Địa vị pháp lý của thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh bắc ninh - Pdf 66

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ
HỘI

NGUYỄN THỊ MINH
HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH
SỰ

HÀ NỘI, 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT
NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ MINH
HẠNH

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH BẮC NINH

Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình

THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI
TỈNH BẮC NINH.......................................................................................... 36
2.1. Thực tiễn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Bắc Ninh ........... 36
2.2. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện địa vị pháp
lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và nguyên nhân .. 41
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỊA VỊ
PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ........................................................................................................ 58
3.1. Yêu cầu nâng cao địa vị pháp lý của thẩm phán trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự .................................................................................... 58
3.2. Các giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự ............................................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 76


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐXX

Hội đồng xét xử

KSV

Kiểm sát viên

TAND

Tòa án nhân dân

đến năm 2020” đã nêu rõ nhiệm vụ: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định
bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương
tiện làm việc; trong đó xác định toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động
trọng tâm”[05]. Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định “TAND là cơ quan xét xử
của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Tòa án nhân dân
có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân” [20]. Tòa án thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua đội
ngũ Thẩm phán – là một trong số những người tham gia tố tụng giữ vai trò then
chốt trong quá trình cải cách tư pháp nói chung và thực hiện các mục tiêu của Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020” nói riêng.
Thẩm phán chính là những người đại diện cho Tòa án để thực hiện các chức
năng nêu trên. Họ có vị trí, vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong các vụ án hình sự,
vai trò của Thẩm phán xét xử được thể hiện rõ nét nhất. Thẩm phán với tư cách là
người đại diện cho Nhà nước, họ được pháp luật quy định quyền ban hành các quyết
định công nhận, hướng dẫn và quyết định các vấn đề có liên quan đến quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để từ đó, qua các chứng cứ chứng
minh, sự thật khách quan của vụ án được đưa ra làm rõ. Trên cơ sở tranh tụng khách
quan, Hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ áp dụng pháp luật một cách đúng đắn để đưa ra
phán quyết hợp tình, hợp lý, công minh.
Từ khi các Tòa án được hình thành và phát triển đến nay, đội ngũ Thẩm phán
nước ta đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình. Tuy nhiên Nghị
quyết 49 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “Công tác tư pháp nước ta còn bộc lộ nhiều hạn

2


chế. Đội ngũ Thẩm phán xét xử còn thiếu, nhất là ở các toà án cấp huyện; một số
không ít các Thẩm phán chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, thiếu

Lê Cảm, và TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên, Nxb ĐHQGHN,
2004;


- Thể chế tư pháp trong Nhà nước pháp quyền của tập thể tác giả do
PGS.TS.Nguyễn Đăng Dung chủ biên. Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005.
Ngoài ra còn có các bài viết của nhiều tác giả liên quan đến đội ngũ Thẩm phán
được công bố trên các tạp chí chuyên ngành luật học và tại các hội thảo khoa học:
- Bài viết Tư duy về quyền tư pháp: thực trạng và tiếp tục đổi mới được đăng
trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự
nghiệp phát triển đất nước”, Viện hàn lâm hoa học xã hội Việt Nam (2019), Hà Nội
– 09 – 8 – 2019 của PGS. TS Trần Văn Độ.
- Bài viết “Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu sửa đổi Luật tổ chức Tòa án nhân
dân” của PGS. TS Trần Văn Độ đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Viện
nghiên cứu lập pháp Ủy ban thường vụ Quốc hội số 20/2014.
- Bài viết “Tư duy về xét xử” được đăng trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học
“Tiếp tục đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước”, Viện hàn
lâm hoa học xã hội Việt Nam (2019), Hà Nội của TS. Phạm Minh Tuyên.
- Bài viết “Tiếp tục đổi mới tư duy về tư pháp trong sự vận động và phát triển
của xã hội Việt Nam” được đăng trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tiếp tục
đổi mới tư duy pháp lý phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước”, Viện hàn lâm hoa
học xã hội Việt Nam (2019), Hà Nội – 09 – 8 – 2019 của PGS. TS Nguyễn Tất Viễn.
Có thể nói, qua nghiên cứu, khảo sát nội dung các sách chuyên khảo, các luận
án, các bài báo khoa học đã công bố ở Việt nam trong thời gian qua đã lý giải một
số vấn đề khá sâu sắc về chế định Thẩm phán, và đề ra một số giải pháp cho việc
tăng cường địa vị pháp lý của Thẩm phán. Nhưng trong điều kiện thực tiễn hiện nay
đã phát sinh nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và cần được tổng kết rõ, do vậy
luận văn này nghiên cứu là không trùng lặp bởi lẽ: luận văn đi sâu nghiên cứu cơ sở
lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, góp phần nâng cao hiệu

Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2019.
5. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp.


Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp nghiên cứu tại bàn thông qua
nghiên cứu văn bản, tài liệu; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống
kê và khảo sát thực tiễn để giải quyết những vấn đề mà Luận văn đặt ra.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đi sâu nghiên cứu có hệ thống trên cơ sở lý
luận và thực tiễn về hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự tại tỉnh Bắc Ninh. Do đó luận văn bao hàm những ý nghĩa sau:
* Ý nghĩa lý luận:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật TTHS về
địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về lý luận để đề xuất một số vấn đề cần quan
tâm với các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 đúng với mục tiêu mà Đảng ta đã đặt ra.
* Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu thực tế việc thực hiện quy định của
pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại các
Tòa án tỉnh Bắc Ninh để đưa ra các giải pháp tăng cường địa vị pháp lý của Thẩm
phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai
đoạn hiện nay, luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự của Thẩm phán tỉnh Bắc Ninh nói riêng và của ngành Tòa án nói
chung.
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
các cán bộ đang làm công tác tại Tòa án, nhất là các Thẩm phán được phân công giải
quyết án hình sự sơ thẩm. Ngoài ra, luận văn còn có thể sử dụng trong việc giảng
dạy, nghiên cứu tại các trường, các cơ sở có đào tạo chuyên ngành Luật Hình sự.

này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử.
Thẩm phán là một chức danh tư pháp, nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam tham gia vào hoạt động xét xử. Hiện nay, quá trình TTHS Việt
Nam được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, với nhiều cơ quan tiến hành tố
tụng khác nhau, mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau. Mỗi cơ
quan tiến hành tố tụng được xác lập quyền và nghĩa vụ thông qua các chủ thể khác
nhau gọi là những người tiến hành tố tụng. TAND là một trong những cơ quan tiến
hành tố tụng có vị trí và vai trò quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc của quá
trình tố tụng. Trong TAND, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để
thực thi nhiệm vụ tố tụng của Tòa án.
Ở nước ta, từ năm 2002, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm TAND đã ghi
nhận Thẩm phán là một chức danh tư pháp mà trước đó về mặt pháp lý Thẩm phán


chỉ được coi là một chức vụ. Qui định này đánh dấu một bước ngoặt lớn về nhận
thức để xây dựng đội ngũ Thẩm phán chuyên nghiệp, đáp ứng các yêu cầu của hoạt
động xét xử, nhất là xét xử các vụ án hình sự. Mặc dù chưa có văn bản pháp luật
nào của Nhà nước quy định cụ thể về khái niệm chức danh tư pháp, nhưng trên thực
tế có quan điểm cho rằng những người nào trực tiếp thực hiện quyền lực tư pháp thì
mới là chức danh tư pháp. Vì vậy có thể hiểu chức danh tư pháp bao gồm Điều tra
viên, Kiểm sát viên (KSV), Thẩm phán, Thư ký Toà án, Hội thẩm. GS. TS Võ
Khánh Vinh cho rằng chức danh tư pháp bao gồm những người thực hiện nhiệm vụ
trong các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) được đào tạo kỹ
năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xưng,
được bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp đứng đầy đủ các tiêu chuẩn
và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật [42, tr.5]. Trong các chức danh tư
pháp thì Thẩm phán được xác định là một chức danh tư pháp quan trọng và có ý
nghĩa quyết định đến việc thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán (hoặc cùng với Hội
thẩm) nhân danh Nhà nước để đưa ra phán quyết và khi bản án có hiệu lực pháp luật
thì tất cả cơ quan, tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành, kể cả những cơ

nhân dân hướng tới sau một vụ án đó là một phán quyết thấu tình đạt lý, đảm bảo
tính đúng đắn của bản án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội.
Phán quyết đó còn mang tính giáo dục ý thức pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Chính vì thế hoạt động xét xử của Thẩm phán được toàn xã hội giám sát. Nguyên
tắc “Toà án xét xử công khai, khi xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân”
chính là sự giám sát ở bên trong phiên toà.
- Thứ ba là hoạt động này đòi hỏi Thẩm phán phải là một con người toàn
diện, bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, vô tư khách quan. Đây
không những là đặc thù nghề nghiệp của người Thẩm phán mà còn là các tiêu chuẩn
mà pháp luật đặt ra đối với người Thẩm phán hiện nay. Chỉ có thể có kiến thức sâu
rộng trên nhiều lĩnh vực, luôn đấu tranh cho sự công bằng vô tư, một tâm hồn trong
sáng và một bản lĩnh vững vàng thì nghề Thẩm phán và người Thẩm phán mới tạo
dựng được sự tin tưởng và tôn kính. Bởi lẽ cần thiết có một chuẩn mực lý tưởng
được xã hội thừa nhận, nắm giữ cán cân công lý để điều chỉnh xã hội đi đúng
hướng của nó.


Người Thẩm phán phải bênh vực cho người bị hại, không thiên vị hay dao động ý
chí trước bất kỳ sự việc nào. Tất cả những yêu cầu trên sẽ góp phần tạo dựng nên
hình ảnh một nghề biểu tượng cho sự khát khao công lý.
- Thứ tư là hoạt động xét xử của Thẩm phán tuân theo một trình tự tố tụng
chặt chẽ do pháp luật quy định. Phán quyết của Thẩm phán có liên quan trực tiếp tới
sinh mạng chính trị, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức có liên quan. Để bảo
đảm phán quyết đó thấu tình, đạt lý thì hoạt động xét xử phải tuân theo một trình tự
tố tụng chặt chẽ. Việc quy định như vậy tránh sự tuỳ tiện, lạm quyền, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vi phạm các quy định của pháp luật tố
tụng, bản án dù có hiệu lực pháp luật cũng sẽ được Toà án cấp trên xem xét lại theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Từ các phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa khái niệm Thẩm phán như
sau: Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm

Chức năng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ thời điểm Tòa án thụ lý
vụ án, sau đó Tòa án thực hiện các công việc chuẩn bị xét xử, khi có đủ điều kiện
thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm: xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
là xét xử với tính chất xét xử lần đầu, toàn diện, đầy đủ toàn bộ các vấn đề của vụ
án, thể hiện qua các hành vi tố tụng từ thời điểm tòa án nhận hồ sơ, thụ lý vụ án
cho đến khi HĐXX tuyên án và bế mạc phiên tòa với mục đích cuối cùng là giải
quyết triệt để một vụ án.
1.1.1.3. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự
Theo từ điển Luật học (2006), Nxb Tư pháp, Hà Nội thì địa vị pháp lý của
chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với chủ thể pháp
luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Là sự thể hiện thành một tổng thể
các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả
năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý có thể
phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời có thể xem xét
vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật.


Từ những phân tích trên về khái niệm Thẩm phán và khái niệm xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự, ta có thể rút ra khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán là tổng
thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý của
Thẩm phán khi tiến hành các hành vi tố tụng được pháp luật quy định.
Từ khái niệm trên, chúng ta có thể nhận thấy, nội hàm địa vị pháp lý của
Thẩm phán trong TTHS được thể hiện và phản ánh ở những phương diện:
- Các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò của Thẩm phán trong TTHS.
- Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm
của Thẩm phán trong TTHS.

1.1.2. Cơ sở xác định địa vị của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình

hạn khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự” [34]. Như vậy có thể thấy rõ,
thực hiện chức năng xét xử vụ án hình sự, nhiệm vụ đầu tiên đặt ra đối với Tòa án
đó chính là “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân” và để thực hiện nhiệm vụ này, pháp luật đã quy định trao cho Tòa
án “các quyền” mà không cơ quan, tổ chức nào có được và chỉ có Tòa án mới có
được mà thôi. Thông qua việc thực hiện các quyền này, Tòa án nhân danh Nhà nước
ra bản án kết luận bị cáo có tội hay không có tội và áp dụng các biện pháp theo quy
định của pháp luật.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, Đảng ta đã
ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến
lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” trong đó đã đề ra mục tiêu “Xây dựng nền tư
pháp trong sạch…; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến
hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [5]. Như vậy có thể nói, Tòa án được xác định là
trung tâm trong quá trình cải cách tư pháp bởi Tòa án có vai trò đặc biệt quan trọng,
phán quyết của Tòa thể hiện kết quả cuối cùng của quá trình tố tụng. Tòa án là nơi
thể hiện sâu sắc nhất bản chất của Nhà nước và nền công lý, cũng là công cụ bảo vệ
công lý, công bằng xã hội.
1.1.2.2. Các nguyên tắc hoạt động của Thẩm phán trong xét xử vụ án hình sự
* Nguyên tắc suy đoán vô tội
Nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện tại Hiến pháp năm


2013: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh
theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật”[20, Điều 31, Khoản 1, tr.20] và tại Bộ luật TTHS: “Không ai có thể bị coi là
có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật”[20, Điều 9, tr.12].
Theo đó, nội dung cơ bản và quan trọng nhất của nguyên tắc này được hiểu:
bị can, bị cáo phải được coi là không có tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo đó chưa

căn cứ vào các quy định của pháp luật, căn cứ vào các chứng cứ hợp pháp để xét xử
và tuyên bản án trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Bất cứ các cơ quan, tổ
chức, cá nhân nào cũng không được can thiệp, chỉ đạo, định hướng Thẩm phán và
Hội thẩm khi xét xử.
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền quyết định bị cáo là có tội hay không có
tội thông qua hoạt động xét xử. Khi xét xử vụ án hình sự, HĐXX phải xem xét,
thẩm tra, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác của vụ án một cách thận trọng, tỉ
mỉ, khoa học, toàn diện, kể cả chứng cứ có trong hồ sơ và chứng cứ tại phiên tòa,
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất ký
ý kiến của ai. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp hoặc tác động
vào các thành viên của HĐXX để ép họ phải xét xử vụ án theo ý chủ quan của
mình. Mọi hành động can thiệp dưới dù bằng hình thức nào cũng bị coi là vi phạm.
Chỉ có các thành viên HĐXX cùng với kết quả điều tra tại phiên tòa mới có quyền
quyết định những vấn đề liên quan của vụ án. Từng thành viên HĐXX xét bằng khả
năng và niềm tin của bản thân cảm nhận về vụ án và căn cứ theo quy định của pháp
luật để đưa ra ý kiến của mình về vụ án. Kết quả xem xét của HĐXX được lấy theo
ý kiến đa số của thành viên. Như vậy, tại phòng nghị án từng thành viên của HĐXX
có quyền độc lập suy nghĩ, đánh giá sự việc trên cơ sở pháp luật, không phụ thuộc
vào bất cứ một định kiến nào, không phụ thuộc vào ý kiến của các thành viên khác.
Từ quyết định độc lập của từng thành viên để đi đến quyết định của tập thể HĐXX.
Nguyên tắc độc lập khi xét xử còn thể hiện trong quan hệ giữa các cấp xét
xử. Thực tế Tòa án cấp trên chỉ đạo Tòa án cấp dưới về chuyên môn, nghiệp vụ, bố
trí cấp ngân sách hoạt động hàng năm…. Tuy nhiên, để đảm bảo nguyên tắc độc lập
khi xét xử, cần tách bạch rõ từng mối quan hệ trên. Sự hướng dẫn công tác xét xử
của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới là hết sức cần thiết, bảo đảm cho việc


áp dụng thống nhất pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án cấp trên không quyết định trước là
Tòa án cấp dưới phải xét xử một vụ án như thế nào mà Tòa án cấp trên chỉ hướng
dẫn Tòa án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử.

nhiệm vụ của mình.
* Mối quan hệ bên trong Tòa án
Mối quan hệ bên trong là các mối quan hệ giữa Thẩm phán với lãnh đạo, với
các Thẩm phán khác, quan hệ với Thư ký và các cán bộ khác của Toà án. Tùy theo
với từng chủ thể khác nhau, Thẩm phán có những vị trí, vai trò khác nhau.
- Quan hệ giữa Thẩm phán với lãnh đạo Toà án:
Mối quan hệ giữa Thẩm phán và lãnh đạo Tòa án vừa thể hiện tính chất của
mối quan hệ hành chính, vừa thể hiện tính chất của mối quan hệ tố tụng.
Lãnh đạo Tòa án bao gồm Chánh án, Phó Chánh án là những người lãnh đạo,
quản lý mọi mặt của cơ quan Toà án để đảm bảo hoạt động của Tòa án với vai trò là
một cơ quan xét xử của Nhà nước. Thẩm phán là một thành viên của cơ quan, do đó
chịu sự chi phối chung của hoạt động quản lý, điều hành của Chánh án, Phó Chánh
án. Quan hệ chi phối này thể hiện trong mối quan hệ hành chính, nghĩa là lãnh đạo
Tòa án chỉ quản lý về mặt con người, còn trong lĩnh vực xét xử Thẩm phán được
độc lập về chuyên môn trong việc áp dụng pháp luật, Chánh án và Phó Chánh án
không được can thiệp vào.
Mối quan hệ tố tụng giữa lãnh đạo và Thẩm phán chỉ thể hiện trong một số
phạm vi nhất định như: Chánh án phân công Thẩm phán giải quyết, xét xử vụ án
hình sự; Quyết định thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên tòa; Ra quyết định thi
hành án, hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, quyết
định xóa án tích đối với những bản án mà Thẩm phán đã xét xử... Khi Thẩm phán
được Chánh án giao hồ sơ vụ án để giải quyết, Thẩm phán phải nghiên cứu và đề
xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chánh án để Chánh án giải quyết như việc
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định chuyển vụ án nếu vụ án
không thuộc thẩm quyền giải quyết… Trong các quan hệ này, Thẩm phán buộc phải
chấp hành các quyết định của lãnh đạo Tòa án.
Trường hợp Thẩm phán đồng thời là Chánh án hoặc Phó Chánh án thì người




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status