Luận văn thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự - Pdf 42

t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

MỤC LỤC

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO

Trang 1


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

CHẤT LƯỢNG LUẬN TỘI CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ

----

PHẦN MỞ ĐẦU
1 - Lý do chọn đề tài:
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trong các phiên toà
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Kiểm sát viên thực hiện hai chức năng: Thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình
sự. Hoạt động thực hành quyền công tố, trong đó có hoạt động tranh luận của
Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự bao gồm: Đối đáp với bị cáo, người
bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, trình bày lời luận tội. Trong
những năm gần đây hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm

2 - Mục đích nghiên cứu:
Trong quá trình công tác bản thân thấy được thực trạng một số Kiểm sát
viên viết bản luận tội chưa có tính thuyết phục cao, còn yếu trong quá trình tranh
tụng tại phiên tòa. Để nhằm nghiên cứu sâu những mặt tồn tại, yếu kém của
Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố đồng thời tìm ra các nguyên nhân và
giải pháp để nâng cao chất lượng luận tội, nâng cao khả năng tranh tụng của
Kiểm sát viên tại phiên tòa, giúp Hội đồng xét xử tuyên một bản án đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, không xảy ra tình trạng Tòa án tuyên không phạm tội.
Góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính trị, hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân.
3 - Phạm vi nghiên cứu:
Nêu lên những vấn đề lý luận chung, thực trạng về chất lượng luận tội của
Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự chưa đạt yêu cầu và đưa ra các giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm hình sự chứ không đi nghiên cứu chất lượng bản luận tội của Kiểm sát
viên tại phiên tòa khác và kỹ năng đối đáp tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên
tòa.
4 - Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề được nghiên cứu dựa trên các chuyên đề về nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
án hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính
trị và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020 và một số bản luận tội trên địa bàn. Ngoài ra, còn
sử dụng nhiều tài liệu khác thông qua Tạp chí Kiểm sát, các bài biết trên mạng
internet. Trong quá trình nghiên cứu đã dùng các phương pháp như: Phân tích,
đối chiếu, so sánh, liệt kê tổng hợp và Chủ nghĩa duy vật biện chứng để bài viết
được hoàn thiện hơn.
5 - Kết cấu đề tài:
Trang 3



PHẦN NỘI DUNG
Trang 4


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

I. NH ỮNG VẤ N ĐỀ LÝ LUẬ N C H UNG
1. Khái niệm về luận tội:
1.1. Chức năng, nhiệm vụ của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử các
vụ án hình sự:
Theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành thì giai đoạn xét
xử các vụ án hình sự gồm các thủ tục xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Ngoài
ra, luật còn quy định một thủ tục đặc biệt nữa, đó là thủ tục giám đốc thẩm và tái
thẩm. Trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự Viện kiểm sát có trách nhiệm:
thực hành quyền công tố và đảm bảo việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và kiểm sát việc
xét xử các vụ án hình sự nhằm đảm bảo đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời.
Theo quy định của pháp luật, trong các phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự, Kiểm sát viên thực hiện hai chức năng: Thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự. Đây là một
quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ của Kiểm sát viên. Trong hoạt động tố tụng
của mình, Kiểm sát viên phải tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân và Quy chế về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
hình sự do Viện kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành. Đồng thời Kiểm sát viên
phải nhạy bén, linh hoạt, có khả năng tư duy tổng hợp, khả năng lập luận cũng

Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học do trường Đại học Hà Nội biên
soạn thì: “Luận tội là phân tích tội trạng, đề nghị kết tội bị cáo” (trang 189).
Vậy, theo tôi “Luận tội là phân tích nguyên nhân, hình thức, mức độ, hậu quả
của hành vi phạm tội để có cơ sở áp đặt khung hình phạt (có xem xét tới tình tiết
tăng năng hay giảm nhẹ) hợp lý, đúng với thủ tục tố tụng hình sự đối với hành vi
phạm tội ấy”.
Viện Kiểm sát nhân dân nơi thụ lý hồ sơ vụ án hình sự là cơ quan có thẩm
quyền luận tội, giao cho các Kiểm sát viên làm đại diện giữ quyền công tố tại phiên
tòa xét xử vụ án hình sự ấy (tranh luận công khai tại Tòa án trong quá trình luận tội).
- Phân biệt bản luận tội với cáo trạng:
Cáo trạng: cáo trạng là văn bản tố tụng do Viện kiểm sát lập nêu lên tội
trạng của bị can dựa trên cơ sở kết quả Điều tra của cơ quan Điều tra có trong hồ
sơ vụ án. Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy
ra tội phạm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và các
tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những
tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, nhân
thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án. Cuối cùng là phần
kết luận của bản cáo trạng, phần này Kiểm sát viên phải ghi rõ tội danh và Điều
Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 2002.
Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
3
Từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học năm 1998, trang 570.
1
2

Trang 6


t


thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo
không có tội.
Khi đề xuất quan điểm đường lối giải quyết vụ án thì, Kiểm sát viên phải
nêu cụ thể về hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các biện pháp tư pháp khác
cần áp dụng.
Trang 7


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

1- Luận tội phải có tính thuyết phục, giáo dục và phòng ngừa tội
phạm:
Phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật.
Thông qua thủ tục tại phiên tòa, việc ®iều tra công khai, việc tranh luận và đặc
biệt là qua việc công bố một bản án đúng đắn, hợp lý, hợp tình, tòa án giúp cho
những người tham gia tố tụng cũng như những người tham dự phiên tòa nâng
cao hiểu biết pháp luật, củng cố lòng tin vào pháp luật để từ đó không chỉ tự
nguyện tuân thủ pháp luật, mà còn tích cực tham gia vào đấu tranh phòng chống
vi phạm pháp luật v.v… Khi một bản luận tội bảo đảm được tính căn cứ, chính
xác, khách quan và cụ thể thì bản thân nó đã có tính thuyết phục rồi. thuyết phục
ở đây là thuyết phục với Hội đồng xét xử rằng những yêu cầu buộc tội đối với bị
cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, tiếp theo là thuyết phục
đối với bên bào chữa và đối với tất cả những người có mặt tại phiên tòa 4. Thông
qua việc trích dẫn và phân tích ®iều luật về hành vi phạm tội của bị cáo đã vi
phạm, luận tội có tác dụng tuyên truyền và giáo dục pháp luật, giúp cho bị cáo và
những người tham dự phiên tòa hiểu rõ những hành vi nào là bị pháp luật ngăn
cấm. Từ đó họ tự điều chỉnh về hành vi của bản thân theo đúng quy định của

trong quá trình luận tội Kiểm sát viên phải phân tích đánh giá chứng cứ nhằm
chứng minh sự thật khách quan của vụ án, như: Có hành vi phạm tội xảy ra hay
không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác có hành vi phạm tội; Ai là
người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, lỗi cố ý hay vô ý, có
năng lực trách nhiệm hình sự hay không, mục đích động cơ phạm tội; Những
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và những đặc điểm
về nhân thân của bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra.
Trên cơ sở phân tích đánh giá chứng cứ, các chứng cứ có trong hồ sơ là do
các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và
không loại trừ việc thiếu khách quan. Đặc biệt đối với vụ án hình sự, trách nhiệm
chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; cho nên đa số các trường
hợp Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú
trọng thu thập chứng cứ gỡ tội; trong khi đó bên bào chữa (người bào chữa, bị
can, bị cáo) không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khả
năng tranh tụng của họ tại phiên tòa. Vì vậy, cho nên pháp luật tố tụng quy định
các bên tham gia tố tụng có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng,
quyền đưa ra các chứng cứ mới tại phiên tòa. Khi luận tội Kiểm sát viên cần
khẳng định nội dung và quyết định truy tố ghi trong cáo trạng là hoàn toàn đúng
hoặc có nội dung cần phải thay đổi như: thay đổi tội danh, thay đổi mức hình
phạt, khung hình phạt nhẹ hơn, rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố...
- Phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội, vai trò vị trí trách nhiệm của bị cáo:
Việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo
cần dựa trên những chứng cứ xác định về thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội,
tính chất và mức độ hậu quả tác hại do tội phạm gây ra, như:

Trang 9



Hoạt động phạm tội có tổ chức trong lĩnh vực kinh tế chủ yếu tập trung ở
các lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, cấp phát vốn, đấu thầu, quản lý đất đai,
ngân hàng, hải quan, dự án đầu tư, quản lý xuất nhập khẩu, buôn lậu, trốn thuế
và gian lận thương mại... Các hành vi tham nhũng vừa là những biểu hiện điển
hình của lọai tội phạm có tổ chức trong lĩnh vực kinh tế; vừa là những điều kiện
tốt nhất cho sự hình thành và phát triển tội phạm có tổ chức ở nước ta hiện nay.
Đáng chú ý là những đường dây chạy thầu, chạy vốn, chạy công trình, có trường
hợp sau đó bán lại ăn chia phần trăm, "lại quả"; các trường hợp lợi dụng ưu thế
Trang 10


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

hoặc cấu kết để tham nhũng trong việc xin phép đầu tư, nhất là trong các khâu
duyệt luận chứng kinh tế - kỹ thuật, luận chứng tiền khả thi và luận chứng khả
thi, cấp phép sử dụng đất, cấp phép xây dựng, khai thác tài nguyên, giải phóng
mặt bằng, tổ chức đầu thầu trong việc mua vật tư, thiết bị, công nghệ, trong quá
trình quyết toán công trình; thậm chí “chạy” chức, “chạy” quyền... đang là những
nhức nhối trong xã hội ta hiện nay. Đảng và Nhà nước Việt Nam coi tham nhũng
là một trong bốn nguy cơ đe dọa sự tồn tại của chế độ ta nếu không kịp thời đấu
tranh, ngăn chặn.
- Hậu quả tác hại về trật tự trị an xã hội: Tội phạm có tổ chức được hình
thành một cách tự nhiên, ban đầu chỉ là một nhóm nhỏ chủ yếu là những người
có quan hệ gần gũi với nhau. Tuy nhiên, do nhu cầu và hoàn cảnh xã hội mà
nhóm đó phát triển, dần dần trở thành một nhóm tội phạm với các hoạt động
phạm tội ban đầu chủ yếu chỉ để đáp ứng nhu cầu cần thiết của các thành viên.
Nhưng sau một thời gian, bằng cách này hay cách khác mà nhóm gây được ảnh

bị hại và quần chúng, hỗ trợ nhau để chạy trốn... Thành phần đối tượng trong
băng nhóm tội phạm hình sự phần lớn là những đối tượng có tiền án, tiền sự. Vì
vậy, việc khai thác, trao đổi thông tin kịp thời giữa các lực lượng nghiệp vụ trong
quá trình quản lý đối tượng có tác dụng rất lớn tới kết quả đấu tranh phòng
chống tội phạm.
Phân tích các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của bị cáo. Xác định nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh dẫn đến hành vi phạm
tội. Đối với các vụ án có nhiều bị cáo, luận tội phải phân tích đánh giá, xác định
vai trò, vị trí của từng bị cáo trong vụ án (bị cáo nào giữ vai trò chủ mưu cầm
đầu, bị cáo nào giữ vai trò đồng phạm...) sắp xếp các bị cáo theo thứ tự về vai
trò, vị trí của bị cáo đó trong vụ án. Kết luận bị cáo đã phạm tội gì, tội đó được
quy định tại điểm, khoản, Điều nào của bộ luật hình sự.
- Phân tích nh÷ng sơ hë, thiếu sót trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội
để kiến nghị phòng ngừa:
Phần lớn các hành vi phạm tội đều xuất phát từ những sơ hở thiếu sót của
các cơ quan, đơn vị trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Vì vậy luận tội phải
phân tích những sơ hỡ thiếu sót đó và có kiến nghị với các cơ quan đơn vị để
khắc phục nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm.
- Đề xuất quan điểm, đường lối xử lý vụ án:
Trên cơ sở phân tích đánh giá những chứng cứ, phân tích đánh giá tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò vị trí, trách nhiệm của bị
cáo, nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương... mà đề xuất quan
điểm đường lối xử lý vụ án. Đề nghị biện pháp giải quyết vụ án liên quan đến
quyền và lợi ích liên quan. Mỗi bên tham gia tố tụng đều nhằm mục đích bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, nội dung không thể thiếu trong
tranh tụng là các bên đề xuất ý kiến và lập luận trên cơ sở chứng cứ, quy định
của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích đó. Tùy theo tư cách tố tụng của mình
mà phạm vi xét hỏi, tranh luận, đề xuất ý kiến của mỗi người tham gia tố tụng
cũng có khác nhau: đại diện Viện kiểm sát bảo vệ cáo trạng.
Trang 12

tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi
phạm tội hoặc khi bị xét xử. Không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa
thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
Đối với những vụ án mà đối tượng bị xâm hại là người chưa thành niên,
phụ nữ thì phải chú ý vận dụng các tình tiết tăng nặng có liên quan quy định tại
khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự như điểm h (phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có
thai...). điểm n (xúi dục người chưa thành niên phạm tội ... hoặc các tình tiết định

Trang 13


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

khung quy định tại các Điều luật cụ thể, ví dụ như điểm b, c khoản 1 Điều 93;
điểm c khoản 2 Điều 103...
4. Kỹ năng xây dựng bản luận tội:
Cơ cấu bản luận tội: gồm 3 phần:
a. Phần mở đầu:
- Bắt đầu vào luận tội là câu: "Thưa Hội đồng xét xử!"
- Tiếp đó là Kiểm sát viên tự giới thiệu về mình là đại diện Viện kiểm
sát...... thực hành quyền công tố tại phiên tòa để phát biểu quan điểm của Viện
kiểm sát về đường lối xử lý vụ án.
- Nêu mục đích ý nghĩa, yêu cầu, tầm quan trọng của việc xét xử vụ án.
b. Phần nội dung:
Trình bày như phần nội dung của luận tội nêu ở điểm 2 mục II
Cần lưu ý không nhất thiết lúc nào Kiểm sát viên cũng phải viết tuần tự

Không nên viết dự thảo bản luận tội bằng hình thức gạch đầu dòng theo
kiểu đề cương. Đối với các vụ án điểm thì bản luận tội phải được Lãnh đạo đơn
vị thông qua.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phải tập trung theo dõi diễn biến phiên tòa, ghi
chép đầy đủ các ý kiến của Hội đồng xét xử, người bào chữa, bị cáo và những
người tham gia tố tụng khác, đối chiếu với hồ sơ vụ án và những chứng cứ, quan
điểm nêu trong luận tôi (dự thảo) để sửa đổi, bổ sung luận tội cho phù hợp, tránh
tình trạng tại phiên tòa có diễn biến khác nhưng Kiểm sát viên không sủa đổi, bổ
sung bản luận tội dự thảo mà vẫn đọc nguyên văn như dự thảo. Kiểm sát viên
phải tham gia tích cực khi xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa để làm rõ thêm những
chứng cứ, quan điểm được nêu trong luận tội, bảo đảm tính có căn cứ chính xác,
khách quan và cụ thể của luận tội.
Sau khi xét xử xong, Kiểm sát viên phải hoàn chỉnh dự thảo luận tội, ký
tên và lưu vào hồ sơ kiểm sát án hình sự.
Để xây dựng một bản luận tội tốt, Kiểm sát viên phải không ngừng học
tập, nghiên cứu nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật, xã hội, kinh tế… trình
độ phân tích một vấn đề, kỹ năng viết văn: câu văn phải đúng ngữ pháp, trong
sáng dễ hiểu, chữ dùng phải chính xác…
II. THỰC TRẠNG
1. Một số mặt tồn tại, thiếu sót:
- Thực hiện các Nghị quyết số 08 và 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư
pháp, năng lực tranh tụng của Kiểm sát viên từng bước được nâng lên. Tuy
nhiên, trong thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử, một số Kiểm sát viên
chưa chú trọng tổng hợp, hệ thống các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ để báo cáo đề xuất mức án phù hợp. Một số Kiểm sát viên
Trang 15


t


những thiếu sót tồn tại trong công tác thực hành quyền công tố tại phiên tòa sơ
thẩm hình sự, trong đó có phần luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
chưa được phát hiện khắc phục kịp thời.
Một bộ phận Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa chưa có
nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 16


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, một số cán bộ, Kiểm sát
viên còn bộc lộ non kém về lý luận và kinh nghiệm công tác, tinh thần trách
nhiệm chưa cao, chưa thật sự tâm huyết với nghề, còn thiếu kỹ năng tác nghiệp.
2.2 Nguyên nhân khách quan:
Lực lượng cán bộ, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, xét xử án sơ
thẩm hình sự còn thiếu. Do vậy phải dàn trải và kiêm nhiệm các khâu công tác
kiểm sát; nên không có điều kiện nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác.
Chất lượng cán bộ Kiểm sát viên tuy đã được nâng lên, nhưng trình độ
chuyên môn nghiệp vụ chưa thật sự đồng đều. Một số cán bộ tuy có kinh nghiệm
thực tiễn nhưng chưa được đào tạo cơ bản. Ngược lại cán bộ trẻ thì chưa có kinh
nghiệm, chưa được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ kiểm sát, dẫn đến những
hạn chế nhất định trong công tác chuyên môn nghiệp vụ.
Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm sát như hiện nay
chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ đổi mới, cải cách công tác tư pháp.
Chính sách tiền lương, phụ cấp của cán bộ, Kiểm sát viên còn nhiều khó khăn,
thiếu thốn. Đây là một trong số các nguyên nhân quan trọng làm cho một số cán
bộ, Kiểm sát viên chưa an tâm công tác hoặc lo lắng cho đời sống hằng ngày mà

phạm tội của bị cáo, vị trí vai trò, mức độ tham gia thực hiện hành vi phạm tội và
hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra cũng như các tình tiết tăng năng, giảm
nhẹ được áp dụng đối với từng bị cáo nguyên nhân điều kiện phạm tội để có
đường lối xử lý và mức hình phạt sát hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo,
vừa đảm bảo tính công bằng vừa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Đối với Kiểm sát viên khi được phân công thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự. nhất là những vụ án phức tạp phải tập trung
thời gian, nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung vụ án, những chứng cứ buộc
tội, chứng cứ gỡ tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của từng bị cáo để có ý
kiến đề xuất đường lối xử lý cho phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, vừa
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, vừa đảm bảo tính giáo dục, tính nhân
đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trước khi tham gia xét xử Kiểm sát viên
phải chuẩn bị đề cương xét hỏi chi tiết, dự thảo bản luận tội và dự kiến những
tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa để có biện pháp xử lý kịp thời. Tại phiên
tòa Kiểm sát viên phải chú ý lắng nghe và ghi chép đầy đủ diễn biến tại phiên
tòa, những ý kiến trình bày của bị cáo, của luật sư, những người tham gia tố
tụng. Có thái độ bình tĩnh, tranh luận khách quan, dân chủ với bị cáo, người bào
chữa, tập trung những ý kiến khác nhau với quan điểm của Viện kiểm sát, đưa ra
nhữung ý kiến, chứng cứ có tính thuyết phục để bảo vệ nội dung cáo trạng truy
tố bị cáo tại phiên tòa và chứng minh được sự thật khách quan của vụ án.
4. Một số bản luận tội cụ thể:
Vụ án 1: Đối với vụ án cướp giật tài sản do Huỳnh Trường Lộc và Hà Vũ
Hải thực hiện, vụ án được xét xử lúc 7 giờ 30 phút ngày 03/9/2009 tại Tòa án
nhân dân thị xã Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Trang 18


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên

Bị cáo Huỳnh trường Lộc là người rủ rê và trực tiếp điều khiển phương
tiện là xe Môtô biển số 60V-1523 chở phía sau là Hà Vũ Hải. Còn Hải là người
thực hành tích cực và trực tiếp giật tài sản của các bị hại.

Trang 19


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

Từ phân tích trên, tại phiên tòa ngày hôm nay căn cứ Điều 195 BLTTHS,
tôi xin rút một phần quyết định truy tố của chúng tôi theo quy định tại điểm a
khoản 2 Điều 136 là hành vi phạm tội của các bị cáo không thuộc trường hợp có
tổ chức. Mà hành vi phạm tội của các bị cáo có tình tiết định khung tăng nặng
được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 136. Chỉ trong một thời gian ngắn, ngay
trong một ngày các bị cáo đã sử dụng xe môtô là loại phương liện nguy hiểm
thực hiện liên tiếp 02 vụ cướp giật tài sản với hành vi táo bạo, liều lĩnh thể hiện ý
thức xem thường pháp luật.
Tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt ở từng lần có giá trị lớn. Cụ thể là hai
sợi dây chuyền, mà theo định giá của Hội đồng định giá tài sản thì tổng giá trị tài
sản bị chiếm đoạt là 9.948.000 đồng. Do vậy, ngoài tình tiết định khung tăng
nặng được quy định tai điểm d khoản 2 Điều 136 thì hành vi phạm tội của các bị
cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1
Điều 48 BLHS là phạm tội nhiều lần.
Bản thân các bị cáo là những thanh niên mới lớn nhưng không chịu khó
lao động, làm ăn chính đáng mà sớm hấp thụ lối sống ăn chơi, liêu lõng, chỉ
muốn hưởng thụ trên sức lao động của người khác. Hành vi phạm tội của các bị
cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản công dân mà còn có thể gây

diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng.
Vì vậy, việc Tòa án nhân dân thị xã Vị Thanh, đưa vụ án này ra xét xử
lưu động tại xã Tân Tiến ngày hôm nay là phù hợp với mong muốn của người
dân, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng, không những để xử lý nghiêm minh,
giáo dục cải tạo người phạm tội mà còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội
phạm trong xã hội.
Thưa Hội đồng xét xử, tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình
điều tra, mặc dù lúc đầu bị cáo còn quanh co, chưa thật sự thành khẩn, nhưng sau
đó bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội cơ bản phù hợp với lời khai của người
bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Thể hiện hành vi
phạm tội như sau:
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đôi từ khoảng tháng 9/2005 đến thành 10/2006 đã
giả mạo danh nghĩa là nhân viên công ty nước sạch và hợp đồng khoang cây
nước cho dân để lừa đảo và chiếm đoạt tổng số 57 hộ với số tiền là 28.990.000
đồng ở một số địa phương như: tại huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng, huyện Châu
Thành A và thị xã Vị Thanh tỉnh Hậu Giang.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vị Thanh truy tố bị cáo về tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
Thưa Hội đồng xét xử! để làm cơ sở cho hội đồng xét xử xem xét khi
quyết định hình phạt. Chúng tôi đi sâu vào phân tích nguyên nhân tính chất mức
độ gây hậu quả cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo.
Trang 21


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.


đảo liên tục 09 vụ trên nhiều địa phương. Vì vậy xét thấy theo Cáo trạng số 15
ngày 05/3/2007 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vị Thanh truy tố bị cáo theo
khoản 1 Điều 139 là chưa thỏa đáng. Vì vậy trước phiên tòa tôi đại diện cho
Trang 22


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vị Thanh chuyển khung truy tố đối với bị cáo
Nguyễn Hoàng Đôi từ khoản 1 Điều 139 BLHS lên khoản 2 Điều 139 BLHS.
Vụ án 3: Vụ án Hồ Thị Giang, sinh năm 1956
Can tội : Đánh bạc; xét xử ngày 04/11/2009
Thưa Hội đồng xét xử! Cuộc xét hỏi công khai đã kết thúc. Trước khi Hội
đồng xét xử vào nghị án tôi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã vị Thanh thực
hành quyền công tố tại phiên tòa xin phát biểu quan điểm xử lý vụ án và đưa ra
mức hình phạt đối với bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
đối với bị cáo Hồ Thị Giang can tội đánh bạc để giúp quý tòa cân nhắc trước khi
lượng hình.
Việc Tòa án nhân dân thị xã Vị Thanh đưa vụ án ra xét xử công khai ngày
hôm nay là hết sức cần thiết, nhằm giáo dục người phạm tội có tính năng răn đe,
phòng ngừa tội phạm.
Về nội dung vụ án đã được nêu cụ thể trong bản Cáo trạng mà tôi đã thông
qua ở phần trên với các tài liệu, chứng cứ và tang vật chứng có trong hồ sơ.
Thông qua phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa đã có đủ bằng chứng để khẳng
định việc Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vị Thanh truy tố bị cáo về tội danh
Đánh bạc là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại
phiên tòa hôm nay không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án. Vì

cáo có thái độ thật thà khai báo, ăn năn hối cải khi sự việc xảy ra. Vì vậy cần
xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 Bộ
luật hình sự.
Bị cáo phạm tội trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng, vì vậy
không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục răn đe bị cáo.
Mặt khác bị cáo cũng đã tự nộp phần thu lợi bất chính để khắc phục hậu quả với
số tiền 900.000 đồng.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên tôi đề nghị đến hội đồng xét xử
tuyên bố bị cáo Hồ Thị Giang phạm tội đánh bạc. Áp dụng khoản 2 Điều 248;
điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 BLHS
Vụ án 4: Vụ án Huỳnh Văn Quang, sinh năm 1967
Can tội: Vi phạm quy định về Điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ, quy định tại Điều 202 BLHS. Xét xử ngày 23/4/2009 tại tòa án nhân dân thị
xã Vị Thanh.
Thưa Hội đồng xét xử! Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa tính mạng, sức khỏe
con người là vô giá, là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Tinh thần nêu trên đã
được thể hiện rõ trong đạo luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hiến pháp nước ta quy định “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” và được
cụ thể hóa bằng chương XII BLHS quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Do đó bất kể kẻ phạm tội là ai, không
Trang 24


t

Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên
tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự.

phân biệt địa vị, thành phần giai cấp, có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến sức

và điều khiển xe trở về thị xã Vị Thanh. Khi về đến nơi làm việc của mình tại thị
xã vị Thanh Quang tiếp tục nằm ngủ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Quang thức
Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status