quan điểm
của ông được thể hiện trong cuốn “Của cải của các quốc gia” xuất bản vào năm 1776.
Ông định nghĩa lợi thế tuyệt đối là quá trình mà thông qua đó một cá nhân hoặc một
quốc gia có thể sản xuất một sản phẩm nhất định với giá thành thấp hơn các quốc gia
khác hoặc tại các quốc gia khác. Vì vậy, một quốc gia có tham gia thương mại quốc tế
nên chuyên môn hóa vào việc sản xuất và XK những mặt hàng mà mình có lợi thế
tuyệt đối so với các quốc gia khác, rồi sau đó thương mại với các nước khác để đổi lại
những mặt hàng mình không sản xuất. Smith khẳng định việc chuyên môn hóa trong
sản xuất hàng hóa sẽ dẫn đến tăng tổng sản lượng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dẫn
đến gia tăng sự giàu có thực sự của quốc gia và người dân. TM tự do sẽ giúp cho việc
phân bổ và sử dụng nguồn lực của thế giới có hiệu quả hơn, từ đó tất cả các quốc gia
đều có lợi ích khi tham gia vào TM tự do. Trái với quan điểm của các tác giả trọng
thương, Adam Smith cho rằng TM tự do có lợi cho tất cả các quốc gia, và vì vậy chính
phủ không nên can thiệp vào hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và các hoạt động
kinh tế nói chung.
Smith chỉ ra rằng mỗi quốc gia hoặc cá nhân có một lợi thế tuyệt đối so với
những quốc gia, cá nhân khác. Sẽ ra sao nếu một quốc gia có lợi thể tuyệt đối trong
việc sản xuất tất cả các mặt hàng? Liệu quốc gia có tiếp tục sản xuất tất cả các sản
phẩm cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu? Liệu việc hai quốc gia có thể tham gia thương
mại và cùng có lợi khi chỉ có một quốc gia sản xuất tất cả hàng hóa? Lý thuyết về lợi
thế so sánh sẽ trả lời cho tất cả câu hỏi trên.
Lý thuyết lợi thế so sánh
Để giải quyết một số vấn đề chưa có câu trả lời trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối,
lý thuyết về lợi thế so sánh được đưa ra bởi David Ricardo vào năm 1817, được thể
hiện trong cuốn sách “Nguyên lý kinh tế chính trị và thuế”. Mục tiêu của Ricardo
hướng tới là chứng minh rằng thương mại quốc tế đều đem lại lợi ích cho các quốc gia

1.1.2.2. Lý thuyết tân cổ điển
Một lý thuyết điển hình của lý thuyết tân cổ điển về thương mại quốc tế là lý
thuyết của Heckscher- Ohlin (H-O). Lý thuyết H-O được đặt ra bởi Heckscher (1919),
và Ohlin (1933) và dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo. Mô hình này còn có
tên khác là “lý thuyết nhân tố nguồn lực” vì nó nhấn mạnh rằng mô hình sản xuất và
thương mại xuyên quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố nguồn lực trong nước. Thương
mại quốc tế diễn ra do phát sinh sự khác biệt trong chi phí so sánh của các yếu tố tham
gia sản xuất, nguyên nhân do sự dồi dào hoặc thiếu hụt nguồn tài nguyên (gồm lao
động và vốn) trong các nước. Vì vậy, các quốc gia nên sản xuất và XK các mặt hàng
mà họ có các nhân tố sản xuất rẻ và NK các hàng hóa hoặc đầu vào khan hiếm tại thị
trường trong nước. Khác biệt trong sử dụng lượng vốn trên mỗi nhân công được xác
định là nhân tố quan trọng trong việc giải thích sự khác nhau trong năng suất lao động


12
tại các quốc gia. Lý thuyết H-O khẳng định các nguồn tài nguyên là cố định giữa các
nước, và các nước sử dụng các cách kết hợp khác nhau để tạo ra các mặt hàng khác
nhau. Sản phẩm đầu ra được nhắc đến là có lợi nhuận không thay đổi về quy mô và có
các yếu tố tương tự nhau và hàm sản xuất giống nhau giữa các quốc gia tham gia giao
dịch thương mại.
Trái ngược với mô hình của Ricardo với giả thuyết chỉ có một yếu tố sản xuất
(lao động) tồn tại, mô hình H-O đưa ra giả thuyết tồn tại hai yếu tố sản xuất (lao động
và vốn), sản xuất hai mặt hàng có thể tự do trao đổi giữa hai quốc gia tương đồng
nhau. Mô hình này cũng được biết đến là ‘mô hình 2 × 2 × 2’, với cách hiểu đơn giản
là 2 quốc gia tham gia giao thương, sản xuất 2 loại hàng hóa, và có 2 yếu tố sản xuất
đồng nhất. Không giống lợi thế so sánh của Ricardian, mô hình còn nhấn mạnh rằng,
thực chất một nền kinh tế đảm bảo các tác động của phân chia thu nhập thông qua
thương mại.
Do những kết quả gây chán nản trong việc xác định mô hình thương mại trong
thế giới có nhiều loại hàng hóa, thay vì dùng mô hình H- O, lý thuyết Heckscher-OhlinVanek (HOV), mặt khác, lại dự đoán khía cạnh về nội dung nhân tố của thương mại


1.1.2.3. Các lý thuyết hiện đại
Hạn chế của các lý thuyết cổ điển và tân cổ điển đã dẫn tới sự ra đời của nhiều lý
thuyết hiện đại về TMQT.
Lý thuyết quốc gia tương đồng
Lý thuyết này được tạo ra bởi một nhà kinh tế học người Thụy Điển Staffan
Burenstam Linder vào năm 1961, để mô tả mô hình thương mại toàn cầu. Linder thực
hiện một phân tích thực nghiệm dựa trên giả định của Leontief. Kết quả phân tích của
ông đưa ra nhận định rằng thay vì dựa vào khác biệt về phía cung của các yếu tố sản
xuất như trong giả định của mô hình tỉ lệ yếu tố H-O, các loại hàng hóa được giao
thương chủ yếu dựa trên sự tương đồng trong nhu cầu của các quốc gia. Linder đã
nhận định rằng các quốc gia có nhu cầu hàng hóa tương tự nhau sẽ thiết lập các ngành
công nghiệp có liên quan. Vì vậy, họ sẽ trao đổi với nhau, nhưng với các sản phẩm
khác nhau. Linder đưa ra giả thuyết rằng người tiêu dùng tại các quốc gia có cùng mức
thu nhập bình quân và cùng trình độ phát triển có thể có cùng sở thích và có thể sử
dụng các sản phẩm có chất lượng giống nhau. Vì vậy, các quốc gia này có xu hướng
trao đổi và tiêu thụ cùng số lượng và chất lượng hàng hóa tương tự nhau. Sử dụng
hướng tiếp cận của Linder, hầu hết các nghiên cứu kinh tế lượng đã thấy được mối liên
hệ khả quan giữa tỷ trọng thương mại nội ngành và trung bình thu nhập bình quân đầu
người tại các quốc gia.
Lý thuyết chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế
Lý thuyết được đưa ra bởi Vernon (1966) để bù đắp cho sự thất bại của mô hình
thương mại H-O. Khi giải thích mô hình thương mại quốc tế , Vernon đã chỉ ra năm giai
đoạn trong vòng đời của sản phẩm. Đầu tiên, giai đoạn giới thiệu sản phẩm mới ra thị
trường sẽ kích thích thương mại, giai đoạn này đa phần diễn ra ở các vùng hoặc các
nước có các điểm tương đồng. Giai đoạn thứ hai, giai đoạn phát triển dẫn tới cạnh tranh,


14
tập trung nguồn vốn, gia tăng xuất khẩu và chuyển giao công nghệ từ các quốc gia đổi

Grubel và Llyoyd (1971) đã khẳng định các chỉ số cao trong các nền kinh tế tiên tiến.
Cũng theo hướng nghiên cứu này, các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng khác biệt hóa sản


15
phẩm, nền kinh tế quy mô và các loại hành vi khác nhau có sự nhất quán với yếu tố
cân bằng giá. Theo cách tương tự cho thấy, TM nội ngành với các sản phẩm đồng nhất
hầu hết đều diễn ra tại các nước công nghiệp.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Porter
Mô hình này thường được biết đến với tên gọi Mô hình kim cương của Porter,
được Michael Porter đưa ra vào năm 1990. Mô hình thương mại được xác định thông
qua trình độ của các doanh nghiệp và thông qua tình hình kinh tế của quốc gia tham
gia TMQT. Porter chỉ ra rằng “định nghĩa có ý nghĩa duy nhất về năng lực cạnh tranh
quốc gia là năng suất của quốc gia đó”. Porter đã đưa ra bốn yếu tố chính mang đến lợi
thế cạnh tranh cho một quốc gia so với các quốc gia khác: điều kiện của các yếu tố sản
xuất; các điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; và chiến lược,
cấu trúc và tính cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo ông điều kiện về các yếu tố là nhân tố thiết yếu (ví dụ như tài nguyên
thiên nhiên, vị trí, thảm thực vật và điều kiện khí hậu, độ màu mỡ của đất phục vụ cho
sản xuất nông nghiệp) và các yếu tố tiên tiến (ví dụ, truyền thông, công nhân lành
nghề, việc bãi bỏ quy định của thị trường, nghiên cứu và phát triển) quyết định của
một nền kinh tế. Các điều kiền về cầu là mức độ nhu cầu của khách hàng đối với hàng
hóa và dịch vụ được sản xuất tại một nền kinh tế nhất định. Các ngành công nghiệp hỗ
trợ và liên quan được xác định qua mức độ đầu tư vào các yếu tố sản xuất tiên tiến và
qua ảnh hưởng từ các ngành công nghiệp tương tự dẫn tới sự cạnh tranh cả trong nước
và quốc tế của các ngành. Với chiến lược, cấu trúc và tính cạnh tranh doanh nghiệp,
Porter nêu lên rằng đó là các điều kiện trong một quốc gia, giải thích cách các doanh
nghiệp thành lập, quản lý, tổ chức và được kiểm soát, và những điều kiện này sẽ quyết
định tính cạnh tranh trong nước. Porter khẳng định, các đối thủ trong nước và việc tìm
kiếm lợi thế cạnh tranh trong quốc gia sẽ thúc đẩy các tổ chức, doanh nghiệp có cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status