VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN BẢO NGỌC
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành
: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM MẠNH HÙNG
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học
của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm
bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học
của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình
nào khác.
thẩm vụ án hình sự. ............................................................................................. 50
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 62
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
BLHS
:Bộ luật hình sự
HĐXX
: Hội đồng xét xử
KSHĐTP
: Kiểm sát hoạt động tư pháp
TTHS
: Tố tụng hình sự
THTT
: Tiến hành tố tụng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát ngày
26/7/1960, đánh dấu sự ra đời của VKSND - cơ quan Nhà nước với chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo vệ Nhà nước của dân, do dân,
vì dân. Cùng với đó, sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân đã góp phần không
nhỏ vào việc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh phòng chống tội
phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Phát triển qua các giai đoạn, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân đã
phát huy được vai trò xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Đến nay trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước ta, Viện kiểm sát
nhân dân là một trong bốn cơ quan được quy định trong Hiến pháp thực hiện
quyền lực của Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
luôn được quan tâm nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách toàn diện của đất nước,
đặc biệt là công cuộc cải cách hệ thống tư pháp. Một trong những mục tiêu
hướng tới trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước của Đảng
ta tại Đại hội lần thứ XI là: “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thật sự là của
nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo… Đẩy mạnh việc
thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư
pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con
người”. Đảng ta cũng khẳng định: “Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với
hệ thống tổ chức tòa án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện kiểm sát nhân
dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các
1
hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra,
gắn công tố với hoạt động điều tra”.
gia Hà Nội, 2009).
- “Viện kiểm sát nhân dân đổi mới toàn diện và đồng bộ để triển khai
thực hiện tốt các quy định của pháp luật về chức năng, nhiệm vụ của Viện
kiểm sát trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính” của tác giả Nguyễn Thị
Thủy Khiêm đăng trên Tạp chí kiểm sát số 13 (tháng 7/2011)
- Luận văn Thạc sĩ: “ Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong
giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại Hải Phòng – một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung (Khoa Luật – Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2012).
- Luận văn Thạc sĩ: “ Vị trí, vai trò và chức năng của Viện kiểm sát
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” của tác giả Lê Thắng ( Khoa
luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012).
- Bài viết: “Vấn đề tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự”
trên Báo điện tử Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang của tác giả Huỳnh
Thế Anh, ngày 25/9/2013.
Ngoài ra, còn có các bài viết của nhiều tác giả khác đã được đăng
trên các báo và tạp chí chuyên ngành, các báo cáo tổng kết công tác, các
văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề của VKSNDTC qua các
năm, các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ… Các công trình nghiên
cứu, bài viết trước đây hầu như ít đi sâu vào tìm hiểu về việc kiểm sát
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Như vậy, đề tài không trùng với
bất cứ đề tài nào đã được công bố.
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm của Đảng và Nhà nước, cùng với
những quy định của pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự; hoạt động của VKSND nói chung và VKSND tỉnh Lạng Sơn nói
năm 2012 đến năm 2016) trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta đối với chức năng kiểm sát công tác xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp
như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch, quy nạp, thống kê.
Các phương pháp này luôn hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ để
làm rõ những vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về phương diện lý luận và thực tiễn liên quan đến chức năng kiểm sát
hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, kết quả của việc nghiên cứu luận văn
có ý nghĩa quan trọng, đó là làm rõ được những hạn chế tồn tại khi thực hiện
hoạt động này, đồng thời từ đây đề xuất những giải pháp giúp nâng cao hơn
hiệu quả thực hiện trong thực tiễn. Luận văn có thể được sử dụng là nguồn tài
liệu nghiên cứu, tham khảo phục vụ công tác thực tiễn ở địa phương.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung của luận văn gồm có 03 chương:
5
Chương 1: Khái quát chung về kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự.
Chương 2: Quy định của BLTTHS năm 2003 về kiểm sát hoạt động xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiểm sát hoạt động
xét xử sơ thẩm vụ án hình và một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả của
7
học lý giải: "Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án
có thẩm quyền" [30, tr. 780]. Đây là khái niệm mang tính khái quát chung cho
cả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự; v.v… và đã phản ánh được nét
đặc trưng của xét xử sơ thẩm là "lần đầu tiên" một vụ án được đưa ra xét xử
và do "một Tòa án có thẩm quyền" tiến hành.
Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh định nghĩa: "Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là xét xử ở cấp thứ nhất do
tòa án có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự"
[27, tr. 451]. Cũng theo như định nghĩa, thì đây là xét xử vụ án ở cấp đầu tiên,
bản án, quyết định của tòa án chưa có hiệu lực pháp luật ngay và bản án,
quyết định đó có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong
thời hạn đã được quy định trong luật hiện hành.
Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định
nghĩa: "Xét xử sơ thẩm là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó tòa án có
thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng
theo quy định của pháp luật" [28, tr. 345] Định nghĩa này đã xác định xét xử
sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét xử của tòa án dưới hình
thức phiên tòa xem xét và giải quyết vụ án hình sự, có nghĩa là tòa án trên cơ
sở bản cáo trạng và các chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa đưa ra phán
quyết về toàn bộ những vấn đề của vụ án. Đây là điểm mấu chốt phân biệt xét
xử sơ thẩm với xét xử phúc thẩm. Phiên tòa sơ thẩm chỉ có thể tiến hành khi
có quyết định truy tố của VKS và có đủ điều kiện để tiến hành phiên tòa.
Qua phân tích những định nghĩa nêu trên, ta thấy xét xử sơ thẩm là giai
đoạn trung tâm và quan trọng trong TTHS, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, các nhân. Kết hợp nội dung các
9
quả là một bản án, quyết định công minh, có cơ sở căn cứ và đúng pháp luật
hiện hành.
Thứ tư, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự góp phần duy trì, bảo vệ công lý,
khôi phục, giữ gìn sự công bằng, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kiểm sát xét xử vụ án hình sự là tổng hợp các quyền năng pháp lý của
Viện kiểm sát có nội dung kiểm tra, giám sát hoạt động tuân theo pháp luật
của các chủ thể tham gia hoạt động TTHS theo các thủ tục sơ thẩm, phúc
thẩm nhằm bảo đảm cho việc xét xử của Tòa án đúng pháp luật, nghiêm minh
và kịp thời.
Trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án, VKS còn là
cơ quan giám sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử đối với các tư cách
THTT và tham gia xét xử. Đây là chức năng Kiểm sát hoạt động tư pháp
trong xét xử vụ án hình sự, có ý nghĩa quan trọng bởi nó giúp đảm bảo tuân
thủ pháp chế trong TTHS. Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta
kiểm sát hoạt động tư pháp chỉ do một chủ thể tiến hành đó là Việm kiểm sát.
Khi đó, kiểm sát viên là người thực hiện trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt
động của Viện kiểm sát được ghi nhận trong BLTTHS và Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân.
Kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động của Viện
kiểm sát nhằm đảm bảo cho quá trình xét xử được thực hiện đúng pháp luật
các bản án, các quyết định của tòa án cấp sơ thẩm được đúng đắn, hợp pháp
và hợp hiến. Việc kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS trong hoạt động xét
xử của Tòa án cấp sơ thẩm, HĐXX và những người tham gia tố tụng giúp kịp
10
Cụ thể như sau: Đối với những người tiến hành tố tụng VKS phải đảm
bảo những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ
của mình, điều đặc biệt cần phải chú ý đến là việc áp dụng pháp luật của
những người tiến hành tố tụng bởi những quyết định của người tiến hành tố
tụng ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định sự thật của vụ án. Đối với những
người tham gia tố tụng như bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc
những người đại diện hợp pháp của họ, việc kiểm sát không chỉ đảm bảo họ
được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mà còn phải chú ý đến những nội
dung yêu cầu của của họ, nếu những nội dung yêu cầu đó là đúng pháp luật
thì cần kiểm sát để những yêu cầu của họ được thực hiện đúng theo quy định
pháp luật. Đối với người làm chứng, người giám định, người phiên dịch…
việc kiểm sát cần phải đảm bảo họ thực hiện hoạt động tố tụng một cách
khách quan, công bằng, đúng pháp luật…
b) Phạm vi kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Phạm vi của công tác này bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án, kết
thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm. Giai đoạn xét xử sơ thẩm là
giai đoạn rất quan trọng. Tại giai đoạn này Tòa án không chỉ tiến hành xét xử
để đưa ra bản án mà còn có thể đưa ra các quyết định quan trọng khác như
triệu tập những người cần thiết để làm rõ bản chất vụ án, hủy bỏ, thay đổi các
biện pháp ngăn chặn mà các cơ quan khác đã áp dụng trước đó v.v... Tất cả
những quyết định đó của Tòa án đều sẽ ảnh hưởng rất lớn đến nội dung, kết
quả giải quyết vụ án, do đó, để đảm bảo các quyết định của Tòa án được đưa
ra và thực hiện đúng pháp luật thì VKS sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án và bên cạnh đó là sự tuân thủ và thực hiện
pháp luật của những người tham gia tố tụng xét xử khác.
12
sẽ ban hành kiến nghị, kháng nghị đối với những quyết định, bản án của Tòa
án nhằm khắc phục những sai phạm này
d) Hoạt động kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự do VKS tiến hành
trên cơ sở và phạm vi quy định của pháp luật
VKS là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát các quyết định tố tụng
trong các giai đoạn THTT nói chung và giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự nói riêng. Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức
năng của VKS, được quy định trong Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở kế thừa
các bản Hiến pháp trước đó và được khẳng định lại trong Hiến pháp năm
2013 (Điều 107). Các quy định trong Hiến pháp; các đạo luật khác như Luật
tổ chức VKSND, BLTTHS, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính;
các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp… đã bảo đảm cho VKS có khả
năng giám sát toàn bộ quá trình tố tụng, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện
quyền tư pháp. Đây cũng là cơ sở quan trọng để phát hiện vi phạm trong hoạt
động tư pháp nói chung và trong hoạt động xét xử sơ thẩm nói riêng.
Hoạt động kiểm sát xét xử của VKS không cản trở hoạt động bình
thường của Tòa án, cũng như không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập
xét xử của cơ quan này. Theo qui định của pháp luật, hoạt động kiểm sát xét
xử được tiến hành song song với quá trình xét xử của Tòa án. Khi bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật, VKS có nhiệm vụ kiểm sát bản án, quyết
định củaTòa án, nếu phát hiện vi phạm thì kiến nghị hoặc kháng nghị theo qui
định của pháp luật. VKS thực hiện quyền hạn của mình để xem xét lại tính
hợp pháp và tính có căn cứ của các hành vi tố tụng; các phán quyết của Tòa
án. Quyền hạn của VKS chủ yếu mang tính "khuyến nghị", "yêu cầu" mà
không có ý nghĩa trực tiếp làm thay đổi các hành vi tố tụng cũng như phán
quyết của Tòa án.
14
nhân dân.
Theo Hiến pháp 1959, ngoài chức năng Công tố, Viện kiểm sát nhân
dân còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ
quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên
cơ quan nhà nước và công dân. Về tổ chức và hoạt động, Viện kiểm sát nhân
dân các cấp chịu sự lãnh đạo của VKSND cấp trên và sự lãnh đạo thống nhất
của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách
nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trong thời gian Quốc hội không
họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của VKSND
được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức VKSND năm 1960 quy định hệ
thống cơ quan VKSND trong bộ máy nhà nước ta, từ trung ương đến đơn vị
hành chính cấp huyện và các VKS quân sự. Điều 3 luật Tổ chức VKSND năm
1960, VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình bằng các công tác cụ
thể sau:
a. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định,
thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ và
cơ quan nhà nước địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các nhân
viên cơ quan nhà nước và công dân;
b. Điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố ra trước Tòa án
nhân dân những người phạm pháp về hình sự;
c. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan
Công an và các cơ quan điều tra khác;
d. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam, giữ của trại giam;
16
e. Khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên
quan đến lợi ích nhà nước và nhân dân.
của bằng chứng cũng như giá trị pháp lý của chúng. Quyền tuỳ nghi truy tố là
quyền đặc biệt của Công tố viên. Với tư cách là một nhân viên được bầu hoặc
được bổ nhiệm, công tố viên là người có quyền lực nhất trong hệ thống tư
pháp hình sự.
Ngoài ra, các cơ quan này còn có thêm chức năng giám sát hoạt động
điều tra và giám sát chế độ giam giữ tại các trại giam. Pháp luật Mỹ không
quy định về quyền kiểm sát xét xử đối với viện công tố. Hoạt động giám sát
tuân thủ pháp luật chỉ thể hiện trong quan hệ với cơ quan điều tra và viện
công tố không giám sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn xét xử vụ án. Lúc
này, cơ quan công tố là một bên tranh tụng thuần túy, bình đẳng với bên bào
chữa. Hoạt động giám sát tuân theo pháp luật của Viện công tố rất hạn chế mà
thay vào đó việc giám sát tuân thủ pháp luật của các bên tranh tụng và những
người tham gia phiên tòa do tòa án thực hiện.
Sở dĩ các nước phát triển như Hoa Kỳ và các nước Tây Âu, cơ quan
công tố không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật là vì đây
là những nước đã có nển tảng văn hóa pháp lý lâu đời, vững chắc nhờ cơ cấu
xã hội và Nhà nước; xã hội dân sự tiến bộ, phát triển, ổn định; năng lực tự
điều chỉnh hành vi cùng với ý thức tôn trọng pháp luật của người dân khá cao.
Bên cạnh đó, Tòa án ở Hoa Kỳ có uy thế nổi trội bởi hệ thống thông luật chủ
yếu là các án lệ nên không cần phải có một thiết chế nhà nước như Viện kiểm
sát giám sát các cơ quan tư pháp để thực hiện tốt việc tuân thủ pháp luật.
*Tại Trung Quốc
Mô hình tố tụng hình sự Trung Quốc về cơ bản là mô hình tố tụng thẩm
vấn có kết hợp với một số yếu tố của tố tụng tranh tụng. Đặc trưng điển hình
18
của mô hình tố tụng thẩm vấn của Trung Quốc là quy định cả ba cơ quan; Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có quyền thu thập chứng cứ chứng
minh tội phạm và người phạm tội. Nghi can, bị can, bị cáo có quyền nhưng
của các vụ án hình sự...
Luật tổ chức VKSND của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không
quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKS cũng như của kiểm sát viên
trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự như ở nước ta mà các văn bản pháp luật
chuyên ngành Luật TTHS sẽ quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của
VKS và kiểm sát viên trên từng trường hợp, lĩnh vực cụ thể. Trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự, VKS giám sát tính hợp pháp trong các phán quyết và
quyết định của Tòa án nhân dân, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, nếu phát hiện có vi
phạm pháp luật.
20