Tư liệu Văn học lớp 7
Nam quốc sơn hà:
“Nam quốc sơn hà” là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam,
được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.
Nguồn gốc:
Từ trước, bài thơ được cho là sáng tác của Lý Thường Kiệt trong lần chống quân xâm lược
Tống tại sông Cầu năm 1077. Tuy nhiên mới đây, trong cuốn sách Bối cảnh định đô Thăng
Long và sự nghiệp của Lê Hoàn do Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 2006, nhiều nhà
nghiên cứu khẳng định bài thơ này ra đời từ thời Tiền Lê và cũng được sử dụng trong trận
đánh chống quân Tống, nhưng là lần đầu vào năm 981.
Các tác giả cho rằng: Sử sách (Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Việt
điện u linh...), đều chép Lý Thường Kiệt sai người vào đền thờ anh em Trương Hống,
Trương Hát (tướng của Triệu Việt Vương) ngâm bài thơ này nhưng không nói rõ ông là tác
giả. Như vậy, các tác giả kết luận: Lý Thường Kiệt chỉ là người vận dụng bài thơ này để đuổi
quân Tống.
Bằng nhiều dẫn chứng
[1][2]
các tác giả khẳng định bài thơ được sáng tác thời Tiền Lê và cũng
được Lê Hoàn vận dụng, trong đó bài thơ có một vài chữ sai khác với văn bản mọi người
thường biết.
Trên thực tế, tư liệu để lại xác đáng hơn cả viết bài thơ này được Lê Hoàn sử dụng là sách
Lĩnh Nam trích quái, khoảng trang 72-74 có ghi: “Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần
nhân cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa
to, gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng
ngâm rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”. Quân Tống nghe thơ, xéo đạp vào nhau mà
chạy tan… Lê Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị
thần nhân… sai dân phụng thờ… nay vẫn còn là phúc thần”.
Bản chuẩn:
Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Trần Quang Khải được người dân Việt Nam lập đền thờ ở một số nơi; như tại đình làng
Phương Bông, ngoại thành thành phố Nam Định. Tại Phương Bông cũng lưu lại điệu múa
"bài bông" được người dân ở đây cho là khởi xướng bởi Trần Quang Khải trong tiệc "thái
bình diên yến" do Trần Nhân Tông tổ chức sau khi chiến thắng quân Nguyên.
[3]
Tiểu sử:
Trần Quang Khải sinh tháng 10 âm lịch năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 10 (1241) đời Trần
Thái Tông, mất ngày 3 tháng 7 âm lịch năm Hưng Long thứ hai (1294) đời Trần Anh
Tông. Là em cùng mẹ với Trần Thánh Tông (nghĩa là con thứ hai của hoàng đế Trần
Thái Tông với Hiển Từ Thuận Thiên hoàng thái hậu Lý thị), ông là người học rộng
tài giỏi, biết nhiều thứ tiếng. Năm Thiệu Long thứ nhất (1258) đời Trần Thánh Tông,
ông được phong tước Chiêu Minh Đại vương, nắm chức Thái sư.
Trận Nghệ An
Năm Ất Dậu 1285 Toa Đô từ Chiêm Thành theo đường bộ kéo ra Nghệ An tấn công quân
Nam, có Ô Mã Nhi dẫn quân đi đường biển tiếp ứng. Được tin, Hưng Đạo Vương tâu
vua xin cho Thượng tướng Trần Quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ An, và cho
Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, rồi rước xa giá ra Hải Dương. Trần Quang Khải
vào đến Nghệ An, chia quân phòng giữ. Thấy thế giặc quá mạnh, ông cho lui quân ra
mặt biển và giữ các nơi hiểm yếu. Quân của Toa Đô đánh mãi không được, cạn lương,
bèn cùng với Ô Mã Nhi dẫn quân xuống thuyền trở ra Bắc. Trần Quang Khải hay tin cho
người về Thanh Hóa cấp báo. Vua cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật cùng Trần
Quốc Toản và Nguyễn Khoái đem 5 vạn quân ra đón đánh tại Hàm Tử Quan thuộc
huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên. Quân Nguyên thua to chết hại rất nhiều.
Trận Chương Dương Độ, khôi phục Thăng Long
Lúc bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long, còn chiến thuyền thì đóng ở bến
Chương Dương, thuộc địa phận huyện Thượng Phúc. Trần Quang Khải được lệnh vua, cùng
Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đem quân từ Thanh Hóa đi thuyền vòng đường biển ra
đến bến Chương Dương tấn công chiến thuyền của quân Nguyên. Quân Nguyên địch không
nổi phải bỏ thuyền lên bờ chạy. Trần Quang Khải đem quân lên bờ đuổi đánh về đến chân
thành Thăng Long, nhưng ông lập mưu cho phục binh đóng sẵn ngoài thành. Thoát Hoan
Tháng tư, trong trận đánh tại Hàm Tử, một địa điểm trên sông Hồng tại huyện
Khoái Châu (tỉnh Hưng Yên ngày nay) tướng Trần Nhật Duật đã phá tan đạo quân
Thát Đát, bắt sống giặc Ô Mã Nhi. (Trong Đại cáo bình Ngô sau này Nguyễn Trãi
nhầm sự việc nên viết “Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô, sông Bạch Đằng giết tươi Ô
Mã”). Tháng 6, Trần Quang Khải thắng tiếp trận Chương Dương, đuổi đạo quân
chủ lực của Thoát Hoan chạy dài lên phía bắc, giải phóng Thăng Long, rước vua
Trần trở lại kinh thành. Trong không khí ấy, ông ngẫu hứng cao độ làm nên Tụng
giá hoàn kinh sư (Phò xa giá nhà vua về lại kinh đô) danh bất hư truyền. Cùng
khoảng thời gian này, vua Trần khi đến tế ở nhà Thái miếu cũng ứng khẩu hai
câu : "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu". Nghĩa là "Đất
nước hai phen bon ngựa đá /Non sông nghìn thủa vững âu vàng", cùng một mạch
cảm hứng yêu nước, tự hào dân tộc.
Bài thơ chỉ bốn câu, theo lối năm chữ mạch lạc, gọn gàng. Hai câu đầu kể lại hai
chiến công hiển hách vừa mới đó, đang còn tươi nguyên không khí chiến thắng. Có
nét đặc biệt là trình tự các chiến công không được nêu theo diễn biến thời gian
trước sau. Chiến thắng Chương Dương trước, Hàm Tử sau. Cách trình bày như
thế là theo cái lô-gíc của cảm hứng. Trận sau mới hơn và cũng vang dội hơn. Chính
nhờ chiến thắng Chương Dương mà Thoát Hoan phải bỏ chạy, Thăng Long được
giải phóng. Chính nhờ chiến tháng Chương Dương mà có cái không khí rạo rực
phấn chấn trong ngày “về lại thủ đô” này. Lời thơ rất cô đúc, vẻn vẹn mười chữ,
nêu hai sự việc là “cướp giáo giặc” và “bắt quân thù”. Song qua hai hình ảnh này
người đọc cảm nhận được niềm phấn chấn, hân hoan. Đúng là câu thơ đăng đối
bên ngoài đanh chắc, bên trong chứa chan xúc cảm. Cảm xúc theo kiểu cô lại. Sự
cô đúc này tạo ra một thế năng, khả năng khơi gợi người đọc suy ngẫm. Một trong
những đặc trưng thẩm mĩ của thi pháp cổ là gợi, ít chú trọng kể, tả.
Hai câu thơ sau là lời động viên, quyết tâm xây dựng,bảo vệ nền thái bình của
giang sơn, đất nước.
Nguyên văn :
Thái bình tu trí lực
Vạn cổ thử giang san
ông.
Ngay từ khi còn sống, Nguyễn Trãi đã được những người đương thời khen ngợi là:
Kinh bang hoa quốc, cổ vô tiền
Nghĩa là:
Dựng nước và làm vẻ vang tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông.
Thân thế:
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tên tự là Ức Trai, sống vào một giai đoạn lịch sử sôi động, từ
cuối đời Trần, trải qua đời Hồ thời đấu tranh chống ách Minh thuộc (của nhà hậu Trần, của
các phong trào nhân dân khắp nước, của nghĩa quân Lam Sơn) cho tới đầu đời Lê. Cha
Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh, tên hiệu là Nhị Khê, vốn gốc làng
Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn (nay thuộc Chí Linh Hải Dương), nhưng đã di cư sang làng
Ngọc Ổi (sau đổi tên thành Nhị Khê) huyện Thượng Phúc (nay là huyện Thường Tín Hà Tây
cũ).
Lúc còn là thư sinh, Nguyễn Ứng Long vì nổi tiếng hay chữ cho nên được Trần Nguyên Đán,
tể tướng và là tông thất nhà Trần gả con gái cho. Năm 1374, Nguyễn Ứng Long đi thi, đậu
Bảng Nhãn. Nhưng vì là con nhà thứ dân mà dám lấy con gái nhà hoàng tộc cho nên không
được Trần Nghệ Tông cho làm quan và đành trở về quê dạy học.
Thời trẻ:
Lúc ông lên 5 tuổi mẹ ông mất.Nguyễn Trãi lúc nhỏ ở với cha là Trần Nguyên Đán. Năm
1385, Trần Nguyên Đán về trí sĩ ở Côn Sơn, đem theo cả Nguyễn Trãi về đấy. Côn Sơn lại
chính là nơi quê tổ của họ Nguyễn vì cả dãy núi này thuộc vào địa phận xã Chi Ngại, huyện
Phượng Nhãn. Từ năm 1390, sau khi ông ngoại mất, Nguyễn Trãi về Nhị Khê ở với cha.
Thời Hồ:
Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm đó cũng là năm mở khoa thi đầu tiên của
nhà Hồ. Nguyễn Trãi đi thi và đậu thái học sinh. Năm 1401, Nguyễn Ứng Long đổi tên là
Nguyễn Phi Khanh và được nhà Hồ vời ra làm quan, lĩnh chức Quốc tử giám tư nghiệp. Còn
Nguyễn Trãi thì sau khi thi đỗ được nhà Hồ cử giữ chức Ngự sử đài chính chưởng. Như vậy
là hai cha con Nguyễn Trãi thuộc số những người ra làm quan với nhà Hồ ngay từ đầu.
Năm 1407, nhà Minh đánh Đại Ngu. Cha con Hồ Quý Ly bị bắt đưa về Kim Lăng. Một số
triều thần trong đó có Nguyễn Phi Khanh cũng bị bắt đi cùng với Hồ Quý Ly. Nguyễn Trãi
Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây hãm nhiều thành
trì của quân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho tướng giặc trong thành để dụ hàng
hoặc làm nản ý chí chiến đấu của tướng giặc.
Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc ở
Viện Khu mật. Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ, đánh tan viện binh của Vương
Thông. Thông rút vào cố thủ trong thành Đông Quan. Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc
Thạnh chia làm 2 đường, cầm hơn 10 vạn quân sang cứu viện. Lúc đó quân Lam Sơn đứng
trước hai chọn lựa vì sắp phải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra.
Lực lượng của Vương Thông hợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10 vạn người,
quân Lam Sơn vây hãm có chút lơi lỏng đã bị địch ra đánh úp, phải trả giá cao bằng việc mất
4 tướng giỏi: Lê Triện, Đinh Lễ bị tử trận, Đỗ Bí và Nguyễn Xí bị bắt. Chỉ có Nguyễn Xí sau
đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã trốn thoát về.
Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng làm nội
ứng cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh. Riêng Nguyễn Trãi không đồng tình với quan điểm đó.
Ông kiến nghị với Lê Lợi ý kiến của mình và được chấp thuận. Và Lê Lợi đã theo kế của
ông nói với các tướng rằng:
"Đánh Đông Quan là hạ sách. Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất mấy tháng hoặc hàng
năm, chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán nản. Đang khi đó, viện binh của
địch kéo dến, thế là ta bị địch đánh cả đằng trước, đằng sau, đó là rất nguy. Chi bằng ta hãy
nuôi sức khoẻ, chứa dũng khí chờ đánh viện binh. Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân
trong thành phải hàng, thế là ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai."
Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán. Lê Lợi điều các tướng giỏi lên
đánh chặn hai đạo viện binh, giết được Liễu Thăng, Mộc Thạnh bỏ chạy về nước. Vương
Thông trong thành tuyệt vọng không còn cứu binh phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi
thực hiện "hội thề Đông Quan", xin rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa.
Bài chi tiết: Khởi nghĩa Lam Sơn
Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết
về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam (sau bài
thơ Nam quốc sơn hà).
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, ban thưởng cho 227 công thần, Nguyễn Trãi được phong là
Dương Thị Bí và ngôi thái tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm
hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử. Cùng lúc đó
một bà vợ khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ
đến lượt mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Nguyễn Trãi cùng một người vợ
thứ là Nguyễn Thị Lộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử
Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này).
Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn Sơn (Chí Linh,
Hải Dương ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo "hầu" vua. Trên đường về
kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa Lệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình, Bắc Ninh. Nguyễn
Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ
(tru di tam tộc) ngày 16 tháng 8 năm 1442. "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người
bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó. Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người
họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ
ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguyễn Phi Khanh, những người trong họ của các
bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử.
Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi, con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua, tức là Lê Nhân
Tông.
Gia quyến lưu tán
Theo gia phả họ Nguyễn, Nguyễn Trãi có năm người vợ:
• Bà họ Trần: Sinh ra Nguyễn Khuê, Nguyễn Ứng, Nguyễn Phù.
• Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà, Nguyễn Bảng, Nguyễn Tích.
• Bà Thị Lộ: Không có con.
• Bà Phạm Thị Mẫn: Sinh ra Nguyễn Anh Vũ (sau vụ án Lệ Chi Viên).
• Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh, Phương Quất - huyện Kim Môn, Hải
Dương.
Sau vụ án Lệ Chi Viên, dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết.
Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là:
• Nguyễn Phi Hùng , em thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh;
• Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi chạy lên Cao Bằng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn.
• Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang thai chạy về Phương Quất, huyện Kim
Cao Đế anh hùng cái thế danh
Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh
Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự
Bát bách Cơ Chu lạc thái bình
”
Dịch nghĩa
“
Đức Cao Đế (Lê Thái Tổ) là bậc anh hùng đệ nhất thiên hạ
”
Đức Văn Hoàng (Lê Thái Tông) trí dũng kế thừa cơ nghiệp
Ức Trai (Nguyễn Trãi) lòng soi sáng văn chương
Vũ Mục (Lê Khôi) bụng chứa đầy binh giáp
Mười anh em họ Trịnh (con thái uý Trịnh Khả) tất thảy đều vẻ vang phú quý
Hai cha con họ Thân (Thân Nhân Trung và Thân Nhân Tín) đều hưởng ân vinh
lớn
Cháu hiếu là Hồng Đức (Lê Thánh Tông) nay kế thừa nghiệp lớn
Vui hưởng thái bình như nhà Chu tám trăm năm
Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh
minh và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần
sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con
nhà vua lúc gian nan, mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái Tổ
ban phong khi ông còn sống. Các công thần khác của nhà Hậu Lê thường được các vua đời
sau truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương.
Năm 1512, vua Lê Tương Dực sai làm chế văn truy tặng ông tước Tế Văn hầu, trong đó
có câu
"Long hổ phong vân chi hội, do tưởng tiền duyên;
năm cũng không thể mai một được"
[11]
.
• Cho tới 400 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, người Việt Nam ở thế kỷ 19 vẫn rất mực
tôn quý ông và khẳng định: Nước Việt ta, từ Đinh, Lê, Lý, Trần, đời nào sáng lập cơ
nghiệp đế vương, tất cũng đều phải có các tướng tá giúp sức, nhưng tìm được người
toàn tài toàn đức như Ức Trai tiên sinh, thật là ít lắm
[12]
• Ở thế kỉ 20, thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: Nguyễn Trãi, người anh hùng
của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị: chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị
ngoại giao "mở nền thái bình muôn thủa, rửa nỗi thẹn nghìn thu"; võ là quân sự:
chiến lược và chiến thuật, "yếu đánh mạnh ít địch nhiều ... thắng hung tàn bằng đại
nghĩa"; văn và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm đao: "viết thư thảo
hịch tài giỏi hơn hết một thời" (Lê Quý Đôn), "văn chương mưu lược gắn liền với sự
nghiệp kinh bang tế thế" (Phan Huy Chú). Thật là một con người vĩ đại về nhiều mặt
trong lịch sử nước ta
• Công lao, sự nghiệp của Nguyễn Trãi rõ ràng là huy hoàng, vĩ đại, Nguyễn Trãi quả
thật là anh hùng, là khí phách, là tinh hoa của dân tộc. Công lao quý giá nhất và sự
nghiệp vĩ đại nhất của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước yêu dân tha thiết và sự
nghiệp đánh giặc cứu nước vô cùng vẻ vang của ông. Ông đã đem hết tâm hồn, trí
tuệ, tài năng phục vụ lợi ích của dân tộc trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn. Tư
tưởng chính trị quân sự ưu tú và tài ngoại giao kiệt xuất của ông đã dẫn đường cho
phong trào khởi nghĩa Lam Sơn đi tới thắng lợi.
[14]
Thiên tài của Nguyễn Trãi là sản
phẩm của phong trào đấu tranh anh dũng của dân tộc trong một cao điểm của lịch sử.
Thiên tài ấy đã để lại một sự nghiệp lớn về nhiều mặt mà chúng ta còn phải tiếp tục
tìm hiểu thêm mới có thể đánh giá đầy đủ và chính xác được. Dầu sao, nếu chỉ xét về
mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm một cột mốc quan
trọng trên con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực văn học.
và vĩnh cửu của vũ trụ. Cũng từ đó giải phóng khỏi mọi loại tù ngục của qui ước, giáo
điều, thiên kiến trong cách nhìn, cách nghĩ thông thường để dùng con mắt nhìn của trẻ
thơ ghi nhận cảnh vật và tái hiện lại trong một thế giới thơ trong trẻo mà quyến rũ lạ
thường.
Từ góc độ của cái "chân" và sự vĩnh cửu của cả không gian, thời gian và tâm linh
này, nhìn lại mọi vật, mọi việc mới thấy hết những gì là giả tạm. Những ai "nửa đời
giam buộc mãi trong cát bụi" của cuộc sống đua chen danh lợi thực quả giống như kẻ
lạc lối xa nhà mà lời gọi "Hỡi người, sao chẳng về đi?" kia đã làm sực tỉnh. Hỏi người
mà cũng là tự hỏi mình. Thương mình mà cũng là thương xót biết bao con người cùng
cảnh ngộ. Hiểu được hạnh phúc đích thực, cũng như một thiền gia trong khoảnh khắc
"đốn ngộ", nhà thơ của Côn Sơn chợt cảm thấy "vạn chung cửu đỉnh" mới vô nghĩa làm
sao và tất cả niềm vui mà bầu nước lã, bát cơm rau mang lại cho con người. "Uống
nước trong, ăn cơm rau, tùy theo hoàn cảnh mà tự thấy đủ" là lời sẻ chia kinh nghiệm
chân tình đầy lòng nhân ái. Một kinh nghiệm giản dị như chân lý bao giờ cũng giản dị
nhưng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra. Mục đích của đời người là đi tìm hạnh phúc
cho cuộc sống, tuy cách quan niệm về hạnh phúc có khác nhau. Và trong khi mọi
người mải đi tìm những đường vòng đến có lúc quên mất cả mục tiêu cần tới thì
Nguyễn Trãi đã chỉ ra cho họ con đường ngắn nhất: hạnh phúc ở ngay trong thực tại,
trước mắt, nơi những gì ta đang có. Thật nhân văn là ở chỗ này: quý trọng từng giây
phút mà ta đang sống, biết sống vui để không lãng phí cuộc đời. Nhân văn còn ở thái
độ đối với bản thân mình, không dày vò lao nhọc tâm trí và thân xác để đi tìm những
vật ngoài thân như "vàng đầy thành", "hồ tiêu tám trăm hộc", kể cả cái danh "tôi
trung không thờ hai chúa" mà Bá Di, Thúc Tề theo đuổi. Xét về mặt dưỡng sinh, sống
gần gũi thiên nhiên, trí ít lo âu toan tính, lòng trong sáng cởi mở, ăn uống thanh đạm
những gì sức mình lao động kiếm được là cách sống đem lại sức khỏe, tuổi thọ và sự
yêu đời. Đó cũng là khía cạnh thiết thực nhất của quan niệm sống giàu chất nhân văn
này.
Khi nghe qua ví dụ về Đổng Trác, Nguyên Tải rồi tiếp đến là Bá Di, Thúc Tề, dễ có
cảm tưởng như một bên đưa ra là để phê phán, còn một bên là để ngợi ca. Thực ra,
theo Nguyễn Trãi, "hiền ngu hai đàng không so sánh được với nhau", nhưng "mỗi đàng
bao gần gũi, có thể kết bạn tri kỷ hoặc tranh luận cùng nhau về quan niệm sống, vì
những vấn đề thuộc về con người đều là muôn thuở. Bối cảnh không – thời gian trong
khúc ca Côn Sơn mở rộng không giới hạn, nội dung bài ca giản dị, nhẹ nhàng nhưng là
những chân lý tối hậu. Cái lớn của Côn Sơn ca là ở đó. Một khúc ca chứ không phải bài
thơ, lại càng không phải là một áng văn lý luận đạo mạo. Nguyễn Trãi viết để ca lên,
để làm vui mình,và mời người cùng chia sẻ niềm an lạc của tâm hồn. Nhưng với đời
sau, Côn Sơn ca lại là một tổng hòa chất minh triết của trí tuệ, lòng nhân ái nồng hậu
với con người và chất thơ bay bổng, thanh thoát của một tâm hồn nghệ sĩ. Ở đó, còn
thấy được một ngòi bút nghệ thuật tài hoa. Bài ca được viết thật tự do, sảng khoái.
Những ý nghĩ có thể dồn đuổi nhau thành những câu hỏi liên tục đẩy những vấn đề về
nhân sinh lên đến mức bức xúc nhất, để rồi giản ra sâu lắng thâm trầm sau lời lý giải
giản dị và điềm đạm.
Đàng sau Côn Sơn ca là cái nền của triết học và mỹ học phương Đông được tổng
hợp một cách linh hoạt từ cả Nho, Phật và Đạo. Dung hòa được những nguồn tư tưởng
này đã là sáng tạo. Nhưng nếu chỉ có thế thì chưa đủ để bài ca Côn Sơn có sức hấp
dẫn bền lâu đến thế. Điều đáng nói chính là cốt cách Việt Nam toát ra từ đó. Đó cũng
là cốt cách của Nguyễn Trãi: luôn quan tâm đến hạnh phúc của con người. "Cần gì phải
muôn chung chín đỉnh; uống nước lã, ăn cơm rau, tùy theo phận mình cũng cảm thấy
đủ". Trong một bài thơ khác, Nguyễn Trãi từng khuyên: "Nằm có chiếu chăn cho ấm
áp; Ăn thì canh cá chớ khô khan. Phúc dầu hay đến trăm tuổi; Mình thác thì nên mọi
của tan" (Bảo kính cảnh giới VII). Hai lời khuyên tuy có khác nhau nhưng cùng một ý
tứ: Nên biết quý và vui hưởng những gì mình có, không nên bỏ phí đời sống thực tại
để chạy theo những cái ngoài tầm tay. Hạnh phúc đích thực của đời người là điều nhà
thơ luôn muốn nhủ khuyên, cảnh tỉnh mọi người.
Tầm cao của Côn Sơn ca không chỉ ở sự thâm uyên về cái nhìn triết học, sự thực
hiện đại hòa điệu giữa "ta" và "vật" hồn nhiên đầy minh triết. Đàng sau bài ca Côn Sơn
còn là vô hạn một tấm lòng. Nét riêng của dân tộc, của Nguyễn Trãi trong cái chung
của phong cách phương Đông là ở đó.
Hồ Xuân Hương:
Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà
• Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm,
bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà
nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước.
• Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ
Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai
đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn
và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông
Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến).
Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến
mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió.
Các tác phẩm:
Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ
chữ Nôm truyền miệng.
Năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã công bố 5 bài thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương trên báo
Văn nghệ viết về vịnh Hạ Long. Đến năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch và đặt tên
cho 5 bài thơ này (bao gồm: Độ Hoa Phong, Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Trạo ca thanh,
Thuỷ vân hương) và công bố trong bài Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long, đăng trên tập san
Khoa học xã hội, tại Paris vào năm 1984.
Năm 1964, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại phát hiện một tập thơ nữa tên là Lưu hương
ký , theo những nghiên cứu đến nay nhiều người tán thành rằng những bài thơ trong đó là của
Hồ Xuân Hương. Lưu Hương Kí là tập thơ có nội dung tình yêu gia đình, đất nước, nó không
thể hiện rõ cá tính mạnh mẽ của Hồ Xuân Hương, cho nên, việc nghiên cứu giá trị thơ Hồ
Xuân Hương chủ yếu được thực hiện trên những bài thơ Nôm truyền tụng của bà.
Bà Huyện Thanh Quan
Bà Huyện Thanh Quan (? -?), tên thật: Nguyễn Thị Hinh, là một trong những nhà thơ nữ
nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam
Tiểu sử:
Nguyễn Thị Hinh người phường Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội
Cha bà là Nguyễn Lý (1755-1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông. Bà là
học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760-1825), và là vợ Lưu Nghị(1804 -1847), người
Nhận xét
Trích:
• Dương Quảng Hàm :
Những bài thơ Nôm của bà phần nhiều là tả cảnh, tả tình, nhưng bài nào cũng hay
và tỏ ra bà là một người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức
thường nghĩ ngợi đến nhà, đến nước. Lời văn rất trang nhã, điêu luyện.
[8]
• Thanh Lãng :
Thơ Bà Huyện Thanh Quan đầy chất thơ. Lời thơ của bà điêu luyện, gọt giũa, đẹp
như một bức tranh cổ
• Phạm Thế Ngũ :
Nhiều nhà phê bình đã đưa ra thuyết Bà Huyện Thanh Quan mang nặng tấm lòng
thương tiếc nhà Lê, thuyết ấy không phải là vô căn cứ. Cái tâm trạng hoài Lê ấy,
cũng là tâm trạng chung của nhiều nho sĩ Bắc Hà sau ngày thống nhất...Nhưng nói
là nhớ tiếc cái chính trị của mấy ông vua thời Lê mạt thì không đúng. Bà hướng về
một quá khứ mà có lẽ bà cũng không tường tận lắm, và bà cũng chưa thọ hưởng
được ân huệ gì; nhưng đó là quá khứ của tiền bối, của gia đình...Vì thế thái độ hoài
Lê của bà cũng như nhiều nho sĩ đồng thời không có tính cách chính trị, mà chỉ có
tính cách tâm tình...
Về mặt nghệ thuật: chữ dùng khéo, chọn lọc, thích đáng, đối rất chỉnh, rất thần tình,
ý hàm súc, lời trau chuốt, gọn, đẹp...Cho nên thơ bà rất được các nho gia xưa yêu
chuộng, ngâm nga...
Thơ luật đời Nguyễn Sơ, ở tác phẩm của hai nữ sĩ là Hồ Xuân Hương và Bà Huyện
Thanh Quan, như vậy quả đã tiến đến cao độ mỹ diệu. Thơ Hồ Xuân Hương thiên về
Nôm mà bóng bẩy, duyên dáng. Thơ Bà Huyện Thanh Quan thiên về Hán mà thanh
thoát, nhẹ nhàng. Hồ Xuân Hương đại biểu cho cái tinh thần trào phúng bình dân
vươn lên thể hiện một hình thức bác học. Bà Huyện Thanh Quan đại biểu cho cái
tinh thần tao nhã nho sĩ kết tinh lại, cùng với tinh túy của Đường thi...
• Từ điển Văn học (bộ mới):
Thơ bà thường viết về thiên nhiên, phần lớn là vào lúc trời chiều, gợi lên cái cảm