VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG TUYẾN
TRANH LUẬN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG TUYẾN
TRANH LUẬN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN TRUNG THÀNH
TRANH LUẬN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ .......................................................................................... 51
3.1. Yêu cầu tăng cường chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
sơ thẩm vụ án hình sự ....................................................................................... 51
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
sơ thẩm vụ án hình sự ....................................................................................... 56
KẾT LUẬN .................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 75
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
Bộ luật Tố tụng hình sự
BLHS
Bộ luật Hình sự
CQĐT
Cơ quan điều tra
CQTHTT
Cơ quan tiến hành tố tụng
HĐXX
VKS
Viện kiểm sát
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án
Bảng 2.1
nhân dân hai cấp tỉnh Bình Thuận từ năm 2012
33
đến năm 2016
Số lượng vụ án và tỷ lệ Luật sư tham gia phiên tòa
pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW). Thực hiện chủ trương trên, ngày
06/4/2016 Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số 09/CTVKSTC về “Tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh luận của
KSV tại phiên tòa”, theo đó, trong những năm qua, ngành KSND đã thực hiện
nhiều giải pháp tích cực nhằm tạo sự chuyển biến trong hoạt động tranh luận
của KSV tại các phiên tòa hình sự, một mặt bảo vệ quan điểm truy tố của
Viện kiểm sát, mặt khác đảm bảo việc truy tố, xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, hạn chế oan, sai và bỏ lọt tội phạm [41].
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp, BLTTHS 2003 đã
quy định cụ thể và đầy đủ hơn về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ
thẩm (từ Điều 217 đến 221). Vì vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên
1
toà nói chung và của KSV nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, góp
phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Tuy nhiên, thực tiễn xét xử các vụ án hình sự những năm gần đây cho
thấy chất luợng, hiệu quả xét xử nói chung và hoạt động tranh luận tại các
phiên toà hình sự nói riêng chưa cao, còn nhiều bất cập về quy định của pháp
luật, hạn chế trong hoạt động tranh luận của KSV, chưa đáp ứng yêu cầu cải
cách tư pháp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Tình trạng này do nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan khác nhau như BLTTHS 2003 đã bộc lộ nhiều
hạn chế, bất cập; các quy định về trình tự, thủ tục tranh luận tại phiên toà
không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia tranh luận;
nhận thức về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chưa đầy
đủ; kỹ năng của các chủ thể tham gia tranh luận còn nhiều hạn chế, tinh thần
trách nhiệm chưa cao.
Với những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Tranh luận của Kiểm
sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Bình Thuận”
để nghiên cứu làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
tư pháp (năm 2003). Nội dung đề tài đã làm rõ các vấn đề lý luận có liên quan
đến tranh luận tại phiên tòa. Đánh giá đúng thực trạng tranh luận và đề ra giải
pháp nhằm mở rộng tranh luận tại phiên tòa, định hướng cho việc xây dựng
và thực hiện các chương trình đào tạo chức danh tư pháp ở Việt Nam. Đề tài
khoa học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới thủ tục tranh luận tại
phiên tòa” của Viện KSND tối cao (năm 2004). Nội dung đề tài đã chỉ ra một
số vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống tranh luận qua phương pháp so sánh với
hệ thống TTHS thẩm vấn; chỉ ra những quy định trong BLTTHS 2003 cần
sửa đổi bổ sung để đáp ứng yêu cầu tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự.
Tác phẩm “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” của Tiến sĩ Dương Thanh Biểu,
3
Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2007. Nội dung tác phẩm viết về những vấn đề lý
luận, vận dụng kiến thức pháp luật, các trình tự, nội dung liên quan đến tranh
luận tại phiên tòa sơ thẩm, đã nêu lên được những tồn tại, thiếu sót của KSV
trong việc tranh luận tại phiên tòa. Đề tài khoa học “Chuyên đề tranh luận và
những giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận của KSV trong xét xử hình
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của Viện KSND tối cao (năm 2014).
Nội dung của đề tài đã làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến tranh luận tại
phiên tòa, đánh giá thực trạng hoạt động tranh luận của KSV và đề ra giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh luận của KSV.
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên báo, tạp chí như: “Bảo đảm
quyền của bị can, bị cáo trong phiên tòa mở rộng tranh luận” của PGS.TS
Nguyễn Văn Huyên, đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 08/2003;
“Bản chất của tranh luận tại phiên tòa” của PGS.TS Trần Văn Độ, đăng trên
Tạp chí Khoa học pháp lý số 4/2004; “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất
lượng tranh luận trong phiên tòa hình sự” của tác giả Nguyễn Kim Chi, đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 191/2011; “Vấn đề tranh tụng và tăng
cường tranh tụng trong Tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp” của
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động tranh luận của
KSV khi THQCT tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự như: Khái niệm, đặc
điểm của tranh luận; quy định của pháp luật về tranh luận tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự.
- Phân tích, đánh giá thực trạng về hoạt động tranh luận của KSV tại
phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Bình Thuận trong 5 năm gần
nhất (từ 2012 đến 2016), qua đó chỉ ra những kết quả đạt được cũng như
những tồn tại, hạn chế trong hoạt động tranh luận của KSV tại phiên tòa.
5
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng hoạt
động tranh luận của KSV, luận văn nêu ra yêu cầu và đề xuất các giải pháp
nâng cao chất lượng tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của
pháp luật về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn hoạt
động tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh
Bình Thuận.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá vấn đề tranh luận
theo quy định của BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015; thực tiễn hoạt động
tranh luận của KSV tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Bình
Thuận, trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,
chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
Thực hiện chế độ hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật TTHS Việt Nam. Trong thủ tục xét xử sơ thẩm và xét xử phúc
thẩm vụ án hình sự đều có phần tranh luận,được nối tiếp sau khi kết thúc phần
xét hỏi và kết thúc trước khi bị cáo trình bày lời nói sau cùng.
Theo Từ điển Luật học thì: “Tranh luận tại phiên tòa hình sự là các bên
(Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng) đưa ra quan điểm về giải
quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án” [37, tr 258].
Trong phần tranh luận, dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên toà, các
chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra các chứng cứ, quan điểm, lập
luận của mình về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án để làm cơ sở cho
HĐXX đưa ra phán quyết về vụ án bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật.
Xét xử sơ thẩm là cấp xét xử lần thứ nhất do Toà án được giao thẩm
quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, mọi tài liệu chứng
cứ của vụ án do CQĐT, VKS thu thập đều được xem xét một cách công khai,
những người tham gia tố tụng được nghe trực tiếp lời khai của nhau, được
tranh luận, chất vấn những điều mà CQĐT chưa làm rõ. Xét xử sơ thẩm được
coi như là đỉnh cao của quyền tư pháp, tại phiên toà, quyền và nghĩa vụ của
người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách
công khai, đầy đủ. Việc xét xử được thực hiện một cách công bằng, khách
8
quan, có căn cứ và đúng pháp luật sẽ góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, góp
cùng quan trọng đối với quá trình xét xử vụ án. Các quan điểm khác nhau của
các bên về vụ án giúp cho HĐXX có thể xác định được đầy đủ và toàn diện
các tình tiết khách quan của vụ án để có phán quyết đúng đắn, chính xác về
các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. (2) Hoạt động tranh luận tại phiên toà
sơ thẩm vụ án hình sự được bắt đầu bằng việc KSV trình bày lời luận tội và
kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng. (3) Ý nghĩa và nội dung của tranh
luận được thể hiện một cách đầy đủ và rõ nét nhất tại phiên toà sơ thẩm.
Từ những phân tích và nhận xét nêu trên, có thể rút ra khái niệm về tranh
luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự như sau: “Tranh luận tại phiên tòa sơ
thẩmvụ án hình sựlà thủ tục bắt buộc của phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự, trong đó các chủ thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm,
lập luận của mình về các chứng cứ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ tại
phần xét hỏi và đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ
quan điểm của bên đối lập về hướng giải quyết các vấn đề trong vụ án giúp
cho HĐXX ra phán quyết về vụ án đúng pháp luật”.
Tranh luận tại phiên tòa hình sự có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất,tranh luận tại phiên tòa có sự bình đẳng giữa KSV THQCT với
bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác. Sự bình đẳng ở đây là
bình đẳng trên cơ sở quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng.
Hay nói cách khác, sự bình đẳng giữa các bên tranh tụng, không phải là sự
bình đẳng thực tế về địa vị pháp lý, hay bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như
nhau, vì bên buộc tội và bên gỡ tội thực hiện hai chức năng khác nhau trong
TTHS, nhất là tại phiên tòa. Do đó, quyền bình đẳng ở đây được hiểu là bình
10
đẳng về phương diện tố tụng khi cả hai đều có tư cách tố tụng, đều được pháp
luật quy định cho những quyền và nghĩa vụ nhất định để thực hiện chức năng
của mình. Bình đẳng trong tranh luận là một biểu hiện của tính minh bạch,
công khai và dân chủ của TTHS, đồng thời còn thể hiện bản chất dân chủ của
đơn dân sự, người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của họ) cũng tham gia
vào việc tranh luận. Những người này có các quyền và nghĩa vụ nhất định khi
tham gia tố tụng, trong đó có quyền trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình khi tham gia tranh luận.
Các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự gồm: bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của họ. So với các chủ thể khác
thuộc bên bào chữa thì bị cáo luôn là chủ thể giữ vị trí trung tâm và cũng là
chủ thể có địa vị pháp lý bất lợi nhất. Vì vậy, để bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp của chủ thể này, pháp luật đã dành cho bị cáo có quyền tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình, các CQTHTT có trách nhiệm bảo
đảm cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa theo quy định của pháp luật. Trọng
tâm nội dung tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là tranh luận giữa
KSV với bị cáo, nếu có người bào chữa thì KSV tranh luận với người bào
chữa.
Ngoài bị cáo, người bào chữa, các chủ thể khác thuộc bên bào chữa (bị
đơn dân sự, người đại diện hợp pháp hoặc người bảo vệ quyền lợi của họ)
cũng có quyền tranh luận với KSV và các chủ thể khác về các vấn đề liên
quan đến bồi thường thiệt hại hoặc các vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của mình. Tuy nhiên, vai trò của họ trong việc thực hiện chức năng bào
chữa nói chung và tranh luận tại phiên tòa hình sự nói riêng rất hạn chế.
12
Nội dung tranh luận tại phiên tòa hình sự bao gồm toàn bộ các quan
điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ
thể của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra tại phiên toà, đề nghị HĐXX
chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án. Nội dung tranh luận của
các chủ thể tại phiên toà sơ thẩm hình sự cũng xoay quanh các vấn đề cần
nội dung tranh luận, đối đáp của người bào chữa, bị cáo và những người tham
gia tố tụng khác chủ yếu tập trung vào nội dung lời luận tội của KSV trình
bày tại phiên toà.
Khi tranh luận với KSV và những người tham gia tố tụng khác, người
bào chữa đưa ra lý lẽ phân tích, đánh giá tính hợp pháp và độ tin cậy của các
chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên toà để làm cơ sở cho
các lập luận của mình và đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của mình về sự
vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, về tội danh, điều
khoản BLHS và hình phạt áp dụng, bác bỏ quan điểm của KSV và của các
chủ thể khác về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Vai trò của người bào
chữa tại phiên toà cũng như ở phần tranh luận là rất quan trọng, tại đây người
bào chữa chứng minh về sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị cáo; giúp bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của họ, thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế XHCN. Ngoài ra, sự tham gia
của Luật sư bào chữa tại phiên toà còn bảo đảm tính dân chủ, sự bình
đẳnggiữa các bên tranh tụng cũng như để mọi hành vi tố tụng phải tuân thủ
các quy định của pháp luật.
Chất lượng và hiệu quả tranh luận tại các phiên tòa sơ thẩm vụ án hình
sự còn chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: sự hoàn thiện của
pháp luật; trình độ chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần
trách nhiệm của Thẩm phán, KSV; trình độ dân trí, hiểu biết của chủ thể khác
tham gia tranh luận.
14
1.1.3. Phân biệt tranh luận với tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hình sự
Trong những năm gần đây, thuật ngữ “tranh tụng” được sử dụng khá phổ
biến trong khoa học pháp lý. Xét về khía cạnh thuật ngữ pháp lý, tranh tụng
được hiểu theo ba nội dung khác nhau: thứ nhất, được hiểu là một mô hình tố
trình tranh tụng bao gồm toàn bộ quá trình xét xử vụ án tại phiên tòa hình sự
bắt đầu từ thời điểm khai mạc phiên toà và kết thúc sau khi công bố phán
quyết của Toà án.
Như vậy, có thể khẳng định rằng “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên
tòa hình sự là các khái niệm không đồng nhất. Giữa chúng có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau, trong đó “tranh tụng tại phiên tòa” là cái chung (tổng thể) còn
“tranh luận tại phiên tòa” là cái riêng (bộ phân cấu thành). Khái niệm “tranh
tụng” có nội hàm rộng hơn, bao gồm không chỉ phần tranh luận mà cả các
phần khác của quá trình xét xử vụ án hình sự (thủ tục phiên toà, xét hỏi, nghị
án và tuyên án), còn “tranh luận” chỉ là một bộ phận cấu thành của “tranh
tụng”.
Xét về phạm vi, tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ thời điểm khai
mạc phiên tòa và kết thúc sau khi HĐXX công bố phán quyết về vụ án. Còn
tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm được bắt đầu bằng lời luận tội của KSV và
kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng.
Xét về chủ thể trong tranh tụng tại phiên tòa, tham gia và quá trình tranh
tụng tại phiên tòa gồm có bên buộc tội, bên bào chữa, HĐXX và cả những
chủ thể khác như người giám định, người phiên dịch, .... Còn chủ thể trong
tranh luận thì chỉ có bên buộc tội và bên bào chữa.
Xét về nội dung, tranh tụng bao gồm tất cả các vấn đề khác nhau cần giải
quyết trong toàn bộ quá trình xét xử vụ án hình sự (từ khi khai mạc cho đến
khi kết thúc phiên toà) như: đề nghị triệu tập thêm người làm chứng, đưa ra
16
vật chứng hoặc tài liệu mới, thay đổi thành viên HĐXX, KSV, Thư ký Tòa
án, người giám định, người phiên dịch, … (ở phần thủ tục phiên tòa); HĐXX
và các bên tham gia vào quá trình điều tra công khai (xét hỏi) nhằm kiểm tra
xác minh các chứng cứ và các tình tiết về vụ án dưới sự điều khiển của Chủ
tọa phiên toà (ở phần xét hỏi); các bên đưa ra quan điểm, lập luận của mình
sơ thẩm vụ án hình sự
Trong các chủ thể của bên buộc tội, KSV là chủ thể chính, có vai trò
trung tâm trong việc thực hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa. Tại phiên tòa
KSV thay mặt Nhà nước thực hiện quyền công tố nhằm buộc tội bị cáo ra
trước Tòa án đồng thời KSV kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt
động xét xử. Vì vậy, tranh luận và đối đáp lại ý kiến của các chủ thể khác
tham gia tranh luận tại phiên toà không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của
KSV.
Tại phiên tòa HSST, ngoài việc công bố cáo trạng và tham gia xét hỏi,
mở đầu phần tranh luận KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo
toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn và đề
xuất với HĐXX về hướng giải quyết các vấn đề cụ thể trong vụ án. Luận tội
phải hướng vào việc phân tích đánh giá các chứng cứ một cách khách quan,
toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm, hậu quả gây ra, vai trò, trách nhiệm và nhân thân của bị cáo, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để đề xuất áp dụng pháp luật và vận dụng chính
sách xử lý cho phù hợp; khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn các chứng cứ
để chứng minh bảo đảm logic và sắc bén. Phải phân tích, phê phán thủ đoạn
phạm tội của bị cáo; phân tích bác bỏ những quan điểm không phù hợp với vụ
án của những người tham gia tố tụng khác làm sáng tỏ sự thật, bảo vệ chính
sách pháp luật, thể hiện tính đấu tranh và tính thuyết phục của luận tội. Khi
phân tích bác bỏ các quan điểm không phù hợp phải viện dẫn các chứng cứ để
18
chứng minh. Phải xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền
giáo dục pháp luật góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, vi
phạm pháp luật [37].
Ngoài việc luận tội,KSV còn phải đưa ra chứng cứ, lập luận để bác bỏ ý
kiến không có căn cứ của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia