Báo cáo "Một số ý kiến về vấn đề hội động xét xử khởi tố vụ án hình sự " - Pdf 12



nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2004

23
Ths. Phan Thanh Mai *
rong thực tế xét xử, có những trường
hợp tại phiên toà xét xử, hội đồng xét
xử phát hiện tội phạm mới hoặc người
phạm tội mới. Luật tố tụng hình sự Việt
Nam đã quy định hội đồng xét xử có quyền
khởi tố vụ án hình sự đối với những trường
hợp này. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự của hội đồng xét xử được quy định tại
khoản 1 Điều 104 BLTTHS như sau: "Hội
đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu
cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự
nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát
hiện được tội phạm hoặc người phạm tội
mới phải điều tra". Quy định này nhằm đáp
ứng yêu cầu của công tác đấu tranh chống
tội phạm là phát hiện nhanh chóng, xử lí kịp
thời những hành vi phạm tội và người phạm
tội. Mặt khác, quyết định này cũng nhằm
khẳng định quyền năng và vị thế của hội
đồng xét xử tại phiên toà xét xử.
Theo quan điểm của chúng tôi, việc

án có hiệu lực pháp luật".
Trong trường hợp cơ quan điều tra
đình chỉ điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án
đình chỉ vụ án, vụ án đã được khởi tố trước
đó rồi và hội đồng xét xử không thể khởi tố
vụ án lại một lần nữa.
Nếu quyết định đình chỉ vụ án của viện
kiểm sát là không đúng, căn cứ vào Điều 8
T

* Giảng viên Khoa luật hình sự
Trường đại học luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
24
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2004

Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm
2002 thì: "Viện trưởng viện kiểm sát nhân
dân cấp trên có quyền rút đình chỉ hoặc
huỷ bỏ các quyết định không có căn cứ và
trái pháp luật của viện kiểm sát nhân dân
cấp dưới", viện trưởng viện kiểm sát cấp
trên có quyền huỷ bỏ quyết định đình chỉ
vụ án của viện kiểm sát cấp dưới và yêu
cầu viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định
truy tố.
Nếu quyết định đình chỉ vụ án của toà
án không có căn cứ hoặc trái pháp luật,

định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Điểm b
khoản 1 Điều 179 BLTTHS quy định:
"Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ
cho viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong
những trường hợp sau đây:
a)
b)Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm
một tội khác hoặc có đồng phạm khác".
Khi phát hiện tội phạm mới hoặc người
phạm tội mới tại phiên toà xét xử, không
phải mọi trường hợp hội đồng xét xử đều
khởi tố vụ án. Nếu tội phạm mới hoặc
người phạm tội mới có liên quan đến vụ án
đang xét xử, không thể khởi tố vụ án để
tách ra thành vụ án độc lập mà buộc phải
giải quyết trong cùng một vụ án để đảm
bảo xác định sự thật một cách khách quan,
toàn diện và đầy đủ thì hội đồng xét xử sẽ
ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ
sung. Quyết định này sẽ được thảo luận và
thông qua tại phòng nghị án theo quy định
tại khoản 2 Điều 173 BLTTHS.
Như vậy, những tội phạm mới, người
phạm tội mới mà hội đồng xét xử có thể
khởi tố chỉ còn là những tội mới hoặc
người phạm tội mới được phát hiện tại
phiên toà mà không liên quan đến vụ án
đang xét xử hoặc có liên quan nhưng có
thể tách ra để giải quyết một cách độc lập.
Để có thể khởi tố vụ án không những phải

hiệu tội phạm mà chưa cần phải xác định
đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Tuy
vậy, quyết định khởi tố vụ án vẫn phải đảm
bảo tính có căn cứ và đúng pháp luật. Để
làm được điều này, phải có quá trình kiểm
tra, xác minh các tình tiết có liên quan đến
sự việc được phát hiện, có thể là những tình
tiết rất phức tạp, liên quan đến nhiều người,
phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm
khác nhau, thậm chí phải tiến hành một số
hoạt động điều tra có tính chất cấp bách
trước khi khởi tố vụ án. Hội đồng xét xử
khó có điều kiện để đảm bảo thực hiện
những việc đó vì những lí do sau đây:
- Hội đồng xét xử không có chức năng và
khả năng tiến hành các hoạt động điều tra;
- Những tình tiết có liên quan đến sự
việc phạm tội và người phạm tội mới,
nhiều trường hợp không có trong hồ sơ vụ
án nếu tội phạm và người phạm tội chỉ
được phát hiện ngay tại phiên toà xét xử,
thông qua hoạt động xét xử của hội đồng
xét xử;
- Do bị hạn chế bởi quy định tại Điều
196 BLTTHS về giới hạn xét xử là: "Hội
đồng xét xử chỉ xét xử những bị cáo và
những hành vi theo tội danh mà viện kiểm
sát truy tố và toà án đã quyết định đưa ra
xét xử ". Vì vậy, tại phiên toà, hội đồng
xét xử ít có điều kiện để kiểm tra, xác

tố tụng của mình để giải quyết vụ án.
Để đáp ứng yêu cầu phát hiện và xử lí
nhanh chóng tội phạm và người phạm tội,
sau khi khởi tố vụ án cần phải nhanh
chóng tiến hành các hoạt động điều tra,
khám phá tội phạm. Quyết định khởi tố vụ
án là căn cứ pháp lí để tiến hành các hoạt
động điều tra nhưng ngược lại, chỉ khi các
hoạt động điều tra được nhanh chóng thực
hiện thì ý nghĩa của việc khởi tố vụ án
mới được đảm bảo.
Trong trường hợp các cơ quan khác
không phải hội đồng xét xử khởi tố vụ án,
hoạt động điều tra được tiến hành ngay sau
khi khởi tố vụ án, cho dù quyết định đó
còn phải gửi cho viện kiểm sát để kiểm sát
khởi tố. Ngay cả khi chưa xác định được
thẩm quyền điều tra thì cơ quan nào phát
hiện tội phạm cũng phải tiến hành ngay
những hoạt động điều tra cần thiết để kịp
thời thu thập chứng cứ của vụ án.
Trong trường hợp hội đồng xét xử khởi
tố vụ án hình sự, do hội đồng xét xử không
có chức năng điều tra nên không thể tự
mình tiến hành hoạt động điều tra mà phải
gửi cho viện kiểm sát để viện kiểm sát xem
xét quyết định việc điều tra (khoản 3 Điều
104 BLTTHS). Trong trường hợp quyết
định khởi tố của hội đồng xét xử không có
căn cứ thì viện kiểm sát kháng nghị lên tòa

cho việc điều tra thu thập chứng cứ.
- Trong trường hợp hội đồng xét xử
khởi tố vụ án hình sự và vụ án sau đó được
điều tra thì việc xác định thời điểm bắt đầu
để tính thời hạn điều tra chưa được luật
quy định.
Thời hạn trong tố tụng hình sự phải nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2004

27

được chấp hành một cách nghiêm chỉnh
không được vi phạm để đảm bảo việc giải
quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời và
cũng là để đảm bảo quyền dân chủ của
công dân. Vì vậy, thời hạn cần phải được
quy định cụ thể và cách tính thời hạn cũng
phải rõ ràng, hợp lí để tránh vi phạm.
Theo quy định tại Điều 97 BLTTHS thì
thời hạn điều tra được tính từ khi khởi tố
vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Cách
tính thời hạn này rõ ràng là không phù hợp
trong trường hợp hội đồng xét xử khởi tố
vụ án hình sự. Trong trường hợp hội đồng
xét xử khởi tố vụ án, thời hạn điều tra được
tính từ thời điểm nào: Thời điểm hội đồng
xét xử ra quyết định; thời điểm quyết định

mới hoặc người phạm tội mới có liên quan
đến vụ án đang xét xử và cần phải được giải
quyết trong cùng một vụ án thì hội đồng xét
xử quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ
sung (khoản 2 Điều 199 BLTTHS);
- Hội đồng xét xử có thể yêu cầu viện
kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án
(khoản1 Điều 104 BLTTHS);
- Báo tin cho cơ quan điều tra để cơ
quan điều tra giải quyết theo thủ tục chung
(khoản 2 Điều 100 BLTTHS).
Khi giải quyết theo những cách trên,
chúng ta sẽ không gặp phải các vướng mắc
như trong trường hợp hội đồng xét xử khởi
tố vụ án và chỉ cần áp dụng các quy định
chung về khởi tố vụ án.
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy
việc hội đồng xét xử khởi tố vụ án còn
mang tính hình thức, trong thực tiễn xét
xử cũng rất ít trường hợp hội đồng xét xử
khởi tố vụ án, trong khi đó có những cách
khác đơn giản và hiệu quả hơn để giải
quyết vấn đề. Vì vậy, theo chúng tôi, luật
tố tụng hình sự không nên quy định hội
đồng xét xử có thẩm quyền khởi tố vụ án
hình sự./.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status