tiểu luận tài chính công nghiên cứu ngưỡng chịu đựng nợ công của nền kinh tế việt namf - Pdf 66

MỤC LỤC
Phần I: Cơ sở lý thuyết về nợ công...............................................3
1, Khái niệm....................................................................................3
2, Mục tiêu vay nợ..........................................................................3
3, Phương thức vay nợ...................................................................3
4, Những tác động tiêu cực và ngưỡng nợ công...........................4
5, Cách tính nợ công.......................................................................4
6, Nguồn tră nợ công......................................................................4
7, Ngưỡng nào cho nợ công...........................................................4
Phần II: Các nghiên cứu về ngưỡng nợ công và các phương
pháp xác định ngưỡng nợ công của Việt Nam...........................5
1, Đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và mô
hình nghiên cứu............................................................................5
2, Một số phương pháp đo lường ngưỡng nợ công......................7
2.1. Phương pháp Cây nhị phân và ứng dụng trong
phân tích nợ công .........................................................................7
2.2. Phương pháp kinh tế lượng và ứng dụng phân tích nợ
công ................................................................................................15
Phần III: Thực trạng nợ công và ngưỡng nợ công an toàn
của Việt Nam từ năm 2010 – 2016...............................................21
1, Nợ công đến đâu là an toàn.......................................................21
2, Thực trạng nợ công của Việt Nam giai đoạn
2010 – 2016.....................................................................................23
3, Đề xuất ngưỡng nợ công cho Việt Nam
giai đoạn 2010 -2020 .....................................................................25
4, Giải pháp.....................................................................................26

1


LỜI MỞ ĐẦU

Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế
(IMF), nợ công, hay còn gọi là nợ chính phủ, là những phần nghĩa vụ nợ trực tiếp hoặc
được thừa nhận của chính phủ một quốc gia với phần còn lại của nền kinh tế và nước
ngoài.
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ
của 4 nhóm chủ thể bao gồm:
(1) nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;


(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;
(3) nợ của Ngân hàng trung ương;
(4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn.
Như vậy, có thể khái quát, nợ công là toàn bộ các khoản vay nợ của các cấp chính
quyền từ trung ương đến địa phương tại một thời điểm nào đó.
2. Mục tiêu vay nợ
Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới có thể thấy hầu như không có nền kinh tế nào “miễn
dịch” với “căn bệnh” nợ công. Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ
công là phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích chung, chứ không phải để thỏa mãn những
lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.
Nợ công thường phát sinh do các cấp chính quyền chi tiêu (kể cả chi thường xuyên và
chi đầu tư) nhiều hơn thu, hay nói cách khác nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt
ngân sách chính phủ và quy mô nợ công đúng bằng quy mô thâm hụt ngân sách tích tụ
qua các năm. Để bù đắp thâm hụt ngân sách, các chính phủ phải đi vay trong và ngoài
nước chứ không được phát hành tiền để tránh nguy cơ xảy ra lạm phát cao.
Hoạt động vay nợ giúp chính phủ tăng cường nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và
tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước; tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi
trong dân cư; sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính quốc tế.
3. Phương thức vay nợ
Việc đi vay của chính phủ có thể được thực hiện thông qua phát hành trái phiếu chính
phủ, vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế,

chính của Chính phủ, hay nợ ròng Chính phủ, tức tổng nợ tài chính trừ đi tổng tài sản
tài chính Chính phủ nắm giữ.
6. Nguồn trả nợ công
Nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và Nhà nước phải có trách
nhiệm hoàn trả. Nợ công không xấu nếu một quốc gia có khả năng thanh toán nó.
Nguồn để trả nợ công là các khoản thu trong tương lai bao gồm cả thu ngân sách và
thu từ các dự án đầu tư bằng nguồn vốn vay (nếu có). Do rất nhiều chính phủ trên thế
giới có thâm hụt ngân sách, kể cả ngân sách chính phủ ở các nước công nghiệp phát
triển và đang phát triển nên vấn đề nợ công rất phổ biến trên toàn cầu.
7. Ngưỡng nào cho nợ công?
Không phải lúc nào nợ công cao cũng sẽ ngay lập tức mang lại những kết cục bi đát.
Thực tế trên thế giới cho thấy những cuộc khủng hoảng nợ công chỉ diễn ra khi chính
phủ quốc gia nào đó không thể trả nợ đúng hạn, cả nợ gốc và nợ lãi, nên phải tuyên bố
phá sản quốc gia hoặc cầu cứu sự trợ giúp quốc tế.
Có nhiều nghiên cứu về bản chất của khủng hoảng nợ công đã được tiến hành, đồng
thời cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khủng hoảng nợ công. Theo định
nghĩa của Manasse, Roubini và Schimmelpfennig (2003): “Một quốc gia được cho là
bị khủng hoảng về nợ công nếu được Standard & Poor’s xếp hạng là vỡ nợ, hoặc được
nhận một khoản vay không ưu đãi lớn của IMF”.
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính của một
nền kinh tế. Chính vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toàn hay
không trở nên vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư cũng như chính bản thân chính
phủ của quốc gia đó. Nhờ đó mà xếp hạng tín dụng nợ công ra đời.
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về mức ngưỡng an toàn đối
với các chỉ tiêu về nợ công để áp dụng cho tất cả các nước.
Việc xác định các chỉ tiêu an toàn về nợ công của từng nước thường được dựa trên cơ
sở đánh giá thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ, nhu cầu
về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có thể tham khảo khuyến



được đo lường một cách chính xác thì thâm hụt và nợ công sẽ kích thích lao động,
tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Eisner lạc quan về thâm hụt và nợ công với
quan điểm nếu tỉ lệ nợ công/GDP được duy trì ở mức sao cho nợ không được tăng
nhanh hơn GDP. Kormendi phát hiện sự mở rộng nợ công sẽ đẩy mạnh tăng trưởng
kinh tế. Ông cho răng gia tăng chi tiêu chính phủ sẽ cải thiện môi trường đầu tư
quốc gia và cuối cùng là tạo ra hiệu ứng thu hút đầu tư tư nhân, Đồng tinh với quan
điểm này, IMF (2007) cho rằng trong điều kiện nền kinh tế hoạt động dưới mức
tiềm năng, một sự gia tăng tổng cầu từ mở rộng chi tiêu công sẽ thúc đẩy đầu tư khu
vực tư nhân.
Thứ hai là quan điểm chèn lấn. Thâm hụt và nợ công càng cao sẽ làm giảm tăng
trưởng kinh tế, do đó gia tăng lãi suất và gây chèn lấn đầu tư tư nhân. Nói cách
khác, khi nền kinh tế ở trong trạng thái tăng trưởng bình thường hoặc ở trên khuynh
hướng dài hạn thì sự gia tăng nợ công có lẽ gây bất lợi cho nền kinh tế. Nợ công lớn


sẽ tạo ra gánh nặng nợ mà hậu quả là làm giảm hay trì hoãn đầu tư tư nhân cho răng
tiền lời đầu tư của họ sẽ bị nhà nước nước đánh thuế cao để trả nợ. Ngoài ra, nợ
công cao sẽ gây ra hiệu ứng nghịch đối với với ổn định nền kinh tế vĩ mô, không
khuyến khích các dòng chảy vốn và gia tăng đọng cơ cho các nhà chính trị đương
quyền thực hiện trò chơi mạo hiểm, dẫn đến biến động về chính trị. Cho dù tổng đầu
tư không giảm nhưng hiệu suất đầu tư sẽ giảm vì nghi ngờ hành động đầu tư của
chính phủ không thể giải quyết gánh nặng nợ nên các nhà đầu tư muốn lựa chọn đầu
tư ngắn hạn, rủi ro thấp hơn là các dự án có rủi ro cao, dài hạn. Khu vực tư cũng
cũng phải đối mặt với các giới hạn tài trợ, đặc biệt trong các quốc gia có tỉ trọng nợ
công trong nước lớn và thị trường tài chính không phát triển, lãi suất tăng và các
ngân hàng có khuynh hướng thích tư vào trái phiếu chính phủ có rủi ro thấp. Khối
lượng nợ và kéo theo là lãi suất gia tăng có thể gây cản trở tăng trưởng và đầu tư bởi
lẽ phần tiền trả nợ công đẫ tiêu hóa hết phần lớn nguồn thu thuế, làm giảm nguồn tài
trợ dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng. Hameed, Asheaf & Chauhary(2008) kiểm ta mối
quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế của Pakistan trong khoảng thời



2.1 Phương pháp Cây nhị phân và ứng dụng trong phân tích nợ công
a. Mục tiêu và phương pháp luận
Mục tiêu của phần này là sử dụng phương pháp Cây nhị phân để đánh giá khả năng
hay xác suất xảy ra khủng hoảng nợ ở một quốc gia sử dụng số liệu ở một thời điểm
nào đó. Ứng dụng của phương pháp này trong phân tích rủi ro nợ công đã được
Manasse và Roubini thực hiện trong một nghiên cứu của họ cho IMF vào năm 2005.
Lưu ý rằng, phương pháp này không có khả năng phân tích thực trạng liên quan đến
các rủi ro về cơ cấu, kì hạn, lãi suất, khả năng thanh toán/thanh khoản, v.v… của nợ
công nói chung và nợ nước ngoài nói riêng, mà nó chỉ có khả năng chỉ ra nguy cơ và
xác suất xảy ra khủng hoảng nợ của một quốc gia nào đó dựa trên các bằng chứng thực
nghiệm trong quá khứ. Đặc biệt, phương pháp này nhấn mạnh đến vai trò của nợ nước
ngoài hơn là tổng nợ công. Việc đánh giá các rủi ro tiềm ẩn trong tương lai liên quan
đến các khía cạnh cơ cấu, kì hạn, lãi suất, khả năng thanh toán, v.v… sẽ được thực
hiện trong phần đánh giá tính bền vững của nợ công của Việt Nam ở mục tiếp theo.
b. Mẫu nghiên cứu và định nghĩa khủng hoảng nợ :
Dựa trên số liệu quan sát theo năm của 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 19702002, Manasse và Roubini đã tiến hành xây dựng Cây thực nghiệm nhị phân để phân
tích rủi ro nợ công. Trước tiên, hai nhà kinh tế này đã phân loại một quốc gia thuộc
diện có khủng hoảng nợ nếu như quốc gia đó mất khả năng chi trả gốc và lãi nợ nước
ngoài đúng hạn như phân loại của tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard &
Poor’s, hoặc khi quốc gia đó phải nhận các khoản vay phi ưu đãi vượt quá 100% hạn
mức của IMF.
Khả năng mất khả năng thanh toán chủ yếu vào quy mô của khoản nợ so với khả năng
chi trả, đo lường theo GDP, xuất khẩu, hoặc tổng thu của chính phủ. Cụ thể, chính phủ
được coi là có khả năng thanh toán nợ nếu như giá trị chiết khấu của cán cân ngân sách
cơ bản trong tương lai lớn hơn hoặc bằng với giá trị hiện tại của khoản nợ công.
Tương tự như vậy, một quốc gia được coi là có khả năng thanh toán nợ nếu như giá trị
chiết khấu của cán cân thương mại trong tương lai lớn hơn giá trị hiện tại của khoản nợ
nước ngoài. Cán cân ngân sách cơ bản và cán cân vãng lai có vai trò quan trọng do

làm tăng khả năng xảy ra khủng hoảng. Các quy định về luật pháp và bảo vệ quyền sở
hữu cũng phần nào phản ánh sự cam kết thực hiện nghĩa vụ nợ của Chính phủ một
quốc gia.
Khủng hoảng nợ cũng có thể xảy ra nếu một quốc gia mất khả năng thanh khoản chứ
không chỉ mất khả năng thanh toán. Do vậy, các thước đo về khả năng thanh khoản, ví
dụ như tỉ lệ nợ ngắn hạn/dự trữ hoặc cung tiền M2/dự trữ, cũng được xem xét trong
nhiều nghiên cứu gần đây về khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng tài chính. Các thước
đo khác về nghĩa vụ nợ, ví dụ như nhu cầu tài trợ từ bên ngoài (bằng cán cân vãng lai
cộng với nợ ngắn hạn chia cho dự trữ ngoại hối); hoặc gánh nặng trả nợ và lãi cũng có
thể là những chỉ số cần thiết phản ánh khả năng thanh khoản của một quốc gia.
-

Các biến giải thích cho khủng hoảng:

Các biến sử dụng giải thích khủng hoảng nợ công được chia thành 3 nhóm: (i) các biến
vĩ mô căn bản; (ii) các biến phản ánh sự biến động; và (iii) các biến phản ánh kinh tế
chính trị. Đặc biệt, 84 Manasse và Roubini sử dụng nhiều thước đo về nợ nước ngoài
và nợ công, các thước đo về khả năng thanh toán và khả năng thanh khoản khác nhau,
và các biến nằm trong hệ thống cảnh báo sớm (EWS) của IMF nhằm tính đến khả năng
liên kết giữa khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ.
Phân tích của các tác giả chỉ ra rằng, các thước đo phản ánh nợ nước ngoài (bao gồm
cả nghĩa vụ nợ) là tương đối thấp ở những năm không có khủng hoảng nợ. Chúng tăng
dần ở những năm trước khi khủng hoảng nợ xảy ra và hầu hết tăng tiếp trong những
năm diễn ra khủng hoảng. Các thước đo này sau đó giảm trong năm trước khi nước đó
thoát khỏi khủng hoảng mặc dù chúng vẫn còn cao hơn so với mức trước khi khủng
hoảng nợ xảy ra. Các thước đo về nợ công nước ngoài cũng có hiện tượng tương tự,
điều này cho thấy rằng nợ công nước ngoài là động lực chính đằng sau sự biến động
của tổng nợ công bởi chúng thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nợ công ở nhiều
quốc gia.
Nhóm các biến vĩ mô, bao gồm cả các biến nằm trong hệ thống EWS của IMF, cho

ngoại hối; tốc độ tăng trưởng GDP thực; tỉ lệ nợ công nước ngoài/ tổng thu ngân sách;
lạm phát CPI; số năm đến cuộc bầu cử tổng thống tiếp theo; lãi suất trái phiếu kho bạc
Mỹ; nhu cầu tài trợ từ bên ngoài (bằng cán cân vãng lai cộng với nợ ngắn hạn chia cho
dự trữ ngoại hối); định giá tỉ giá quá cao; và sự biến động của tỉ giá.
-

Phân loại vùng rủi ro/an toàn:

Các quốc gia trong mẫu nghiên cứu sẽ được xếp vào vùng an toàn hoặc rủi ro tuỳ
thuộc vào giá trị của các biến số trên ở quốc gia đó. Ví dụ, một quốc gia được coi là
nằm trong vùng an toàn nếu như nó có tổng nợ nước ngoài thấp (< 49,7% GDP); nợ
ngắn hạn nước ngoài thấp (< 130% dự trữ); nợ công nước ngoài thấp (< 214% tổng thu
ngân sách); và tỉ giá không bị định giá quá cao (mức độ định giá 86 quá cao < 48%).
Ba dạng rủi ro cũng được xác định gồm: (i) rủi ro thanh toán hay tính không bền vững
của nợ; (ii) rủi ro thanh khoản; và (iii) rủi ro tỉ giá vĩ mô. Rủi ro về tính không bền
vững của nợ được đặc trưng bởi các chỉ số sau: nợ nước ngoài vượt quá 49,7% GDP,
sự mất cân đối về tài khóa hoặc tiền tệ và nhu cầu tài trợ từ bên ngoài lớn. Rủi ro thanh
khoản được xác định bởi quy mô nợ vừa phải nhưng có nợ ngắn hạn vượt quá 130%
dự trữ, cộng với sự bất ổn chính trị và các thị trường vốn quốc tế bị kiểm soát chặt.
Cuối cùng, rủi ro tỉ giá vĩ mô là sự kết hợp của tăng trưởng thấp và tỉ giá tương đối cố
định. Mỗi một loại rủi ro này khác nhau ở khả năng gây ra khủng hoảng.


Các tác giả đã chỉ ra rằng, phương pháp này mặc dù đơn giản nhưng lại rất hữu ích
trong việc phân tích tính bền vững của nợ do nó xem xét được rủi ro dưới nhiều góc độ
khác nhau. Ví dụ, phương pháp này có khả năng chỉ ra rằng, một quốc gia có tỉ lệ vay
nợ cao nhưng xác suất xảy ra khủng hoảng có thể là thấp, trong khi quốc gia khác có
thể chỉ có tỉ lệ vay nợ ở mức vừa phải nhưng lại có rủi ro vỡ nợ khá lớn. Nguyên nhân
ở đây là do hiệu ứng kết hợp của các khoản vay sắp đáo hạn, sự bất ổn chính trị và tỉ
giá tương đối cố định có thể khiến cho khủng hoảng thanh khoản có thể dễ xảy ra hơn

khủng hoảng nợ thoả mãn các điều kiện này.
Dựa trên các quy tắc phân nhánh này, các quan sát có thể được xếp vào vùng rủi ro
hoặc vùng an toàn. Các quan sát trong một nút nào đó được phân vào vùng rủi ro/an
toàn nếu trong nút đó tỉ lệ số quan sát có khủng hoảng lớn hơn/thấp hơn tỉ lệ trung
bình đó trong cả mẫu nghiên cứu.


d. Ứng dụng phân tích cho Việt Nam:
Để đánh giá rủi ro nợ công áp dụng phương pháp Cây nhị phân, trước tiên, chúng tôi
thực hiện việc tính toán mười chỉ số có ảnh hưởng lớn nhất đến khủng hoảng nợ công
theo khuyến nghị của Manasse và Roubini (2005) cho Việt Nam. Thời điểm tính toán
là cuối năm 2011. Các chỉ số này được trình bày trong bảng dưới đây.


Trước hết, chúng ta xem xét các chỉ tiêu phản ánh rủi ro về khả năng thanh toán hay
tính không bền vững của nợ nước ngoài của Việt Nam. Rủi ro này được phản ánh qua
các chỉ số bao gồm tỉ lệ nợ nước ngoài/GDP, sự mất cân đối về tài khoá/tiền tệ và thâm
hụt vãng lai cộng với nợ ngắn hạn lớn. Vào cuối năm 2011, ước tính nợ nước ngoài
của Việt Nam chiếm khoảng 41,5% GDP và nằm trong ngưỡng an toàn theo khuyến
cáo của các tổ chức quốc tế như IMF và WB. Tuy nhiên, Việt Nam lại có sự mất cân
đối về tài khoá nghiêm trọng khi thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục và thậm chí có xu
hướng tăng mạnh trong những năm gần đây. Bên cạnh đó, thâm hụt vãng lai cũng là
một mối quan ngại khác đối với khả năng thanh toán nợ nước ngoài trong tương lai
của Việt Nam. Trong giai đoạn 2007-2011, mặc dù được tài trợ phần lớn bởi dòng kiều
hối nhưng mức thâm hụt thương mại cao đã khiến cán cân vãng lai của Việt Nam thâm
hụt trung bình mỗi năm vào khoảng 7,2% GDP. Tổng giá trị thâm hụt vãng lai trong
giai đoạn này ước tính vào khoảng 32 tỉ USD, tương đương với tổng nợ công nước
ngoài và gấp khoảng 2,5 lần dự trữ ngoại hối của Chính phủ Việt Nam vào thời điểm
cuối năm 2011.


các bậc ở Cây nhị phân, chúng ta thực hiện trả lời các câu hỏi cụ thể sau:


+ “Tổng nợ nước ngoài của Việt Nam có lớn hơn 49,7% hay không?” - Do câu trả lời
là KHÔNG (khoảng 41,5%) nên chúng ta chuyển sang nhánh bên trái và thực
hiện tiếp câu hỏi thứ hai;
+ “Nợ ngắn hạn có lớn hơn 130% dự trữ ngoại hối hay không” - Câu trả lời tiếp tục
là KHÔNG (xấp xỉ 53,5%) nên chúng ta di chuyển tiếp theo nhánh trái;
+ “Nợ công nước ngoài có lớn hơn 215% tổng thu ngân sách hay không?” - Câu trả
lời tiếp tục là KHÔNG. Nợ công nước ngoài xấp xỉ bằng 117% tổng thu ngân
sách của Việt Nam năm 2011. Do vậy chúng ta tiếp tục di chuyển theo nhánh
trái;
+ “Tăng trưởng kinh tế có lớn hơn -5,45% hay không” - Câu trả lời là CÓ do kinh tế
Việt Nam vẫn có tăng trưởng dương (5,89%). Do vậy, Cây nhị phân này cho
thấy, vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012, Việt Nam không/chưa rơi vào vùng
có nguy cơ khủng hoảng nợ.
Mặc dù các số liệu thống kê về nợ nước ngoài hiện tại cho thấy Việt Nam không/chưa
có nguy cơ rơi vào cuộc khủng hoảng nợ. Tuy nhiên, do số liệu của Việt Nam sai lệch
lớn so với số liệu của các tổ chức tài chính quốc tế và chưa được thống kê đầy đủ, do
vậy nhiều thống kê trong Bảng 4.1 là khá nhạy cảm và dễ thay đổi, đặc biệt là Tổng nợ
nước ngoài/GDP, Nợ công nước ngoài/Tổng thu ngân sách và Nợ ngắn hạn/Dự trữ
ngoại hối. Khi đó câu trả lời ở mỗi bậc trong Cây nhị phân có thể sẽ rất khác. Do vậy,
chúng tôi giả định các kịch bản khác nhau để đánh giá rủi ro khủng hoảng nợ trong
tương lai của Việt Nam.
Thứ nhất, giả sử tổng nợ nước ngoài vượt 50% GDP - một khả năng dễ xảy ra nếu Việt
Nam theo đuổi những dự án đầu tư quá lớn và tốn kém như Dự án Tàu cao tốc Bắc
Nam hoặc các dự án cơ sở hạ tầng tốn kém mà không đem lại hiệu quả kinh tế một
cách tương xứng, hoặc khi nợ xấu hiện nay của DNNN trở thành gánh nặng của
NSNN. Khi đó, câu trả lời đối với câu hỏi ở bậc thứ nhất trong Cây nhị phân sẽ là CÓ.
Tiếp theo, ở bậc thứ hai câu trả lời tiếp tục là CÓ khi lạm phát của Việt Nam những

ương. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã phát hiện mối quan hệ gi ữa thâm h ụt
tài khóa và lạm phát ở các quốc gia thu nhập thấp nhưng không xảy ra t ại các
nước phát triển.
Dựa vào nghiên cứu Tsangyao Chang (2010) và Caner(2010), mô hình thực
nghiệm ngưỡng nợ công của Việt Nam được thiết lập gồm biến phụ thu ộc là
tăng trưởng kinh tế(GDP), biến độc lập lập là nợ công/GDP, các bi ến ki ểm soát
gồm lạm phát và độ mở thương mại. Ở Việt Nam, lạm phát là bi ến đại di ện cho
mức độ không chắc chắn của nền kinh tế và độ mở thương mại có ý nghĩa rất
lớn đối với chính sách tăng trưởng kinh tế trong vòng 20 năm qua. Như v ậy c ơ
bản mô hình nghiên cứu có dạng:
Y = f (X,Z,I)

(1)

Trong đó Y: GDP, X: nợ công, Z: độ mở thương mại, I: lạm phát.
Lấy đạo hàm phương trình (1) theo Y ngoại trừ biến lạm phát. Ta có phương
trình (2) như sau:
(2)
Trong đó là thừa số của biến nợ công, là thừa số biên của độ mở th ương mại, là
thừa số biên của lạm phát. Gọi = 1, = , = , khi đó các bi ến trong ph ương trình (2)
có thể giải thích:
dY/Y = GDP = tỉ trọng tăng trưởng hàng năm của tổng sản phẩm quốc nội;
dX/Y = X = nợ công/ GDP %;
dZ/Y = Z = tổng kim ngạch xuất và nhập khẩu (%/GDP) = độ mở của nền kinh
tế;
dI/I = inf = chỉ số lạm phát hàng năm.
Sau khi được điều chỉnh, phương tình (2) có thể viết lại:
GDPt = *Xt + *Zt + *inf

(3)

Giá trị ngưỡng tối ưu được lựa chọn dựa vào tham s ố ước lượng bình phương
nhỏ nhất với = arg min Sl (). Một khi giá trị ngưỡng được xác định, giả thuyết H 0
(không có hiệu ứng ngưỡng) phải được kiểm tra. Nếu H 0: = (i=0,1,2,3,4,…) thì
mô hình không có hiệu ứng ngưỡng và ngược lại.
b. Phân tích thực nghiệm và kết quả nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu
Trong mô hình, tác giả thu thập dữ liệu hàng năm về tăng trưởng kinh tế (GDP
%), nợ công/GDP (X%), độ mở thương mại/GDP (Z%) và l ạm phát (Inf %).
Nguồn dữ liệu nợ công chủ yếu được khai thác từ IMF; dữ li ệu của các bi ến còn
lại được lấy từ Ngân hàng phát triển châu Á (ABD); riêng d ữ li ệu năm 2011 d ựa
vào số liệu công bố của Tổng cục Thống kê Việt Nam vào cu ối năm. B ảng 1 miêu
tả các biến ước lượng trong mô hình theo thời gian.
Bảng 1. Dữ liệu trong mô hình nghiên cứu (ĐVT: %)
Năm
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002

GDP %
5,09

54,3
50,8
49,4
57,1
61,4
70,1
73,1
72,4
77,1
91,5
90,5
98,3

INF%
67,1
67,5
17,5
5,2
14,4
12,7
4,5
3,6
9,19
0,1
-0,6
0,8
4


2003

121,5
127,2
135,3
151,3
151,7
126,1
152,55
170

3
9,4
8,4
6,7
12,6
25
6,88
11,75
18,58

Luật quản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam đã xác định nợ công bao g ồm n ợ
chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Như
vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phi ếu chính ph ủ (trong và
ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay n ợ n ước
ngoài được Chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công. Dữ liệu chuổi th ời gian
cho thấy nợ công của Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2011: mức n ợ cao nh ất là
450% GDP (1990), thấp nhất 38% (2007). Nợ công trung bình của cả giai đo ạn
là 102% GDP và tăng trưởng bình quân 7,2% năm. Trong những năm đ ầu th ập
niên 90, Việt Nam là một nước nợ lớn. Tổng nợ năm 1990 tương đương 450%
GDP cho thấy sự khủng hoảng về khả năng thanh toán nợ của Việt Nam. Tuy
nhiên, nhờ kinh tế tăng trưởng nhanh nên từ nửa sau th ập niên 90, GDP đã tăng

hình hồi quy (bảng 3). Kiểm tra tính tương quan giữa hai biến GDP và X bằng biểu đồ
phân tán 9Hình 1) ta thấy hai biến này có quan hệ rất yéu (hệ số tương quan 0,19) và
dữ liệu biêur hiện sự phân phối ngẫu nhiên. Với dữ liệu như vậy, thực hiện ước lượng
ngưỡng bằng mô hình phi tuyến tính là thích hợp. Trước khi ước lượng mô hình , tác
giả ứng dụng kiểm định nhân quả Granger giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Bảng
4 cho thấy nợ công có gây tác động đến tăng trưởng với ý nghĩa thống kê 10% và
không có chiều ngược lại. Kết quả này giúp cho việc khẳng định tính đúng đắn hơn
trong lựa chon các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình.


-

Kết quả thực nghiệm:

Tác giả thực hiện ước lượng phương trình (6) theo phương pháo OLS theo đề xuất của
Chan (1993). Biến ngưỡng λ được tạo ra trong giưới hạn từ 38% (mức nợ công thấp nhấtnăm 2007) đến 108% (mức trung bình). Để đạt được mực tiêu nghiên cứu, công việc ước
lượng bắt đầu từ mức ngưỡng 38% và nâng dần lên 1%. Trong quá trình ước lượng, thông số
RSS được tính toán. Mức ngưỡng sẽ có RSS bé nhất và giá trị p có ý nghĩa thống kê (Yasỉ Ali
Mubarik, 2005)


Kết quả bảng % cho thấy, với mô hình hồi quy tuyến tính, quan hệ giữa nợ công và
tăng trưởng kinh tế là không có ý nghĩa thống kê ở mức 10%. trong mô hình ngưỡng
nợ công tác động dương lên tằn trưởng có ý nghĩa thốn gkê 1%. Nợ công được xác
định ở mức ngưỡng 75,8%. Vượt qua mức ngưỡng tác động của nợ công lên tăng
trưởng kinh tế là âm. các hệ số beta () trong mô hình hồi quy ngưỡng có giá trị khác
nhau. Điều này cho thấy giả thuyết H0 bị bác bỏ, nghĩa là mô hình có hiệu ứng
ngưỡng. bảng 6 cho thấy hiwwụ ứng ngưỡng trong mô hình có ý nghĩa thống kê 10%.
III.


nặng nợ công tự nhiên sẽ giảm xuống vì tỷ lệ nợ/GDP đã giảm đi. Như vậy, theo IMF,
nợ công cao hay thấp không quan trọng bằng tỷ lệ nợ/GDP và tốc độ, chất lượng tăng
trưởng của nền kinh tế. Khi bàn về nợ công, nhiều nhà kinh tế thường lấy ví dụ về các
quốc gia trong liên minh thuế quan CAN gồm bốn nước Nam Mỹ là Bolivia,
Colombia, Ecuador và Peru.
Những nước này đã làm mất đi cơ hội tăng trưởng vì nợ nần quá nhiều? Năm 2010, hai
nhà kinh tế là Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff của Đại học Harvard cho rằng tốc
độ tăng trưởng của một quốc gia sẽ chậm lại đáng kể khi tỷ lệ nợ công/GDP đạt mức
90%. Ít ai bị thuyết phục với lý luận này. Rồi năm 2013, ba nhà kinh tế của Đại học
Massachusetts Amherst phát hiện ra rằng lỗi tính toán đã làm lệch kết quả nghiên cứu
của Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff.
Tài liệu của IMF đưa ra năm 2014 lại một lần nữa thách thức lý luận của bà Reinhart
và ông Rogoff. Sử dụng các số liệu nợ và tăng trưởng từ năm 1821 đến 2012, các tác
giả của IMF phát hiện ra rằng, tăng trưởng GDP trên đầu người diễn ra chậm hơn ở
những quốc gia có tỷ lệ nợ công trên 90%, khi soi chiếu vào số liệu các năm.


Nhưng có nhiều khía cạnh mà sự tăng trưởng chậm lại được tạo ra bởi các nhân tố
không liên quan gì đến nợ công. Ví dụ, tăng trưởng của các nước với nợ công ở mức
hơn 135% GDP chủ yếu chậm lại do hai nền kinh tế Nhật Bản và Đức sụp đổ, năm
1945.
Nếu xem xét mức độ nợ công trung bình trong giai đoạn 15 năm, không có bằng chứng
nào cho thấy các quốc gia với mức nợ trên 80% GDP tăng trưởng chậm hơn. Thậm chí
những nước với tỷ lệ nợ 200% như nước Anh sau Thế chiến II vẫn có những mức tăng
trưởng trung hạn vững chắc.
Do đó, số nợ tuyệt đối không quan trọng bằng “quỹ đạo nợ”. Các nước với mức nợ
công tăng dần sẽ chịu đựng mức tăng trưởng chậm dần. Dễ thở hơn là các nước có nợ
công giảm dần, cho dù số nợ đã ở mức cao. Ở các nước có nợ công tăng dần, thâm hụt
ngân sách khiến nền kinh tế dễ mất ổn định hơn. Theo tạp chí Vox, có nhiều tranh cãi
tồn tại bấy lâu nay về câu hỏi, tỷ lệ nợ công bao nhiêu là tốt. Câu trả lời phổ biến là

Nếu chỉ số nợ công/GDP của một quốc gia thể hiện quy mô nợ công so
với quy mô của nền kinh tế thì chỉ số nợ công trên bình quân đầu người thể hiện
trung bình mỗi người dân của quốc gia này đang gánh bao nhiêu nợ. (Biểu đồ 2)

Tính đến khoảng tháng 11/2015, nợ công bình quân đầu người ở Việt Nam xấp xỉ
1.000 USD. Sang năm 2016, với dân số khoảng 91,7 triệu người, hiện mỗi người dân
Việt Nam đang phải gánh khoản nợ khoảng 28,4 triệu đồng. Đây là con số nợ công kỷ
lục của Việt Nam.


Bản báo cáo lưu ý rằng, theo nhiều chuyên gia thì quy mô nợ công thực tế có thể đã
cao hơn so với mức công bố do cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số tổ
chức quốc tế uy tín có sự khác biệt.
Cụ thể, nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam dựa trên nguyên tắc: trách nhiệm thanh toán
thuộc về chủ thể đi vay; còn nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế được xác định trên cơ sở:
chủ sở hữu thực sự hay pháp nhân đứng sau chủ thể đi vay phải có trách nhiệm thanh
toán.
Theo đó, nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam
cộng với nợ của: Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các doanh nghiệp nhà nước (DNNN),
tổ chức bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội (ASXH) và một số địa phương. "Căn cứ
theo tiêu chuẩn quốc tế, nhiều chuyên gia đưa ra ước tính và cho rằng tỷ lệ nợ
công/GDP của Việt Nam đã vượt mức 100%", báo cáo cho biết.
Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng nợ công tối ưu (nhằm đảm bảo nợ công là động lực
giúp tăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triển là 90%, các nước đang
phát triển có nền tảng tốt là 60% và có nền tảng kém là 30-40%. Vì vậy, theo nhận
định của Trung tâm nghiên cứu BIDV, mức ngưỡng nợ công/GDP được Quốc hội đề ra
là 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc vượt ngưỡng tối ưu có thể tiềm ẩn rủi
ro.
Đánh giá tổng quát về mức độ an toàn của nợ công hiện nay, nghiên cứu cho rằng: Rủi
ro vỡ nợ thấp, song mức độ an toàn nợ công là “không bền vững” do khả năng trả nợ

Khi vượt ngưỡng này thì phần lớn sản lượng tạo ra phải dùng để trả nợ, làm giảm
nguồn vốn cho đầu tư phát triển, không tạo ra động lực mới để tăng trưởng. Ngưỡng
nợ công nói trên càng cao thì tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ trên tổng thu ngân sách càng lớn,
làm giảm sự bền vững của nợ công. Nếu ngưỡng nợ công nhỏ hơn đề xuất nói trên thì
làm mất cơ hội sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính quốc gia để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế.
Kết quả nghiên cứu này tương đối phù hợp với nghiên cứu của Caner và CTG (2010):
Ngưỡng nợ đối với quốc gia đang phát triển là 64% GDP và nghiên cứu 2010 của
PGS.TS Sử Đình Thành (Đại học kinh tế TP HCM) đề xuất ngưỡng nợ tối ưu của Việt
Nam là 75,8%.
4. Giải pháp
Người đứng đầu Chính phủ đã cảnh báo về “việc không tránh khỏi sự sụp đổ nền tài
khoá quốc gia” nếu không chấm dứt được tình trạng nợ công tiếp tục tăng cao như ở
trên.
Vì vậy, trong năm 2017, Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng phải có cải cách
đột phá trong tư duy ngân sách, kiểm soát nợ công và đảm bảo khả năng trả nợ. Về
phía Bộ Tài chính, một trong những giải pháp mà Bộ này sẽ triển khai trong năm mới
là không chuyển vốn vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấp phát ngân
sách Nhà nước. Mặt khác, Bộ Tài chính cũng khẳng định sẽ thực hiện đầy đủ các yếu
tố tác động lên nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn trước khi thực hiện các
khoản vay mới.
Đi kèm đó, để đối phó với tình hình này, có một số giải pháp được kiến nghị như sau:
-

Thành lập Ban Giám sát Nợ công thuộc Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc
hội:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status