ĐỊA DANH THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
Hằng
HD: PGS Hà Quang Năng
Trường ĐHSP Thái Nguyên, 2008
MỞ ĐẦU
1.
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Địa danh là một bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt
nói riêng. Nghiên cứu địa danh một vùng cung cấp cho ta những cơ sở để tìm hiểu
những cơ chế định danh của một sự vật, hiện tượng. Mỗi ngôn ngữ có cách định
danh riêng.
1.2. Địa danh liên quan chặt chẽ đến lịch sử, văn hoá, cư dân của một vùng
nhất định. Địa danh lưu giữ những trầm tích của lịch sử, văn hoá, phong tục, tập
quán cư dân của một vùng đất. Nghiên cứu địa danh sẽ giúp nghiên cứu văn hóa,
lịch sử của vùng đất ấy.
1.3. Địa danh có những nguyên tắc riêng trong cấu tạo, trong cách gọi tên, có
thể một địa danh có nhiều tên gọi khác nhau, trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khác
nhau. Nghiên cứu địa danh giúp nghiên cứu lịch sử một vùng đất, giúp khám phá sự
ảnh hưởng và tác động của những nhân tố bên ngoài vào cách đặt tên địa danh: đất
nước học, tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử tộc người… Trong hoàn cảnh một vùng đất
có nhiều dân tộc nối tiếp nhau sinh sống, địa danh có nhiều dấu tích từ vựng của các
ngôn ngữ. Mỗi địa danh được hình thành trong một hoàn cảnh văn hoá, lịch sử nhất
định và còn lưu dấu mãi về sau. Nhiều địa danh thường mang tên người, cây cỏ,
cầm thú, sự vật, địa hình thiên nhiên…
1.4. Điện Biên nói chung, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên nói
riêng là một trong những mảnh đất giàu ý nghĩa lịch sử. Khảo sát địa danh thành
phố Điện Biên Phủ
Phủ và huyện Điện Biên
Biên giúp chúng ta ngh
Nội dung của luận văn,
văn, chúng tôi tập trung
trung vào các mặt sau:
- Nghiên cứu những đặc điểm về phương diện cấu tạo của các địa danh địa
hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo của thành phố Điện Biên Phủ
và huyện Điện Biên.
- Tìm hiểu về phương thức định danh các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vị
dân cư và công trình nhân tạo của thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên đồng
thời qua đó bước đầu tìm hiểu về nội dung ngữ nghĩa địa danh.
- Ở một chừng mực nhất định tìm hiểu mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hoá
và lịch sử trong những địa danh nổi tiếng của thành phố Điện Biên Phủ và huyện
Điện Biên.
3. Lịch sử vấn đề
3.1. Vấn đề nghiên cứu địa danh trên thế giới
3.1.
Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ lâu trên thế giới. Ở Trung
Quốc, ngay từ thời Đông Hán (32 - 39 sau Công nguyên), Ban Cố đã ghi chép hơn
4000 địa danh, trong đó một số đã được giải thích rõ nguồn gốc và ý nghĩa.
29
Ở các nước phương Tây, bộ môn địa danh học được chính thức ra đời vào
cuối thế kỷ XIX. Năm 1872, J.J. Êgi (Thuỵ Sĩ) viết “Địa danh học”
học” và năm 1903,
J.W. Nagl (người Áo) cũng cho ra đời tác phẩm “Địa danh học”. Thời
học”. Thời kỳ đầu, các
tác phẩm địa danh học chú trọng khảo chứng nguồn gốc địa danh.
nghiên cứu địa danh ở các quốc
quốc gia khác
khác nhau đã gó
gópp phần
minh chứng sự phong phú, đa dạng của địa danh cũng như những vấn đề nghiên cứu
trong lĩnh vực này. Chẳng hạn, Ch. Rostaing (1965) với “ Les
“ Les noms de lieux”
lieux” đã nêu
ra hai nguyên tắc nghiên cứu địa danh là phải tìm ra các hình thức cổ của các từ cấu
tạo địa danh và muốn biết từ nguyên của địa danh thì phải dựa trên kiến thức ngữ
âm học địa phương. Đây là một chuyên khảo bổ sung thêm cho vấn đề mà A.I.
Popov đã đưa ra trước đó.
3.2. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề địa danh được quan tâm từ rất sớm. Các tài liệu “ Tiền
Hán thư ” , , “ Địa lí chí ” , “ Hậu Hán thư ” , “Tấn thư ” trong thời Bắc thuộc có đề cập
đến địa danh Việt Nam. Các tài liệu này đều do người Hán viết, phục vụ trực tiếp
cho cuộc xâm lược nước ta. Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm của các nhà
nghiên cứu Việt Nam như vào khoảng thế kỉ xv có tác phẩm “ Dư
“ Dư địa chí ” của
30
Nguyễn Trãi,
Trãi, khoảng thế
thế kỉ XVIII có tác
tác phẩm “ Phủ biên tạp
tạp lục
nhưư các
công trình của Trần Thanh Tân, Đinh Xuân Vịnh… Các công trình này đều nghiên cứu
một cách công phu nhưng nặng về tập hợp tư liệu, tính lý thuyết chưa cao.
3.3. Vấn đề nghiên cứu địa danh ở thành phố Điện Biên và huyện Điện Biên
Địa danh Điện Biên nói chung, địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện
Điện Biên nói riêng là đối tượng hết sức mới mẻ, chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu. Hiện mới chỉ có tác phẩm “Sông
“ Sông núi Điện Biên”
Biên” (2000) của Trần Lê
Văn là tác phẩm ghi
ghi lại những câu chuyện
chuyện về một vài vùng
vùng đất ở Điện Biên mà tá
tácc
giả có dịp đặt chân đến. Và rải rác trong một số cuốn sách hay bài báo có đề cập đến
một vài địa danh nổi tiếng trong tỉnh, chẳng hạn bài báo “ Thành Bản Phủ”
Phủ” (1991)
của Đỗ Văn Ninh trong tạp chí Khảo cổ học, tác phẩm “ Di
“ Di tích lịch sử và văn hóa
Điện Biên Phủ
Phủ”” (2008) của Bảo tàng Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hay tác
31
phẩm “ Địa danh và những vấn đề lịch sử - văn hóa của các dân tộ
tộcc nhóm ngô
ngônn ngữ
- Phương pháp điều tra, điền dã, khảo sát thực tế, thu thập tất cả các địa danh
trên hai địa bàn thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên .
- Phương pháp miêu tả: Đây là phương pháp giúp chúng tôi tập hợp và phân
loại các địa danh địa hình thiên nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo trong
thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên trên cơ sở thu thập địa danh qua các
nguồn khác nhau. Đồng thời phương pháp này được sử dụng để phản ánh những đặc
điểm cấu tạo và đặc trưng ngữ nghĩa của các yếu tố tên riêng trong phức thể địa danh.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dựa vào các cứ liệu ngôn ngữ, đặc điểm
tâm lí của con người và quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, nghiên cứu một số địa
danh để tìm hiểu xuất xứ, nguồn gốc của một số địa danh nổi tiếng trong thành phố
Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên.
5.2. Tư liệu nghiên cứu
Với mục đích phản ánh đầy đủ, trung thực hệ thống địa danh địa hình thiên
nhiên, đơn vị dân cư và công trình nhân tạo trong thành phố Điện Biên Phủ và
huyện Điện Biên, chúng tôi đã tiến hành tập hợp các tư liệu cần thiết từ những
nguồn sau:
- Dựa vào tư liệu điều tra điền dã để thu thập tư liệu, ghi chép, bổ sung,
chỉnh lí các thông số, thông tin của từng địa danh.
- Dựa vào niên giám thống kê của thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên.
- Dựa vào bản đồ các loại của thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên.
- Dựa vào một số các công trình nghiên cứu về văn hoá, lịch sử, tôn giáo,
kinh tế của địa phương.
- Dựa vào những tư liệu lưu giữ ở chính quyền địa phương. Đây là tư liệu
quan trọng nhất, có tính pháp lí để đảm bảo tính minh xác của những điều trình bày
trong luận văn.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở
Chương này sẽ đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh.
Qua đó xác định được lí do đặt tên của địa danh và xác lập được một hệ thống các
trường nghĩa và bộ phận nghĩa của các yếu tố cấu tạo. Đồng thời nội dung của
chương sẽ khai thác những ảnh hưởng của địa lí, lịch sử, dân cư, ngôn ngữ đối với
một số địa danh trong địa bàn. Qua đó thấy được nét riêng của địa danh thành phố
Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được phản ánh như thế nào.
34
CHƯƠNG 1
NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỊA DANH
VÀ ĐỊA DANH HỌC
1.1. KHÁI NIỆM VỀ ĐỊA DANH
Cuộc sống của con người gắn với những điểm địa lí khác nhau. Những điểm
địa lí này được gọi bằng những từ ngữ riêng. Đó là những tên gọi địa lí (địa danh).
Những tên gọi này tạo nên một hệ thống riêng và tồn tại trong vốn từ của các ngôn
ngữ khác nhau trên thế giới. Những tên gọi địa lí, địa danh ấy được thể hiện bằng
thuật ngữ toponima hay toponoma
toponoma (có
(có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp) với ý nghĩa “tên
“ tên
gọi điểm địa lí ”.
”.
Cần phải hiểu đúng khái niệm địa danh theo phạm vi xuất hiện của nó. Nếu
hiểu đúng theo lối chiết tự thì “địa danh” là tên đất. Thế nhưng, khái niệm này cần
phải hiểu rộng hơn vì đây chính là đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học.
Cụ thể địa danh không chỉ là tên gọi của các đối tượng địa lí tồn tại trên trái đất. Nó
tộc” [5, tr.15].
Đại diện
diện cho hướng
hướng nghiên
nghiên cứu thứ hai là Lê Trung
Trung Hoa, Nguyễn
Nguyễn Kiên
Kiên
Trường, Từ Thu Mai, Phan Xuân Đạm.
Lê Trung Hoa cho rằng: “ Địa danh là những
những từ hoặc ngữ cố định
định được dùng
làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành
chính, các vùng lãnh thổ ” [26, tr.21].
Nguyễn Kiên Trường quan niệm: “ Địa
“ Địa danh là tên riêng của các đối tượng
địa lí tự nhiên và nhân văn có vị trí xác định trên bề mặt trái đất ”
đất ” [48, tr. 16].
Từ Thu Mai đưa ra cách hiểu: “ Địa
“ Địa danh là những từ ngữ chỉ tên riêng của
các đối tượng địa lí có vị trí xác định trên bề mặt trái đất ” [31, tr.21].
Phan Xuân Đạm cho rằng: “ Địa danh
danh là lớp từ ngữ đặc biệt,
biệt, được
được định ra để
đánh dấu vị trí, xác lập tên gọi các đối tượng địa lí tự nhiên và nhân văn”
văn ” [20, tr.12].
Như vậy, với mong muốn đi tìm một khái niệm với nguyên nghĩa của từ
toponomie,, Nguyễn Văn Âu quan niệm địa danh chính là “tên
toponomie
trình xây dựng thiên về không gian hai chiều, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh
thổ ” [26, tr.21]. Định nghĩa này thiên về việc chỉ ra ngoại diên của khái niệm, đồng
thời chỉ ra cách phân loại các địa danh. Do đó, khó có thể khuôn được hiện thực các
kiểu loại địa danh vốn đa dạng trong thực tế vào trong định nghĩa phân loại này.
Nguyễn Kiên Trường
Trường là người đầu tiên đưa ra định nghĩa nêu giới hạn ngoại
diên của địa danh chỉ thuộc về những gì ở trên trái đất một cách hiển ngôn. Dựa trên
tiêu trí mà Lê Trung Hoa đưa ra, Nguyễn Kiên Trường chia địa danh thành từng loại
nhỏ. Bên cạnh đó, ông còn tiến hành phân loại theo nguyên ngữ, theo chức năng của
địa danh.
Từ Thu Mai cho rằng, khi xác định khái niệm địa danh cần chú ý đến những
vấn đề trong nội tại bản thân khái niệm. Định nghĩa của Từ Thu Mai có điểm xuất
phát từ cách hiểu địa
địa danh của A.V. Sup
Superanskaja.
eranskaja.
Theo chúng tôi, mặc dù nằm trong hệ thống những loại hình khác nhau
nhưng các đối tượng địa lí bao giờ cũng xuất hiện trong thực tế với những cá thể
độc lập. Đầu tiên, người ta thường sử dụng các tên chung để định danh cho một đối
tượng cụ thể, được xác định. Nó chính là đơn vị định danh bậc hai trên cơ sở vốn từ
chung. Vì vậy, khi xác định khái niệm địa danh cần phải chú ý đến những vấn đề
nội tại trong bản thân địa danh. Trước hết, mỗi địa danh đều phải có tính lí do, phải
xác định được nguyên nhân đặt tên đối tượng. Chức năng gọi tên và cá thể hóa, khu
biệt đối tượng là tiêu chí thứ
thứ hai. Tiêu chí thứ ba là các đối tượng được gọi tên phải
là các đối tượng địa lí tồn tại trên bề mặt trái đất và ngoài trái đất. Các đối tượng
này có thể là đối tượng địa lí tự nhiên hay không tự nhiên.
37
cácc đối
đối tư
tượn
ợngg tr
tron
ongg th
thàn
ànhh phố)
phố).. Còn
Còn nhà
nhà kh
khoa
oa học
học Nga
Nga A.V.
A.V.
Superanskaja lại chia làm bảy loại: Phương danh, thủy danh, sơn danh, phố danh,
viên danh, lộ danh, đạo danh (tên các đường giao thông trên đất, dưới đất, trên
nước, trên không).
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Âu quan niệm: “ Phân
“ Phân loại địa danh là sự phân
chia địa danh thành các kiểu, nhóm khác nhau, dựa trên những đặc tính cơ bản về
địa lí cũng như về ngôn ngữ và lịch sử ” [5, tr.37]. Và ông đã chia địa danh Việt
Nam thành hai loại: Địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội với bảy kiểu:
Thủy danh, lâm danh, sơn danh, làng xã, huyện thị, tỉnh, thành phố, quốc gia và
38
địa danh thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên thành ba loại: địa danh địa
hình thiên nhiên, địa danh đơn vị dân cư và địa danh công trình nhân tạo. Trong đó
địa danh địa hình tự nhiên gồm sơn danh, thủy danh và những vùng đất nhỏ phi dân
39
cư; địa danh đơn vị dân cư gồm các đơn vị dân cư cụ thể nằm trong cấp thành phố,
huyện; địa danh các công trình nhân tạo gồm địa danh các công trình nhân tạo thuộc
những hoạt động vật chất của con người và địa danh các công trình nhân tạo thuộc
những hoạt động tâm linh của con người. Trong mỗi tiểu loại lại gồm những bộ
phận nhỏ hơn, thuộc
thuộc vào những
những loại hình
hình địa dan
danhh đó.
1.3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA DANH
Xét về phương diện ngôn ngữ học, nhìn vào toàn bộ hệ thống địa danh một
vùng đất, có thể thấy rõ các đặc điểm sau đây:
1.3.1. Địa danh là một hệ thống tên gọi đa dạng
Nếu so sánh với nhân danh và vật danh thì hệ thống địa danh vừa đa dạng
vừa phức tạp. Về loại hình địa danh, có những địa danh biểu thị địa hình tự nhiên
(núi, sông, biển, hồ…); có những địa danh biểu thị tên gọi của các đơn vị hành
chính, đơn vị dân cư do Nhà nước đặt ra (thành phố, thị xã, huyện, phường, phố…);
lại có những địa danh là tên gọi các công trình xây dựng trên bề mặt đất hay dưới
lòng đất (cầu, cống, đường, hầm, đê, đập…). Về cấu tạo, địa danh vừa có cấu tạo
đơn vừa có cấu tạo phức (vừa có từ vừa có cụm từ, vừa có danh từ vừa có danh
ngữ). Trong cấu tạo đơn, có địa danh đơn tiết, có địa danh đa tiết. Trong cấu tạo
hóa địa danh đơn vị dân cư thành địa danh công trình nhân tạo: bản Hua Pe đồn
Hua Pe, thành Sam Mứn bản Sam Mứn.
- Chuyển hóa nhân danh thành địa danh. Chẳng hạn, Nguyễn Chí Thanh
Thanh
đường Nguyễn Chí Thanh,
Thanh, Hoàng Công
Công Chất đền Hoàng Công Chất .
1.3.3. Địa danh có phương thức cấu tạo phong phú
Nghiên cứu các phương thức cấu tạo định danh, chúng tôi thấy địa danh
được tạo nên bởi rất nhiều phương thức khác nhau: vừa dựa vào đặc điểm bản thân
đối tượng để đặt tên như: núi Pha
núi Pha Sung (vách cao), suối Púng
suối Púng (vũng),
(vũng), bản Noong
bản Noong
Chứn (ao
Chứn
(ao chì), bản Đồi
bản Đồi Cao,
Cao, thác Trắng
thác Trắng ; vừa dựa vào sự vật, yếu tố có quan hệ chặt
chẽ với đối tượng như xã Nà
xã Nà Nhạn (ruộng nhạn), suối
suối Hẹt (tê giác), núi Pú
núi Pú Co
Nghịu (núi cây bông gạo), đồn biên phòng Hua
phòng Hua Pe (đầu
Pe (đầu suối Pe), bản Sam
bản Sam Mứn (ba
Mứn (ba
con vật, tên gọi các đấng siêu nhiên, thần linh, tên gọi các quả đồi, ngọn núi, tên các
công trình xây dựng để ở, tên người gọi theo dòng bố, tên gọi theo dòng mẹ, tên
người gọi theo con cháu… Bộ môn khoa học nghiên cứu về tên gọi như vậy được
gọi là danh học. Các địa danh cũng chỉ là một trong nhiều đối tượng nghiên cứu của
khoa học được đặt trong thế phân biệt với nhân danh học. Đặt trong khung cảnh của
41
ngôn ngữ học, địa danh học nằm trong lòng bộ môn từ vựng học, vì đối tượng
nghiên cứu của địa danh học chính là các từ ngữ được sử dụng để đặt tên, gọi tên.
Địa danh học là một bộ môn ngôn ngữ học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc,
cấu tạo, ngữ nghĩa, sự biến đổi, sự lan tỏa, phân bố của địa danh. Người chuyên
nghiên cứu về địa danh được gọi là nhà địa danh học.
Như vậy một nhà địa danh học thường phải làm, nghiên cứu giải quyết
những công việc chính sau đây:
- Tìm hiểu nguồn gốc lịch sử của địa danh.
- Tìm hiểu ngữ nghĩa của địa danh.
- Tìm hiểu các mô hình địa danh, các phương thức quá trình tạo địa danh.
- Tìm hiểu sự nảy sinh, lan tỏa, sự phân bố của địa danh qua các không gian,
các khoảng thời gian khác nhau.
- Chuẩn hóa địa danh.
Trong những vấn đề lớn trên, người ta lại chia nhỏ thành nhiều vấn đề khác
nhau để nghiên cứu.
Về quan điểm tín hiệu học, địa danh có tính lí do. Vậy, vấn đề quan trọng là
cội nguyên, ngữ nghĩa của địa danh. Điều này, ta thường thấy trong định nghĩa địa
danh học: Là bộ môn nghiên cứu về nguồn gốc, ngữ nghĩa của địa danh.
Dựa trên hướng nghiên cứu, người ta chia ra các bộ phận nhỏ như: Ngôn ngữ
Cấu trúc địa hình thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên mang một số
đặc điểm nổi bật của địa hình toàn tỉnh: núi thấp dần và đổ dồn xuống các sông và
suối lớn, hoặc xen kẽ với các thung lũng sông, khe suối. Lọt vào giữa các dãy núi có
rất nhiều dải trũng bằng phẳng tạo thành những cánh đồng hẹp kéo dài. Các dãy núi
phía Tây là bộ phận
phận kéo dài của hệ
hệ thống núi ở Bắc Lào,
Lào, cùng hướng với
với dòng chảy
của các sông suối trong vùng này thường có hướng Bắc - Nam hoặc Tây Bắc Đông Nam. Ngoài ra còn có các dạng địa hình thung lũng, sông suối, thềm bãi bồi,
sườn tích, hang động castơ... phân bố rộng khắp trên địa bàn nhưng diện tích nhỏ.
Thành phố Điện Biên Phủ nằm trong vùng lòng chảo, là vùng có địa hình
tương đối bằng phẳng, ít bị chia cắt, độ dốc nhỏ dưới 15 độ, độ cao hơn 400 m so
với mặt nước biển thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ, du lịch. Đặc biệt có thung lũng Mường Thanh với diện
tích trên 15.000 ha, là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của toàn tỉnh và toàn vùng
43
Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc). Với khả năng sản xuất lương thực
dồi dào, cánh đồng Mường Thanh là vựa lúa của cả tỉnh Điện Biên.
Địa hình của huyện Điện Biên bao gồm một phần của vùng lòng chảo (gọi là
vùng thấp) và vùng núi cao (còn gọi là vùng ngoài). Vùng thấp (như đã nêu trên)
chiếm 21% diện tích toàn huyện, còn vùng núi cao chiếm 79% diện tích toàn huyện
với độ cao từ 1000 m trở lên trong đó đỉnh cao nhất là Pú Pha Sung. Địa hình đồi,
núi cao và đất dốc của huyện thuận lợi cho sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia
súc, phát triển thủy điện và xây dựng các hồ chứa nước phục vụ sinh hoạt, cung cấp
Điện Biên là cửa ngõ phía Tây Bắc của vùng Bắc Bộ nước ta, là tỉnh duy
nhất có chung đường biên giới với hai quốc gia Trung Quốc và Lào trong đó huyện
Điện Biên có chung đường biên giới với Lào qua hai cửa khẩu Huổi Puốc và Tây
Trang. Điện Biên còn có quốc lộ 279 nối liền Điện Biên - Lào và quốc lộ 12 chạy từ
thành phố Điện Biên Phủ tới thị xã Lai Châu cùng với hệ thống giao thông biên giới
và con đường xuyên Á đang từng bước được đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó Điện
Biên còn có cảng hàng không Điện Biên Phủ hoạt động thường xuyên nhằm phục
vụ khách đến tham quan du lịch và đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong vùng.
Cảng này đang được đầu tư để mở đường bay tới các nước trong khu vực. Chính
những sự kiến tạo này đã làm cho Điện Biên có điều kiện trở thành đầu mối giao
thông quan trọng, thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế - văn hóa - du lịch
giữa các vùng trong và ngoài tỉnh. 27 đơn vị hành chính (gồm 7 phường và 20 xã)
trong thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được phân bố đều ở cả địa hình
thung lũng, đồi núi thấp và vùng núi cao [6], [8], [49].
1.5.2. Về lịch sử
Thời Hùng Vương, thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên ngày nay
thuộc bộ Tân Hưng; thời Lý thuộc lộ Đà Giang; thời Trần thuộc châu Ninh Viễn;
thời Lê thuộc trấn Gia Hưng. Năm 1463, trấn Hưng Hóa được thành lập gồm 3 phủ:
Gia Hưng, Quy Hóa, An Tây gồm một vùng đất đai, sông núi rộng mênh mông
tương đương với các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ ngày nay.
Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên lúc đó thuộc phủ An Tây. Phủ An
Tây có 10 châu: Lai, Luân, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tùng Lăng, Lễ Tuyền, Hoàng
Nham, Hợp
Hợp Phì, Tuy
Tuy Phụ và Khiêm.
Khiêm.
7-4-1904, ttỉnh
ỉnh lỵ Vạn Bú
Bú chuy
chuyển
ển về Sơ
Sơnn La. Đến
Đến ngày
ngày 2323-8-19
8-1904,
04, tỉ
tỉnh
nh Vạn Bú
đổi thành tỉnh Sơn La. Ngày 28-6-1909, Toàn quyền Đông Dương Klobukowski ra
Nghị định thành
thành lập tỉnh Lai Ch
Châu
âu gồm:
gồm: Đạo Lai (châu Lai, châu Quỳnh Nhai và phủ
Luân Châu), châu Điện Biên và phủ Tuần Giáo, dân số khoảng 4 vạn người. Đến 273-1916, tỉnh Lai Châu lại chuyển thành Đạo quan binh thứ tư theo chế độ quân quản,
có một thời gian ngắn chúng áp dụng chế độ cai trị hành chính.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, dưới chính thể mới của nước
Việt Nam Dân chủ cộng hòa, địa phương có một số thay đổi như sau:
- Khi cuộc kháng chiến toàn quốc mới bùng nổ, Lai Châu nằm trong Chiến khu
2 cùng với Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Sơn La. Sau đó Lai
Châu nhập cùng Chiến khu 10 và một phần Chiến khu 1 thành liên khu Việt Bắc.
- Năm 1948, Lai Châu và Sơn La hợp nhất thành tỉnh Sơn Lai. Ngày 12-11952, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 145-TTg tái lập hai tỉnh.
- Ngày 26-1-1953, để củng cố căn cứ địa Tây Bắc mới giải phóng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký Sắc lệnh số 134-SL thành lập Khu Tây Bắc gồm các tỉnh Lào Cai, Yên
Bái, Sơn La và Lai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc. Đồng thời, Khu ủy Tây Bắc
cũng ra Quyết định chuyển huyện Thuận Châu từ tỉnh Sơn La sang tỉnh Lai Châu.
Thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Lai Châu.
Ngày 26-11-2003,
26-11-2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra
Nghị quyết số 22/2003/QH1
22/2003/QH111 về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính
chính một số
tỉnh, trong đó có Lai Châu. Tỉnh Lai Châu (cũ) được chia thành tỉnh Lai Châu (mới)
và tỉnh Điện Biên. Ngày 1-1-2004, hai tỉnh chính thức đi vào hoạt động. Đến nay
tỉnh Điện Biên có 9 huyện, thị, thành phố gồm các huyện: Điện Biên, Điện Biên
Đông, Tuần Giáo, Mường Nhé, Tủa Chùa, Mường Chà, Mường Lay, thị xã Lai
Châu và thành phố Điện Biên Phủ.
Hiện nay thành phố Điện Biên Phủ có diện tích tự nhiên là 6.009,05 ha và
gồm 8 đơn vị hành chính với 7 phường (đó là các phường: Him Lam, Mường
Thanh, Nam Thanh, Noong Bua, Tân Thanh, Thanh Bình, Thanh Trường) và 1 xã
(đó là xã Thanh Minh). Thành phố Điện Biên Phủ là tỉnh lỵ của tỉnh Điện Biên. Còn
huyện Điện Biên sau khi trải qua nhiều lần điều chỉnh địa giới, đến nay có diện tích
tự nhiên là 163.985 ha và gồm 19 đơn vị hành chính trực thuộc ở cấp xã (đó là các
xã Mường Lói, Mường Nhà, Mường Phăng, Mường Pồn, Nà Nhạn, Nà Tấu, Na Ư,
Noong Hẹt, Noong Luống, Núa Ngam, Pa Thơm, Sam Mứn, Thanh An, Thanh
Chăn, Thanh Hưng, Thanh Luông, Thanh Nưa, Thanh Xương và Thanh Yên) [6],
[8], [49].
1.5.3. Về văn hóa
Kho tàng văn hóa, nghệ thuật của các dân tộc anh em từ bao đời nay để lại đã
khẳng định thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có nền văn hóa phát triển
47
Tăng Bu (dỗ ống) của người La Ha... đã góp phần làm cho kho tàng nghệ thuật của
đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc thêm phong phú, đa dạng.
Các dân tộc ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên còn có văn hóa
lễ hội hết sức đặc sắc. Các lễ hội diễn ra gần như quanh năm, tùy theo từng dân tộc
và theo vùng. Chẳng hạn, lễ hội Thành Bản Phủ (còn gọi là lễ hội Hoàng Công
Chất) của đồng bào các dân tộc trong vùng, lễ Xên bản (cúng bản) và lễ Hạn
Khuống của người Thái, lễ hội Gầu Tào của người Mông, lễ Cầu mưa của dân tộc
Khơ Mú, Lô Lô và Lào, lễ hội Căm Mường của dân tộc Lự…
48
Trong các lễ hội, chúng ta sẽ có dịp được chiêm ngưỡng các trang phục đẹp
đẽ, đặc sắc, độc đáo của đồng bào các dân tộc. Đó là những bộ trang phục được
trang trí bởi bàn tay khéo léo của các cô gái... với những hoa văn, họa tiết cầu kỳ,
nhiều màu sắc sinh động. Những bộ trang phục đó đã góp phần làm phong phú nền
văn hóa đa dạng của đồng bào các dân tộc trong vùng [6], [8], [16], [27], [49].
1.5.4. Về dân cư
Thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên được coi là quê hương của hai
mươi dân tộc anh em (gồm Thái, Kinh, Mông, Khơ Mú, Lào, Dao, Hà Nhì, La Hủ,
Giáy, Phù Lá, Cống, Si La, Kháng, Lô Lô, Hoa, Lự, Tày, Nùng, Mường, Xinh Mun)
trong đó 5 dân tộc đông nhất là: dân tộc Thái (53,71%), dân tộc Kinh (27,85%), dân
tộc Mông (8,5%), dân tộc Khơ Mú (5%), dân tộc Lào (3,17%) [6, tr.24]. Đến năm
2007, dân số thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là 154.942 người với
mật độ trung bình là 408,0 người/km 2 [36, tr.33]. Như vậy dân cư sinh sống trong
hai địa bàn khá thấp và mật độ thưa thớt, dân cư tập trung chủ yếu ở thành phố và
trung tâm huyện. Mỗi dân tộc sinh sống trên địa bàn có tập quán văn hóa truyền
thống khác nhau góp phần đem lại cho nơi đây những bản sắc văn hóa phong phú,
mới Điện Biên ngày càng văn minh, giàu đẹp. Người Kinh có một trình độ văn hóa
cao, với năng lực trí thức và khoa học kĩ thuật được trang bị tốt hơn, họ đã góp phần
thúc đẩy Điện Biên tiến mau trên con đường đổi mới, hòa chung với sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Người Mông (còn gọi H’Mông, Mèo) cư trú ở những vùng núi cao với nghề
chính là làm nương rẫy và trồng ngô, trồng lúa. Họ từ Trung Quốc sang Việt Nam
vào những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Họ có tinh thần đấu tranh kiên
cường, bất khuất và truyền thống này đã được phát huy trong cuộc kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ, chống biệt kích gián điệp, bảo vệ an ninh Tổ quốc và phá
tan âm mưu diễn biến hòa bình của những thế lực phản động.
Người Khơ Mú (còn gọi người Xá) là một dân tộc lâu năm cư trú trên đất
nước Lào, họ vào Tây Bắc, đến Điện Biên bằng một mối tình chiến đấu anh em giữa
nhân dân hai nước. Họ đã theo người tù trưởng của mình là Chương Han liên minh
với người Thái dưới sự lãnh đạo của tù trưởng Cầm Ten (hay Bạc Cầm Tiến) đánh
đuổi giặc Cờ Vàng ở miền Tây Bắc Việt Nam. Người Khơ Mú là một dân tộc có
trình độ phát triển xã hội thấp, chuyên sống du canh du cư và bị ràng buộc bởi nhiều
tập tục lạc hậu. Ngày nay đời sống của họ cũng đã ít nhiều được thay đổi và dần ổn
định hơn trong sự phát triển chung của địa phương.
50
Người Lào có nguồn gốc từ nước bạn Lào sang và chỉ có một tỷ lệ nhỏ dân
cư sinh sống ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên. Họ phần lớn thuộc
nhóm Lào Bốc (Lào ở cạn) hay Lào Nọi (Lào nhỏ), phong tục gần với người Thái.
Họ sống tập trung bên những cánh đồng phì nhiêu, ven theo các sườn đồi hoặc dọc
theo các con sông nhỏ, các khe suối râm mát. Họ cũng là những con người cần cù,
khéo léo, ưa cuộc sống hòa bình và cũng có tinh thần đấu tranh kiên cường bất
ngôn ngữ Môn - Khơ Me có các dân tộ
tộcc như Khơ Mú, Xinh Mun.
Nhóm ngôn ngữ Tạng - Mianma có các dân tộc như dân tộc Hà Nhì, La Hủ,
Phù Lá, Cống, Si La, Lô Lô.
Nhóm ngôn
ngôn ngữ Hán có dân tộc Hoa.
Trong đó, tiếng Thái của dân tộc Thái chiếm đa số; sau đó đến tiếng Kinh
(tiếng Việt); còn ngôn ngữ của các dân tộc khác chiếm tỉ lệ nhỏ.
Người Thái sớm có chữ viết và đã để lại một kho tàng văn học nghệ thuật
gồm các tác phẩm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ, ca dao khá giá trị.
Trong ngữ hệ Tày - Thái, người Thái có tới 5 loại chữ khác nhau. Sự khác nhau về
loại chữ phản ánh rõ nét tính địa phương của những nhóm người Thái khác nhau ở
Việt Nam được gộp chung vào dân tộc Thái. Chữ Thái của người Thái ở thành phố
Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên là chữ của người Thái đen [6], [49].
Như vậy ở thành phố Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên có khá nhiều dân
tộc thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau sinh sống trong đó chiếm số lượng lớn
nhất là các dân tộc người thuộc nhóm Tày - Thái và nhóm Việt - Mường. Điều đó sẽ
51
tạo ra sự giao thoa về văn hóa, ngôn ngữ giữa các dân tộc và có tác động lớn đến
cách đặt địa danh trong hai địa bàn được nghiên cứu.
1.6. KẾT QUẢ THU THẬP VÀ PHÂN LOẠI ĐỊA DANH
1.6.1. Kết quả thu thập địa danh
Căn cứ vào phạm vi, đối tượng và nguyên tắc cùng các tiêu chí thu thập,
phân loại địa danh, chúng tôi đã thu thập được 1008 địa danh. Các địa danh này
được xác định trên sự phân bố theo không gian ở 27 đơn vị với 7 phường và 20 xã
61,90
3
Địa danh công trình nhân tạo
146
14,48
Tổng số
1008
100
1.6.2. Kết quả phân loại địa danh
Theo tiêu chí tự nhiên - không tự nhiên, chúng tôi chia địa danh thành phố
Điện Biên Phủ và huyện Điện Biên thành hai loại là địa danh tự nhiên gồm địa danh
địa hình thiên nhiên và địa danh không tự nhiên gồm địa danh đơn vị dân cư và địa
danh công trình nhân tạo.
1.6.2.1. Địa danh địa hình thiên nhiên
52