ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
NINH BẢO KHÁNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA CẢM NHẬN HẠNH PHÚC VỚI TÍNH ÁI KỶ
VÀ LÒNG TỰ TRỌNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------
NINH BẢO KHÁNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA CẢM NHẬN HẠNH PHÚC VỚI TÍNH ÁI KỶ
VÀ LÒNG TỰ TRỌNG
Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC
Mã số: 60 31 04 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. Trương Thị Khánh Hà
HÀ NỘI – 2020
hội được tiếp xúc, chia sẻ và có được số liệu cần thiết phục vụ cho đề tài
nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng
Học viên
Ninh Bảo Khánh
năm 2020
MỤC LỤC
Số thứ
Nội dung
tự
Trang
1
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1
2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẢM NHẬN
HẠNH PHÚC, TÍNH ÁI KỶ VÀ LÒNG TỰ TRỌNG
1.1
Tổng quan nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ,
lòng tự trọng
4
5
5
1.1.1
Các nghiên cứu ở nước ngoài
5
1.1.2
Các nghiên cứu ở trong nước
12
1.2
26
1.3.2
Luận điểm lý thuyết về tính ái kỷ
28
1.3.3
Luận điểm lý thuyết về lòng tự trọng
29
Mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và
30
1.3
1.4
lòng tự trọng
Tiểu kết chương 1
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
31
33
49
3.3
Thực trạng lòng tự trọng ở sinh viên
54
3.4
Mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và
lòng tự trọng
3.5
57
Sự tương đồng và khác biệt theo một số yếu tố nhân khẩu
60
Tiểu kết chương 3
63
KẾT LUẬN
65
chung
Bảng 4
Điểm trung bình các nhân tố thang đo cảm nhận hạnh
phúc và độ lệch chuẩn
Bảng 5
Cảm nhận hạnh phúc chủ quan MHC – SF của sinh viên
(N = 360)
Bảng 6
Cảm nhận hạnh phúc của sinh viên (N = 360)
Bảng 7
Tương quan giữa từng mệnh đề với toàn bộ thang đo tính
ái kỷ và độ tin cậy của thang đo nếu loại bỏ từng mệnh
Trang
43
44
45
46
Bảng 12
Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc
với lòng tự trọng
55
57
58
Bảng 13
Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc
với tính ái kỷ và lòng tự trọng
Bảng 14
Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc
với tính ái kỷ và lòng tự trọng (so sánh theo giới tính)
Bảng 15
59
60
Tương quan giữa các thành tố của cảm nhận hạnh phúc
với tính ái kỷ và lòng tự trọng (so sánh về tình trạng kinh
PWI
Chỉ số hạnh phúc (Personal Well-being Index)
3
HPI
Chỉ số hạnh phúc hành tinh (Happy Planet Index)
4
MHC
Thang đo phổ sức khỏe tinh thần (Mental Health
Continuum)
5
NPI
Nhân cách ái kỷ (Narcissism Personality Inventory)
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cảm nhận hạnh phúc chủ quan đã được các nhà Tâm lý học quan tâm
như một hướng nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực tâm lý học tích cực.
Nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc giúp tìm hiểu thêm về chất lượng cuộc
sống của mỗi cá nhân trong môi trường gia đình, xã hội và cộng đồng về mức
tìm hiểu về tính ái kỷ giúp đánh giá chung về mức độ tự yêu bản thân mình –
điều mà thường xuất hiện thấy trong giai đoạn đầu tuổi trưởng thành. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều dạng ái kỷ với những mức độ khác nhau.
Tính ái kỷ có tương quan thuận với điều kiện kinh tế và tương quan nghịch
với tuổi một cách có ý nghĩa. Mặc dù mối tương quan này chỉ ở mức yếu, kết
quả vẫn có sự phù hợp với kết quả của một nghiên cứu ở Trung Quốc, sử
dụng mẫu internet trên diện rộng, theo đó, người trẻ tuổi có tính ái kỷ cao hơn
những người lớn tuổi; người từ các tầng lớp kinh tế xã hội cao có tính ái kỷ
cao hơn so với những người lớp xã hội thấp [5, tr 46].
Xuất phát từ những kết quả nghiên cứu đi trước cả trong nước lẫn nước
ngoài về cảm nhận hạnh phúc chủ quan, tính ái kỷ và lòng tự trọng, chúng tôi
muốn tìm hiểu, nghiên cứu về mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính
ái kỷ và lòng tự trọng trên khách thể là sinh viên. Chúng tôi mong muốn kết
quả nghiên cứu này sẽ tạo nên một bức tranh đa dạng và phong phú về cảm
nhận hạnh phúc của người Việt nói chung. Chỉ ra được thực trạng về cảm
nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự trọng của sinh viên; sự khác nhau giữa
giới tính, điều kiện kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến cảm nhận hạnh
phúc của sinh viên? Liệu mức độ về lòng tự trọng, tính ái kỷ (cao, thấp) có
ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, cảm nhận hạnh phúc của sinh viên hay
không?
2
Đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn khách thể là sinh viên bởi lẽ
sinh viên thuộc nhóm độ tuổi có nhiều biến động về tâm sinh lý chịu ảnh
hưởng từ môi trường sống trong gia đình và ngoài xã hội. Điều kiện kinh tế,
mối quan hệ bạn bè trên trường học ít nhiều ảnh hưởng đến cảm nhận hạnh
phúc của sinh viên, tự đánh giá của sinh viên về bản thân mình.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu này nhằm trả lời cho
câu hỏi:
- Lựa chọn các thang đo: Cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ, lòng tự trọng.
4.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát thực trạng cảm nhận hạnh phúc, tính ái kỷ và lòng tự trọng của sinh
viên.
- Phân tích mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc với tính ái kỷ và lòng tự
trọng.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao cảm nhận hạnh phúc của sinh viên.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1.
Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc (subjective well-being) giới hạn
trên phương diện: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý và hạnh phúc xã hội
(Keyes, 2002).
Nghiên cứu tính ái kỷ (Narcissism) thông qua thang đo Nhân cách Ái kỷ
(Raskin và Terry, 1998)
Nghiên cứu lòng tự trọng (Self-esteem) thông qua thang đo Lòng tự trọng
(Rosenberg, 1965)
5.2.
Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu ở một số trường đại học trên địa bàn Hà Nội.
5.3.
tư triết học, mà đã dần trở thành khoa học thực nghiệm, nhất là đối với ngành
tâm lý học, xã hội học, không chỉ ở Tây Âu, mà còn ở Bắc Mỹ và nhiều nơi
khác trên thế giới. Tuy vậy, phải đến gần đây, ở Phương Tây, người ta mới
thừa nhận Khoa học Hạnh phúc (Science of Happiness) là một ngành nghiên
cứu tương đối độc lập với đối tượng nghiên cứu là hạnh phúc. Martin
Sehgman, GS. Đại học Pennsylvania, Chủ tịch Hiệp hội bác sĩ tâm lý Mỹ là
một trong những người nhiệt thành lên tiếng đòi môn nghiên cứu về hạnh
phúc phải được chú trọng với tính cách là một khoa học liên ngành, chuyên
nghiên cứu định lượng về hạnh phúc, nhằm bổ sung, thay thế cho những lĩnh
vực mà triết học và tôn giáo còn đang giải thích một cách rối rắm hoặc trừu
tượng.
Từ đầu thế kỷ XX thì khái niệm hạnh phúc chủ quan (Subjective Wellbeing) mới được hình thành để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “điều gì làm cho
con người ta cảm thấy hạnh phúc?”. Sự khởi điểm chỉ bắt đầu khi vào năm
5
1980 – 1990, các nghiên cứu về hạnh phúc chủ quan mới thực sự được quan
tâm và chú ý đến (Diener, 1984; Argyle, 1987; Myers, 1992; Ryff, 1989;
Diener, 2000; Keyes, 1998, 2002).
Thời điểm từ năm 1925, tác giả Flugel nghiên cứu tâm trạng bằng cách
ghi chép lại các sự kiện tình cảm và sau đó tổng hợp phản ứng cảm xúc qua
từng khoảnh khắc. Việc làm này của Flugel là tiền thân của phương pháp thực
nghiệm mẫu hiện đại để đo lường sự cảm nhận hạnh phúc chủ quan trực tuyến
như con người nói về cuộc sống hàng ngày của họ. Sau thế chiến thứ hai, các
nhà nghiên cứu bắt đầu cho mọi người khải sát bằng cách bỏ phiếu về sự hạnh
phúc và sự hài lòng với cuộc sống thông qua bảng hỏi dùng cho mẫu toàn cầu.
Các cuộc thăm dò dư luận được nghiên cứu trên một số lượng lớn những
người thường được chọn để tạo các mẫu đại diện của các quốc gia. George
Gallup, Gerald Gurin và các đồng nghiệp và Hadley Cantril đi tiên phong
trong việc sử dụng các cuộc điều tra quy mô lớn như là một kỹ thuật để đánh
chung. Các quan điểm lớn được một số tác giả đưa ra. Đối với Diener thì hiểu
cảm nhận hạnh phúc là một khái niệm bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn các
trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức độ thấp và sự hài lòng với cuộc sống ở mức
độ cao (Diener, 2000).
Ngoài ra còn một tác giả khác là Keyes thì hạnh phúc bao gồm sự khỏe
mạnh về tinh thần, những cảm xúc tích cực và sự vận hành tốt các chức năng
tâm lý, xã hội trong cuộc sống (Keyes, 2002).
Cummins và Lau (2003) thì cho rằng con người hạnh phúc khi họ hài
lòng với những chiều cạnh làm nên chất lượng cuộc sống của mình. Vì thế mà
hai tác giả đã xây dựng thang đo Chỉ số hạnh phúc cá nhân (Personal Wellbeing Index – PWI) trên cơ sở các chiều cạnh của chất lượng cuộc sống.
Bài nghiên cứu “Tổng quan về hạnh phúc chủ quan” (Subjective wellbeing: a general overview) của Ed Diener và Katherine Ryan đã cung cấp một
7
cái nhìn toàn diện về hạnh phúc chủ quan dưới góc độ những lợi ích xã hội và
cá nhân, mối liên hệ với nhân khẩu học, những lý thuyết về nguồn gốc, và
mối quan hệ của nó với văn hóa. Các cách thức để tăng cường hạnh phúc
cũng được đề cập và các tác giả cũng đưa ra luận điểm về những tranh cãi
xung quanh việc những báo cáo quốc gia của hạnh phúc chủ quan về chính
sách công cũng nên được xem xét và tận dụng, cùng với những chỉ báo kinh
tế và xã hội, tất cả những chỉ báo này đều có khả năng phản án và tăng cường
chất lượng cuộc sống của đất nước đó.
Một là, về khái niệm “hạnh phúc chủ quan” (Subjective Well-being), Ed
Diener và Katherine Ryan định nghĩa “hạnh phúc chủ quan là thuật ngữ có
tính khái quát được sử dụng để mô tả mức độ hạnh phúc mà con người trải
qua dựa trên những đánh giá chủ quan của họ về cuộc đời”.
Hai là, về các phương pháp mà các tác giả tiếp cận thì bao gồm các
phương pháp tự thuật và các phương pháp đo lường không mang tính tự thuật.
Các phương pháp tự thuật nhóm phương pháp đo lường phổ biến được sử
dụng để tiếp cận hạnh phúc chủ quan. Nhóm phương pháp này yêu cầu người
Theo tác giả Kernberg (1975) thì thần thoại về câu chuyện của chàng
trai mang tên Narcissus đặt nền móng cho miêu tả về một căn bệnh lâm sàng
có đặc điểm yêu bản thân thái quá, biểu hiện trong các đặc điểm như: Mình
cao đẹp hơn người khác, sự kỳ vọng được ca tụng tán dương hay hâm mộ, sự
phóng đại tài năng của chính mình và lợi dụng người khác để làm tư lợi cá
nhân.
Các nghiên cứu đã cung cấp thêm nhiều bằng chứng về độ hiệu lực của
tính ái kỷ như là một nét nhân cách, cũng như độ hiệu lực của thang NPI
(Narcissism Personality Inventory). Cấu trúc yếu tố của thang NPI được tìm
ra bởi Emmons (1984) cũng được xác nhận. Tính ái kỷ bao gồm 4 yếu tố có
tương quan trung bình với nhau, liên quan đến 4 lĩnh vực lãnh đạo
9
(leadership), tự ngưỡng mộ (self-admiration), ưu thế (superiority), và lợi dụng
quan hệ với người khác (interpersonal exploitiveness).
Mặc dù tính ái kỷ được chỉ ra có mối tương quan với lòng tự trọng
(self- esteem) cao (Emmons, 1984), nhưng một số nhà lý thuyết (xem
Kernberg, 1980) cho rằng vẻ ngoài tự tin chỉ dùng để che dấu sự yếu đuối sâu
bên trong của tính ái kỷ, đặc biệt khi gặp thất bại hay bị chỉ trích. Dẫn dắt đến
dự đoán của một số nhà nghiên cứu rằng các cá nhân ái kỷ sẽ phản ứng với
các trải nghiệm tích cực và tiêu cực một cách mạnh mẽ và điều này phụ thuộc
vào cảm giác về giá trị cá nhân của người đó.
Thêm vào đó, chúng ta biết rằng hành vi ái kỷ được coi là kiểu phản
ứng tương đối thiếu trường thành (Kernberg, 1980; Plutchik, Kellerman, &
Conte, 1979), và những cá nhân thiếu trường thành có cái nhìn khá đơn giản
về bản thân.
Fischer (1984) khám phá ra rằng các cá nhân có tính ái kỷ cao có nhiều
đặc điểm tích cực hơn là các cá nhân có tính ái kỷ thấp (dẫn theo Emmons,
1987).
trúc được sử dụng. Thang đo đã cho thấy độ tin cậy ổn định bên trong đầy đủ
và các kết quả của phân tích nhân tố xác nhận cho thấy sự phù hợp. Nó cũng
thể hiện mối tương quan có ý nghĩa với các cấu trúc lý thuyết liên quan trong
hệ thống hợp pháp.
Dựa vào vai trò quan trọng của sự tự đánh giá tích cực đối với sức khỏe
tinh thần (Taylor & Brown, 1988), các nhà nghiên cứu đã dự đoán rằng các cá
nhân có lòng tự trọng quan hệ cao cũng sẽ cho thấy sự hài lòng về cuộc sống
là cao hơn. Mặc dù các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng lòng tự trọng cá
nhân đem lại lợi ích cho sức khỏe tinh thần, các nghiên cứu gần đây chỉ ra
rằng lòng tự trọng tập thể và quan hệ cũng có liên quan tới sức khỏe tinh thần.
11
Lòng tự trong tập thể đã cho thấy là có liên hệ tích cực với sự hài lòng cuộc
sống (Crocker và cộng sự, 1994;. Zhang, 2005).
Nghiên cứu về lòng tự trọng quan hệ thể hiện cho thấy lòng tự trọng
quan hệ là có liên quan tích cực (thuận) với sự hài lòng cuộc sống; hơn nữa,
lòng tự trong quan hệ có tương quan tiêu cực (nghịch) với trầm cảm (Neff &
Suizzo, 2006; Snell Jr & Finney, 2002).
Tuy nhiên, có một sự khan hiếm về nghiên cứu đối với lòng tự trọng
quan hệ.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Gần đây, vấn đề về cảm nhận hạnh phúc (subjective well-being) đã
được nhiều sự quan tâm từ các đề tài khóa luận, luận văn của sinh viên Khoa
Tâm lý học. Tác giả Trương Thị Khánh Hà đã có đề tài nghiên cứu về “cảm
nhận hạnh phúc chủ quan của người trưởng thành” (2015) với thang đo Phổ
sức khoẻ tinh thần - MHC (Mental Health Continuum) để đánh giá hạnh phúc
chủ quan của con người. Dựa trên quan niệm hạnh phúc (well-being) là sự
khoẻ mạnh về tinh thần, kế thừa các mô hình và thang đo sức khoẻ tinh thần
gia: “Hạnh phúc của người Việt Nam: quan niệm, thực trạng và chỉ số đánh
giá” (ĐTĐL.XH-03/15). Thời gian thực hiện 30 tháng (từ tháng 10/2015 đến
tháng 3/2018). Mục tiêu tổng quát của đề tài: Xác định khái niệm hạnh phúc
của người Việt Nam và bộ chỉ số đánh giá hạnh phúc của người Việt Nam
thích ứng với chuẩn quốc tế, đồng thời mang những đặc trưng riêng của người
Việt Nam. Báo cáo đã được nghiệm thu vào tháng 03 năm 2018 [6].
Trong bài “Nghiên cứu định lượng về hạnh phúc và chỉ số hạnh phúc
(HPI) của Việt Nam”, Hồ Sĩ Quý (PGS. TS. Viện trưởng Viện thông tin
KHXH) đề cập tới Báo cáo chỉ số hạnh phúc hành tinh (HPI - Happy Planet
Index) được công bố vào tháng 7/2006 - tập hợp và đưa ra được bức tranh về
thực trạng hạnh phúc của 178 nước. HPI được tính theo công thức:
13
HPI = (Life Satisfaction x Life Expectancy) / Ecological Footprint
Chỉ số hạnh phúc hành tin h= (Mức độ hài lòng với cuộc sống x Tuổi
thọ)/Môi sinh
Theo Báo cáo, HPI cao nhất thế giới năm 2006 thuộc về Vanuatu, một
quần đảo ở nam Thái Bình Dương với HPI - 68,2. Thấp nhất là Zimbabwe với
HPI: 16,6. Việt Nam trong Báo cáo đạt được chỉ số HPI là 61,2 với chỉ số hài
lòng với cuộc sống là 6,1, chỉ số tuổi thọ là 70,5 và chỉ số môi sinh là 0,8.
Điều thú vị là, Việt Nam đứng thứ 12 trong số 178 nước, trên cả Trung Quốc
(31/178), Thailand (33/178), Italia (66/178), Nhật Bản (95/178), Mỹ
(108/178) và hơn 160 nước khác.
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu khoa học về hạnh phúc còn chưa phong
phú. Việc chú ý hơn đến vấn đề nghiên cứu hạnh phúc và bộ chỉ số đánh giá
hạnh phúc của người Việt Nam, đặt nó trong vị thế tương xứng không những
có tác dụng đóng góp thêm số liệu cụ thể của nghiên cứu vào tri thức nhân
loại mà còn góp phần minh chứng cho bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, cung cấp những tri thức nền tảng trong việc hình thành
Sự hài lòng của cuộc sống được định nghĩa như là một thành tố của
hạnh phúc chủ quan và có một đặc điểm chung (Diener, 1984) [13].
Theo Diener, Horowitz và Emmons (1985) sự hài lòng cuộc sống là
một quá trình phê phán được quy định bởi “một sự so sánh hoàn cảnh của một
người với những gì được cho là tiêu chuẩn phù hợp” [15].
Hạnh phúc chủ quan được Diener (2000) định nghĩa như là sự đánh giá
về nhận thức và tình cảm của một người đối với cuộc sống của họ. Những
đánh giá này bao gồm các phản ứng cảm xúc đối với các sự kiện, cũng như
nhận thức về sự hài lòng và sự thỏa mãn với cuộc sống. Nói cách khác, theo
Diener, hạnh phúc chủ quan là một khái niệm rộng bao gồm các trải nghiệm
thỏa mãn, các trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp, và sự hài lòng với cuộc
sống ở mức cao (Diener, 2000) [3].
Trong đề tài nghiên cứu này, tôi đồng ý với quan điểm của tác giả
Keyes (1998, 2002) với quan điểm cho rằng “hạnh phúc chủ quan là sự nhận
15
thức và đánh giá của cá nhân về cuộc sống của mình, về các trạng thái cảm
xúc, về các chức năng tâm lý và xã hội của bản thân”. Hạnh phúc ở đây chính
là sự khỏe mạnh trong tinh thần, thể hiện với những cảm xúc mang tính tích
cực và sự vận hành tốt các chức năng tâm lý, xã hội trong cuộc sống bao gồm
3 thành tố: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý, hạnh phúc xã hội (Keyes,
2002).
1.2.2. Tính ái kỷ
Tính ái kỷ xuất hiện lần đầu tiên trong tài liệu Tâm lý học năm 1898
khi Harvelock Ellis sử dụng thuật ngữ Narcissus để muốn nói đến “một xu
hướng về những xúc cảm tình dục bị thất lạc và gần như hoàn toàn bị thu hút
trong sự tự ngưỡng mộ bản thân” (Ellis, 1898).
Nacke (1899) đã có một bản tóm tắt bằng tiếng Đức về tài liệu của Ellis
và ông sử dụng thuật ngữ Narcismus để muốn nói đến sự loạn dâm khi một