Tài liệu Báo cáo "Một số ý kiến về sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế " - Pdf 10



nghiên cứu - trao đổi
30 - tạp chí luật học

Một số ý kiến về sửa đổi
pháp lệnh hợp đồng kinh tế

ThS. Nguyễn Thị Khế *
1. Trong nền kinh tế thị trờng, sản
phẩm làm ra là để trao đổi, mua bán, do
đó hợp đồng kinh tế có vai trò hết sức
quan trọng. Nó là hình thức pháp lí của
mối quan hệ kinh tế, quan hệ hàng hóa-
tiền tệ giữa các chủ thể kinh doanh. Hợp
đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trờng
không còn là công cụ của Nhà nớc trong
việc xây dựng và thực hiện kế hoạch nh
trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
và bao cấp nữa mà là công cụ của chính
các chủ thể kinh doanh để họ trao đổi
hàng hóa, thực hiện dịch vụ nhằm mục
đích kinh doanh. Hợp đồng kinh tế trở về
với bản chất của hợp đồng - sự thỏa thuận
của các bên trong việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trên cơ
sở tự nguyện, bình đẳng và không trái
pháp luật.
2. Để phát huy vai trò của hợp đồng
kinh tế trong nền kinh tế thị trờng, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

lệnh hợp đồng kinh tế mới phải là văn bản
kế thừa đợc những quy định thích hợp
của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế hiện hành
cũng nh của những văn bản pháp luật
khác về hợp đồng kinh tế nh tiếp tục
khẳng định nguyên tắc tự do hợp đồng,
đảm bảo quyền chủ động của các chủ thể
kinh doanh trong việc thỏa thuận nội
dung của hợp đồng nhng không đợc
trái với pháp luật. Bên cạnh đó, cần sửa
đổi các quy định không còn phù hợp với
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
của nớc ta hiện nay nh quy định về chủ
thể hợp đồng kinh tế, quy định về hình
thức của hợp đồng và cần bổ sung những
quy định mới nh các quy định về sự hình
* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học - 31

thành của hợp đồng, thời điểm hình thành
của hợp đồng, quy định về chuyển quyền
sở hữu và về việc gánh chịu rủi ro đối với
hàng hóa trong quan hệ hợp đồng kinh tế.
Pháp lệnh hợp đồng kinh tế mới phải
phản ánh đợc cơ chế quản lí kinh tế mới
của Nhà nớc. Đó là cơ chế quản lí của

động thơng mại giữa các thơng gia
hoặc một bên là thơng gia. Vậy còn
quan hệ tài sản nào Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế cần phải điều chỉnh. Vấn đề này
cần làm sáng tỏ để khỏi có những quy
định chồng chéo với các quy định của Bộ
luật dân sự và Luật thơng mại hoặc bỏ
sót những quan hệ tài sản cần phải đợc
điều chỉnh. Để xác định đợc phạm vi
điều chỉnh của Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế cần xác định đợc đối tợng điều chỉnh
của nó. Đó là quan hệ giữa các chủ thể
kinh doanh nào? Các nhà khoa học pháp
lí nớc ta hiện nay đều cho rằng hợp đồng
kinh tế là hợp đồng đợc kí kết giữa các
chủ thể kinh doanh nhằm mục đích kinh
doanh. Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế cũng đ định nghĩa hợp đồng kinh tế
thể hiện đợc quan điểm này nhng định
nghĩa còn dài dòng mà vẫn không đủ,
cha mang tính khái quát. Thực ra, Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế không nhất thiết
phải định nghĩa hợp đồng kinh tế. Điều
quan trọng là phải xác định rõ nó điều
chỉnh quan hệ nào và giữa các chủ thể
nào. Theo chúng tôi, Pháp lệnh hợp đồng
kinh tế mới sẽ phải điều chỉnh tất cả các
quan hệ hợp đồng có mục đích kinh
doanh giữa các chủ thể kinh doanh trừ
quan hệ hợp đồng giữa các thơng gia đ

kinh doanh và có ít nhất một bên tham
gia là pháp nhân. Điều này đ làm cho
phạm vi của hợp đồng kinh tế bị thu hẹp
lại. Một số hợp đồng kinh tế bị loại ra
khỏi phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế kéo theo đó là những
tranh chấp từ những hợp đồng ấy cũng bị
loại ra ngoài thẩm quyền giải quyết của
tòa kinh tế.
Quy định nh vậy về chủ thể của hợp
đồng kinh tế là không phù hợp với nền
kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trờng, mọi thành
phần kinh tế, mọi chủ thể kinh doanh đều
bình đẳng trớc pháp luật không phụ
thuộc vào quy mô và hình thức tổ chức,
do đó mà mọi quan hệ kinh doanh đều
phải chịu sự điều chỉnh của một chế độ
pháp lí thống nhất.
Một vấn đề liên quan đến chủ thể kí
kết hợp đồng kinh tế là đại diện kí kết
hợp đồng kinh tế. ở đây muốn nói ai là
ngời có thẩm quyền kí kết hợp đồng
kinh tế cho pháp nhân.
Theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và
Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/1/1990
quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế thì ngời kí kết hợp đồng
kinh tế cho pháp nhân là đại diện hợp
pháp của pháp nhân (Điều 9 Pháp lệnh

. Cụ thể hơn theo chúng tôi là cha
đủ. Đại diện hợp pháp của pháp nhân
chính là ngời có quyền thực hiện hành vi
nhân danh pháp nhân. Hợp đồng kinh tế
do ngời đợc ủy quyền kí kết đúng với
nội dung ủy quyền làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ cho pháp nhân. Trong quan
hệ này ngời đợc ủy quyền là đại diện
hợp pháp của pháp nhân. Do vậy, nên quy
định là: Ngời có thẩm quyền kí kết hợp
đồng kinh tế cho pháp nhân là đại diện
theo pháp luật của pháp nhân hay đại diện
theo sự ủy quyền. Đại diện theo pháp luật
của pháp nhân chính là ngời đứng đầu
của pháp nhân (hay còn gọi là đại diện
đơng nhiên, đại diện chính thức). Đại nghiên cứu - trao đổi
tạp chí luật học - 33

diện theo sự ủy quyền là ngời đợc
ngời đại diện theo pháp luật ủy quyền.
Đại diện hợp pháp sẽ bao gồm cả đại diện
theo pháp luật và đại diện theo sự ủy
quyền. Nhng đại diện theo pháp luật
khác đại diện theo sự ủy quyền ở chỗ đại
diện theo pháp luật của pháp nhân có
quyền đại diện cho pháp nhân trong mọi
quan hệ liên quan đến pháp nhân còn đại

hợp đồng nữa hay không? Kí kết hợp
đồng là quá trình đàm phán giữa các bên
để thống nhất với nhau về các điều khoản
của hợp đồng, thiết lập quan hệ hợp đồng.
Sau khi kí kết hợp đồng, các bên phải
thực hiện quyền và nghĩa vụ phát sinh từ
quan hệ hợp đồng. Nếu không thực hiện
hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ
thì sẽ phải chịu trách nhiệm tài sản. Do
đó, trực tiếp chịu trách nhiệm tài sản
không phải là nguyên tắc kí kết hợp đồng
mà là hậu quả pháp lí của việc không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ hợp đồng. Có lẽ không có
luật pháp nớc nào quy định trực tiếp
chịu trách nhiệm tài sản là nguyên tắc kí
kết hợp đồng dù đó là hợp đồng gì đi nữa.
Còn một nguyên tắc nữa mà Pháp lệnh
hợp đồng kinh tế cũng ghi nhận cần phải
bàn đến là nguyên tắc "cùng có lợi". Đ
gọi là nguyên tắc kí kết hợp đồng thì nếu
các bên không tuân thủ hợp đồng do các
bên kí kết sẽ bị vô hiệu. Chẳng hạn, một
bên không phải là tự nguyện mà là bị ép
buộc, bị lừa dối nên đ kí hợp đồng hoặc
những điều khoản do các bên thỏa thuận
trái với pháp luật, trái với đạo đức x hội
thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu. Còn trờng
hợp hai bên tự nguyện thỏa thuận với
nhau, những điều khoản đó cũng không

trờng nào (đặc biệt là nền kinh tế thị nghiên cứu - trao đổi
34 - tạp chí luật học

định 2 nguyên tắc kí kết hợp đồng tại
Điều 395 là:
"1. Tự do giao kết hợp đồng nhng
không đợc trái pháp luật, đạo đức x
hội.
2. Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,
hợp tác, trung thực và ngay thẳng".
Việc kí kết hợp đồng kinh tế cũng
phải triệt để tuân theo những nguyên tắc
đó.
Chúng tôi cho rằng có thể xác định lại
các nguyên tắc kí kết hợp đồng kinh tế
theo hớng đó hoặc có thể không cần
thiết phải quy định nữa mà áp dụng các
nguyên tắc kí kết hợp đồng dân sự. Pháp
luật về hợp đồng kinh tế không nhất thiết
phải có những quy định về các nguyên tắc
kí kết hợp đồng khi Bộ luật dân sự đ quy
định và các nhà làm luật không tìm ra
nguyên tắc nào đặc trng cho việc kí kết
hợp đồng kinh tế theo yêu cầu của việc kí
kết hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị
trờng. Không nên quy định các nguyên
tắc kí kết hợp đồng kinh tế khác với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status