MỘT VÀI NÉT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008-2009 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM - Pdf 25

PHẦN MỞ ĐẦU
Khủng hoảng kinh tế là một trong những hiện tượng thể hiện sự xáo trộn trong
nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nó xuất hiện theo chu kỳ mà các nhà kinh tế học tư sản gọi
đó là “chu kỳ kinh tế”. Tác động của khủng hoảng kinh tế đến đời sống kinh tế - xã hội
rất lớn mà các nhà kinh tế học thường tìm cách giải thích nguyên nhân và đề xuất giải
pháp để giải quyết nó. Sức mua sụt giảm, thị trường thu hẹp, sản xuất bị đình đốn,
việc làm bị mất, thu nhập giảm sút, nền kinh tế trì trệ đó là những biểu hiện của
khủng hoảng kinh tế. Trong lịch sử phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa đã chứng kiến
nhiều cơn khủng hoảng, trong đó, sức tàn phá của cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-
1933 được xem là cơn đại hồng thủy trong kinh tế lớn nhất của thế kỷ XX. Theo Alan
Greenspan, cựu Thống đốc Quỹ dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong một thế kỷ đại khủng
hoảng chỉ xuất hiện một lần, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, xuất phát từ
cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, được A. Greenspan đánh giá là cuộc đại suy thoái
của thế kỷ XXI. Bởi vì hiện nay, xuất phát từ Mỹ, cuộc khủng hoảng tài chính đã lan
sang hàng loạt các trung tâm kinh tế lớn trên thế giới như EU, Nhật, Trung Quốc,
Nga và kéo nền kinh tế thế giới đi xuống. Câu hỏi đặt ra là: Những cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới đã ảnh hưởng như thế nào tới Việt Nam và chúng ta đã làm gì để kéo
nền kinh tế nước nhà không lún sâu thêm trên bờ khủng hoảng. Với mong muốn tìm hiểu
câu trả lời cho câu hỏi trên, nhóm 12 chúng tôi đã thực hiện đề tài:
MỘT VÀI NÉT VỀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008-
2009 VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
Mục đích bài tiểu luận là tìm hiểu sơ lược về khủng hoảng tài chính thế giới, làm rõ
những tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp thực tiễn
mà Việt Nam đã sử dụng trong những năm 2008 – 2009. Phương pháp nghiên cứu chủ
yếu là thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu từ sách báo, tạp chí và trên các website.
1
PHẦN NỘI DUNG
Mở đầu, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược khái niệm cũng như nguyên nhân dẫn đến cuộc
khủng khoảng tài chính thế giới.
1. KHÁI NIỆM
Khủng hoảng tài chính được hiểu là sự sụp đổ của thị trường tài chính, khiến cho

+ Sẽ có một tỷ lệ lớn hơn những chủ các dự án với độ rủi ro cao hơn (như đầu cơ
vào bất động sản, chứng khoán thời bong bóng) đi săn lùng vốn vay. Trong khi đó, những
doanh nhiệp vừa và nhỏ, với những nhà đầu tư cẩn trọng, sẽ bị loại ra khỏi danh sách các
ứng cử viên.Người ta gọi đây là sự chọn lầm phải điều nguy hại, theo Akerlof (1974).
2
+ Với những chủ dự án lớn đã vay được vốn, thì họ có xu hướng làm thay đổi bản
chất dự án hay mục đích sử dụng vốn vay, khiến cho dự án mang tính đầu cơ cao hơn
(hoặc có vẻ “quan trọng” hơn, để Nhà nước không thể để cho bị thất bại). Do vậy, họ có
thể giàu lên nhanh chóng, nếu việc đầu cơ thành công; và để ngân hàng chịu tích tụ
những khoản nợ xấu; hay xã hội phải gánh vác tổn thất qua gánh nặng cứu trợ ngân sách
nếu dự án bị thất bại. Người ta gọi đây là hiểm họa do rủi ro đạo đức.
Nhìn chung, cho dù thuộc trường phái kinh tế nào, thì vẫn có một sự nhất trí rằng,
hệ thống tài chính cần phải được giám sát chặt chẽ, do tính phức tạp và rủi ro của
hoạt động này. Và việc thiếu sự quản lý, giám sát luôn dẫn đến bong bóng đầu cơ . Tuy
nhiên, chỉ khi việc mất cân đối vĩ mô trở nên rất nghiêm trọng, thì bong bóng đầu cơ
mới có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính và kinh tế trên quy mô lớn.
2. BỐI CẢNH HÌNH THÀNH KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ VÀ NGUYÊN
NHÂN CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU 2008-2009
Chúng ta hãy xem xét lại một nguyên nhân cơ bản của cuộc khủng hoảng này qua lăng
kính của trường phái kinh tế học thể chế vừa tóm tắt ở trên. Nhưng để có cái nhìn bao
quát, hãy điểm lại một vài sự kiện đáng chú ý vào thời kỳ cận khủng hoảng:
Giai đoạn 1: Dưới thời của cựu tổng thống Bill Clinton (1992 - 2000). Đây được coi
là thời kỳ hoàng kim của Mỹ, với tiến bộ công nghệ và hiệu quả kinh tế cao, thặng dư
ngân sách, và tỷ lệ nợ nước ngoài thấp. Nhưng ngay vào cuối thời kỳ này đã xuất hiện hai
sự kiện đáng chú ý: Một là, Vỡ bong bóng chứng khoán. Điều này làm ảnh hưởng đến sự
giàu có của tầng lớp trung lưu của Mỹ, tức là làm giảm khả năng thế chấp cho các khoản
vay để đầu tư vào nhà cửa, bất động sản, và các hoạt động kinh doanh khác. Hai là, Tự
do hóa tài chính. Năm 1999, dưới áp lực của các nhóm đặc quyền tài chính, Bill Clinton
đã ký đạo luật mới (Gramm-leach-Bliey), khai tử đạo luật Glass-Steagal (1933). Điều này
cho phép các ngân hàng thương mại tham gia vào các hoạt động đầu tư rất rủi ro (chủ yếu

- “Bong bóng nhà đất” đã kích thích các ngân hàng thương mại tham gia vào các
hoạt động đầu cơ rủi ro cao (chủ yếu trên lĩnh vực bất động sản). Điều này trước đây bị
cấm, do rủi ro trong đầu cơ bất động sản được coi là vượt quá khả năng đảm bảo an toàn
của các ngân hàng thương mại. Thế nhưng, bây giờ họ lại được phép làm, nhờ đạo luật
mới,Gramm-leach-Bliey.
- Tuy nhiên, để đối phó với rủi ro cao, các ngân hàng thương mại, như Freddie Mac
và Fannie Mae, đã chứng khoán hóa những khoản cho vay đầu tư bất động sản. Điều này
trên thực tế có nghĩa là: những cá nhân hay tổ chức cho vay đầu tư bất động sản bán các
khoản cho vay của họ cho các ngân hàng thương mại (như Freddie, Fannie). Các ngân
hàng này “bó” các khoản vay nợ đó lại, ứng với từng mức rủi ro, rồi phân nhỏ ra để làm
tăng tính thanh khoản, sau đó bán ra như chứng khoán cho công chúng, thông qua các
ngân hàng đầu tư. Khi công chúng hay những nhà đầu tư phổ thông mua các khoản cho
vay nợ được chứng khoán hóa này, họ thường mua luôn bảo hiểm để chống lại rủi ro do
khoản vay nợ được chứng khoán hóa đó có thể không trả được. Vì vậy, quá trình này cho
phép những cá nhân, tổ chức cho vay đầu tư vào bất động sản trút được gánh nặng rủi ro
sang cho tổ chức khác gánh chịu, và thu về khoản tiền bán ra những tài sản cho vay được
chứng khoán hóa đó. Họ giàu lên nhanh chóng, nên được các công ty xếp hạng đánh giá
cao. Do vậy, các nhà đầu tư phổ thông trên thị trường vốn càng hưng phấn, và giá bất
động sản càng bị bốc lên cao.
- Cho tới hết nhiệm kỳ đầu tiên của cựu tổng thống Bush (2004), bong bóng bất
động sản không tạo ra lo ngại. Lý do là nền kinh tế về cơ bản vẫn vững vàng: tốc độ tăng
năng suất và tiền lương thực tế vẫn tiếp tục được giữ ở mức cao; cân đối vĩ mô vẫn nằm
trong tầm kiểm soát. Trong điều kiện cân bằng vĩ mô được duy trì, các tổ chức này hoạt
động rất có lãi nhờ “bong bong nhà đất”.
4
- Vào sau quý I/2005, thâm hụt ngân sách, thâm hụt ngoại thương, và nợ nước ngoài
của Mỹ thể hiện ra ngày càng trầm trọng. Fed thay đổi chính sách của mình và đẩy lãi
suất cơ bản lên 0.25 % trong mỗi lần điều chỉnh. Mục đích là nhằm thu hẹp cầu cơ; hạn
chế bong bóng nhà đất và lái vốn đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, có hiệu quả dài
hạn cao hơn. Trên thực tế, bong bóng nhà đất không hề giảm và nợ nước ngoài ngày càng

hẹp tổng cầu về tiêu dùng và đầu tư, diễn ra theo đường xoáy ốc đi xuống. Do Mỹ là
trung tâm tài chính, thị trường tiêu thụ, và là con nợ lớn nhất thế giới, khủng hoảng tài
chính và kinh tế của Mỹ đã lan nhanh ra các nền kinh tế khác, dẫn đến khủng hoảng kinh
tế toàn cầu.
Tiến trình khủng hoảng toàn cầu : Có thể nói là khoảng giữa 2006 khi ngân hàng
trung ương Mỹ tăng lãi suất đề phòng lạm phát. Tiền hết rẻ, bong bóng đầu tư, đầu cơ địa
ốc bị xì : bong bóng địa ốc, bong bóng tín dụng gia cư Subprime bị vỡ vì nhiều người vay
tiền quá khả năng, trả tiền nợ nhà không nổi, nhà bị tịch biên. Khi đó mọi người mới
khám phá ra rằng, trong những gói nợ đang lưu hành, có nhiều khoản “nợ xấu” . Nhưng
“xấu” đến cỡ nào thì không ai biết.
Hồi tháng 7 /2008 nhiều ngân hàng châu Âu bát đầu bị điêu đứng vì mua lầm nợ xấu
của Mỹ, nhưng bản thân Hoa Kỳ thì vẫn “ bình chân như vại” cho đến khi số khách hàng
bị vỡ nợ, số nhà bị tịch biên tăng quá lớn. Các công ty tài trợ hết dám cho vay, nước Mỹ
rơi vào cảnh cạn kiệt tín dụng, trong khi kinh tế có dấu hiệu bị suy thoái. Ngân hàng
trung ương vội vàng hạ lãi suất nhưng đã quá trễ. Các ngân hàng trung ương khác - Châu
Âu và Nhật Bản - vội vàng bơm thêm tiền vào ngần hàng nhưng “vòi tín dụng” vẫn bị
nghẹt. Cổ phiếu các công ty tài chính tuột giá.
Tuần lễ 15 đến 21 tháng 9 cả thế giới chao đảo : từ Wall Street đến Tokyo, Thượng
Hải các chỉ số chứng khoán đều tuột dốc mạnh. Tại Châu Âu : Paris, Luân Đôn, Franfurt
hay Amsterdam cùng chung số phận. Thị trường Matxcơva cũng lâm vào tình trạng
hoảng loạn đến nỗi phải tạm đóng cửa để chờ cho cơn bão đi qua.
Hiệu ứng “Domino” đã làm sụp đổ hệ thống ngân hàng.
Tính từ đầu tháng 9 đến nay, trị giá chỉ số Nikkei của Nhật mất giá đến một phần ba.
Chỉ số Hang seng của Hongkong là một phần tư. Bởi lý do đơn giản là các gói nợ xấu của
6
Mỹ đã làm ung thối ngành tài chính ngân hàng tại rất nhiều quốc gia, đứng đầu là Anh
Quốc với cả khu vực tài chính Luân Đôn, City. Chính vì vậy mà sau Hoa Kỳ, Anh quốc
là nước thứ nhì công bố một kế hoạch quy mô cứu nguy ngành ngân hàng : rót thêm 37 tỷ
bảng Anh vào ba ngân hàng đang bị kiệt quệ nhất.
Mặt khác thì cho dù Anh, Mỹ, Liên Hiệp Châu Âu bơm rất nhiều tiền vào hệ thống tài

những xáo động chính trị - xã hội.
Phác đồ chữa trị hai cuộc khủng hoảng tương tự như nhau, trong đó có hai vị thuốc
nổi trội là sự can thiệp của nhà nước và mở hầu bao kích cầu nội địa đi liền với các biện
pháp bảo hộ công khai hoặc trá hình.
Cả hai cuộc đều dẫn đến những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế và tài chính
tiền tệ. Lần trước, chế độ bản vị vàng bị thay bằng các khu vực tiền tệ và sau Thế chiến
thứ hai đã hình thành hệ thống Bretton Wood. Lần này, đang xuất hiện những ý tưởng về
việc nâng cao vai trò của cơ chế quyền rút vốn đặc biệt (SDR), “đồng tiền quốc tế”, dùng
nội tệ của nước này hay nước khác để thanh toán xuất - nhập khẩu, thậm chí có nơi còn
quay về cơ chế cổ lỗ sĩ là “hàng đổi hàng”.
3.2 KHÁC BIỆT
Tuy khủng hoảng chu kỳ hay cơ cấu là bạn đồng hành của kinh tế thị trường; sự phát
sinh, diễn biến của nó thuận theo những quy luật nhất định song mỗi cuộc lại có những
nét đặc thù riêng, do vậy hai cuộc khủng hoảng lớn cách nhau gần 8 thập kỷ cũng có
những nét khác biệt:
- Lần này khủng hoảng tài chính, kinh tế diễn ra đồng thời với những xáo động về
năng lượng, lương thực và cả khí hậu, môi trường. Do đó, giải quyết khủng hoảng ở
mỗi nước và trên phạm vi toàn cầu phải tính đến đặc điểm này và mang tính tổng thể.
- Khác trước, với xu thế toàn cầu hoá và công nghệ thông tin, một lượng khổng lồ
các phi vụ giao dịch tài chính được thực hiện qua mạng toàn cầu với tốc độ cực
nhanh, tạo nên đồng tiền ảo có giá trị gấp trăm ngàn lần giá trị đồng tiền thật và không
một ai có thể kiểm soát nổi. Đã hội nhập sâu với kinh tế thế giới và sống trong thời đại
thông tin, chúng ta không thể không chú trọng tới đặc điểm mới này.
- Tuy khủng hoảng lần này rất trầm trọng, song chưa được gắn danh hiệu “đại
khủng hoảng” vì tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm nay được dự báo sẽ ở mức
8
âm một vài phần trăm, trong khi sản xuất những năm 1929-1933 sụt giảm tới 15-20%.
Lần này thương mại toàn cầu sụt giảm gần 10% so với trên 20% lần trước, tỷ lệ thất
nghiệp dao động xung quanh 10% so với 25-30% lần trước
- Cuộc khủng hoảng ngày nay những xáo động chính trị - xã hội chưa nghiêm

Điểm không vui khác là thị trường lao động thế giới tiếp tục xấu đi. Ở Hoa Kỳ, thì
đây thực sự là mối đau đầu, một thách thức lớn đối với chính quyền sắp chính thức bắt
tay vào việc của tổng thống tân cử Obama. Ở châu Á, giải quyết thất nghiệp đang trở
thành ưu tiên hàng đầu của chính quyền Bắc Kinh, vì đây là yếu tố quyết định cho sự ổn
định xã hội ở nước đông dân nhất địa cầu.
9
“Việc làm”, một vấn nạn nhức nhối ở các quốc gia bị ảnh hưởng bởi khủng
hoảng.
Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã gây một tổn thất không nhỏ cho nền kinh tế các
cường quốc nói riêng và cả nền kinh tế thế giới nói chung. Tiếp theo chúng ta sẽ làm rõ
những ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính thế giới tới nền kinh tế Việt Nam.
4.2 ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Với một độ mở rất cao nên ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế tới nền
kinh tế Việt Nam là không thể tránh khỏi. Tuy vậy, đánh giá mức độ ảnh hưởng này tới
Việt Nam lại rất khác nhau. Nhớ lại vào 6 tháng đầu năm 2008, trong khi hầu hết các
nước đang bị suy thoái nặng nề thì nền kinh tế Việt Nam vẫn tăng trưởng. Mức xuất
khẩu cả năm 2008 vẫn đạt gần 30% so với năm trước, trong khi hệ thống ngân hàng của
Mỹ, Đức, Anh lâm vào tình trạng khốn đốn thì ở Việt Nam không có ngân hàng lớn, nhỏ
nào bị phá sản, lúc này có ý kiến cho rằng cuộc khủng hoảng thế giới ít ảnh hưởng
đến Việt Nam và nếu có ảnh hưởng thì cũng không nhiều.
Thực tế không phải như vậy. Cho đến nay có thể nói là ảnh hưởng của khủng hoảng
tới Việt Nam là nghiêm trọng, tuy con đường tác động có khác. Nếu như cuộc khủng
hoảng bắt đầu từ nền kinh tế Mỹ ảnh hưởng ngay lập tức tới các nền kinh tế hùng mạnh
khác, thì cơn bão này đến Việt Nam chậm hơn một nhịp. Một số ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng toàn cầu 2008-2009 đến Việt Nam trong giai đoạn đó:
4.2.1 Lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế
Lạm phát tại Việt Nam tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008. Cuối tháng 6/2008, chỉ
số giá so với kỳ gốc 2005 là 144,30%. Trong quí III/2008, tốc độ tăng CPI giảm dần.
Tính cả quí, CPI chỉ tăng 4,18 điểm phần trăm. Từ tháng 10/2008, xuất hiện dấu hiệu
giảm phát khi CPI giảm xuống 148, 20 so với mức 148,48 của tháng trước.

Tuy không phải chịu nhiều tác động từ khủng hoảng tài chính thế giới những hệ thống
ngân hàng việt nam vẫn gặp những vấn đề mà chủ yếu phát sinh từ những yếu tố nội tại:
Trước hết, là vấn đề mô hình của hệ thống ngân hàng. Hiện nay ở Việt Nam bao gồm
các loại hình ngân hàng: ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư,
ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Nhưng dưới
11
gốc độ lập pháp thì cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng về chức năng
của từng loại ngân hàng. Đặc biệt, chưa có một văn bản pháp quy nào được ban hành
để điều chỉnh hoạt động của ngân hàng phát triển và ngân hàng đầu tư (NHĐT) – là
những hoạt động kinh doanh ngân hàng có rủi ro cao nhất. Chính sự mập mờ này đã tạo
điều kiện cho các Ngân hàng thương mại (NHTM), các Công ty Tài chính (CTTC) “lấn
sân”. Và trên thực tế, nhiều NHTM và các CTTC đã “không ngần ngại” đầu tư vào bất
động sản và chứng khoán đã mang lại không ít hệ lụy cho nền kinh tế, góp phần không
nhỏ vào việc đẩy nền kinh tế đi đến lạm phát thời gian qua.
Tiếp theo, là sự ra đời ồ ạt của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
đặc biệt là các CTTC. Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã có trên 80 ngân hàng
thương mại và trên 20 công ty tài chính. Việc có quá nhiều ngân hàng (trong đó, có
khoản 25% ngân hàng có hiệu quả kinh doanh hạn chế) và các CTTC sẽ dẫn đến hai nguy
cơ lớn là khả năng huy động vốn để duy trì kinh doanh ổn định và khả năng quản trị ngân
hàng, đặc biệt trong giai đoạn khó khăn hiện nay.
Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng gia tăng do tăng trưởng tín dụng khá
cao cũng đặt hệ thống ngân hàng trước những thách thức không nhỏ. Theo số liệu từ
Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh bất động sản
hiện nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% trên tổng dư nợ toàn hệ thống. Riêng
năm 2007, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam năm 2007 là 53%
– một con số khá cao cộng với khoảng 50% các khoảng dư nợ được thế chấp bằng bất
động sản sẽ làm tăng tỷ lệ nợ xấu trong những tháng cuối năm 2008 khi các khoản cho
vay vào bất động sản trước đây lúc thị trường này còn hấp dẫn sẽ đáo hạn. Trong tình
hình TTBĐS vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc thì việc các ngân hàng phải đối diện với
khoản lỗ lớn là khó tránh khỏi.

Khủng hoảng tài chính Mỹ tác động tiêu cực tới nhiều nền kinh tế khác trên thế giới,
đặc biệt là EU và Nhật Bản – đây là hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam.
Do tác động của khủng hoảng, người dân tại các thị trường này cũng phải cắt giảm chi
tiêu, các nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán do khó khăn về tài chính, theo đó
nhập khẩu đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam có xu hướng giảm.
Thực tế những tháng trong năm 2008, với tác động tiêu cực của khủng hoảng tài
chính, xuất khẩu của Việt nam đã bắt đầu có biểu hiện giảm sút, kim ngạch xuất khẩu
tháng 11 đã tiếp tục giảm và xuống dưới ngưỡng 5 tỷ USD/tháng. Đây là tháng thứ ba
kim ngạch xuất khẩu suy giảm. Tháng 11 năm 2008 kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ còn
4,8 tỷ USD giảm so với mức 5,044 tỷ USD của tháng 10. Trong đó: Dệt may giữ được
kim ngạch ở mức 780 triệu USD, giày dép tăng nhẹ lên 400 triệu USD so với 396 triệu
USD của tháng 10/2008. Một số mặt hàng khác cũng suy giảm trong đó đặc biệt là dầu
thô giảm mạnh do giá dầu đã giảm 60% so với mức tháng 7/2008.
Không chỉ thế, trong tám tháng đầu năm 2009, xuất khẩu tính theo đôla đã giảm
14,2% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực đều suy
giảm: Nếu so cùng kỳ, 8 tháng đầu năm 2009 hàng dệt nay giảm 1,3%; giày dép giảm
8,7%, thuỷ hải sản giảm 10,7%. Nếu năm 2008 giá xuất khẩu rất cao thì năm nay giá các
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đều giảm sút nghiêm trọng: giá dầu thô giảm
53%; giá cà phê giảm 28,3% và còn có xu hướng giảm tiếp, giá cao su giảm 44%; giá gạo
giảm hơn 20% … Mặc dù sự giảm sút này còn ít hơn ở các nước đang phát triển khác,
nhưng nó cũng làm cho năm 2009 trở thành năm đầu tiên Việt Nam phải gánh chịu sự sụt
giảm về xuất khẩu kể từ khi bắt đầu cải cách kinh tế.
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng, nhu cầu nhập khẩu hàng Việt Nam ở hầu
hết các thị trường chính đều giảm như thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc,
Australia Hơn nữa để chống trọi với tình trạng thiếu hụt phương tiện thanh toán và bảo
vệ các doanh nghiệp trong nước, ở hầu hết các thị trường này đều đang gia tăng các biện
pháp bảo hộ, từ chối đơn hàng, tung tin thất thiệt để hạ uy tín của hàng Việt Nam.
13
Về nhập khẩu, tám tháng đầu năm 2009 đã chứng kiến sự suy giảm còn mạnh mẽ
hơn, thấp hơn 28,2% so với cùng kỳ năm trước. Sự xuống dốc tương đối của xuất khẩu

trường trên giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng đáng kể đến kế hoạch doanh thu và lợi
nhuận của các doanh nghiệp niêm yết làm giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này vốn
đang sụt giảm lại khó có khả năng phục hồi.
Hai là, khủng hoảng tài chính đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài bán ròng cổ
phiếu, trái phiếu. Tính từ đầu tháng 8/2008 đến đầu tháng 10/2008 các nhà đầu tư nước
ngoài đã liên tục bán ròng cổ phiếu với tổng giá trị lên 1.278 tỷ đồng và khoảng 13,5
14
ngàn tỷ đồng đối với trái phiếu. Với giá trị bán ra khổng lồ này đã góp phần không nhỏ
vào sự sụt giảm của chỉ số VN-Index và Hastc-Index thời gian qua.
Thứ ba, tác động rõ nét nhất của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến TTCK
Việt Nam là ở yếu tố tâm lý. Thật ra, yếu tố tâm lý trên TTCK thì ở quốc gia nào cũng
có, đặc biệt là các quốc gia có thị trường này mới hình thành. Yếu tố tâm lý đã làm cho
TTCK Việt Nam bao phen lâm vào tình trạng mất cân đối cung cầu: khi giá chứng khoán
lên thì mua không được, ngược lại khi giá rớt thì chỉ toàn lệnh bán mà không có lệnh
mua.
Thứ tư, tâm lý giá xuống đã làm méo mó vai trò là “phong vũ biểu” phản ánh “sức
khỏe” nền kinh tế và đe dọa tính thanh khoản của thị trường. Đó là khi, giá chứng khoán
xuống quá thấp thì người bán lại không muốn bán nhưng người mua cũng sẽ không dám
mua do vẫn còn lo sợ chứng khoán sẽ tiếp tục giảm nữa. Khi đó từ “khủng hoảng niềm
tin” thị trường sẽ chuyển sang một cuộc khủng hoảng khác nguy hiểm hơn nhiều: khủng
hoảng về tính thanh khoản.
Chỉ số chứng khoán Việt nam
Nguồn: Vietstock.
Thị trường chứng khoán gần như sụp đổ khi chỉ số chứng khoán Việt Nam tụt
đến điểm 345 vào ngày 24/ 10/ 2008.
4.2.6 Đối với thị trường bất động sản (BĐS)
Hiện nay hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh BĐS của Việt Nam tiềm lực tài chính
khá hạn hẹp mà phần lớn phụ thuộc vào nguồn vốn bên ngoài chủ yếu là vốn vay của các
ngân hàng và tổ chức tín dụng. Đây là một khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh BĐS
trong điều kiện khủng hoảng tài chính.

đồng/lít. Xăng dầu là vật tư thiết yếu của sản xuất và hoàng hóa quan trọng trong đời
sống. Chính phủ Việt Nam từ lâu vẫn duy trì sự điều tiết chặt chẽ thông qua thuế, truyền
thông, và qui định giá. Đến giữa tháng 7/2008, trước áp lực giá tăng kỷ lục của thị
trường thế giới, giá bán lẻ xăng A92 tại Việt Nam có sự điều chỉnh lớn, tăng tới trên
30%, lên mức 19.000 đồng/lít. Sự tăng giá cao của giá xăng đã gây rất nhiều khó khăn
đến đời sống của nhân dân trong thời điểm đó.
Giá vàng lên xuống bất thường. Ở Việt Nam, vàng là hàng hóa đặc biệt, vừa là tài sản
tiết kiệm được ưu thích, vừa là phương tiện thanh toán phổ biến. Trong năm 2008, mức
độ tăng giảm của giá vàng tương đối lớn. Trong tháng 2 và 3/2008, chỉ số giá vàng liên
tiếp tăng 11 và 13 điểm phần trăm. Trong hai tháng tiếp theo, chỉ số giá vàng giảm tổng
cộng 13 điểm phần trăm. Tháng 7/2008, chỉ số giá vàng tăng cao nhất trong 10 tháng đầu
năm, ở mức 220,46. Nhưng đến hết tháng 9/2008, chỉ số giá vàng lại tụt xuống 200 điểm.
16
Giá lương thực làm nhiều quốc gia lao đao. Nạn đầu cơ cũng khiến giá lương thực
tăng nhanh từ tháng 4 đến tháng 6/2008. Trong ba tháng, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
lần lượt tăng 23,6%, 40,4% và 26,7%. So với tháng 1, giá gạo xuất khẩu của tháng
4/2008 đã tăng gấp hơn hai lần. Giá gạo xuất khẩu của tháng 6/2008 tăng cao nhất, 1.005
USD/tấn.
Trước tình hình giá lương thực tăng cao, nhiều nước xuất khẩu gạo chủ chốt (trong đó
có Việt Nam) đã lựa chọn giải pháp tạm ngừng xuất khẩu để quan sát. Trong khi đó, các
quốc gia nhập khẩu nỗ lực tích lũy lương thực để duy trì ổn định giá cả và đảm bảo an
ninh lương thực. Thực tế này dẫn tới hai hiệu ứng đồng thời: giá lương thực tiếp tục bị
đẩy lên cao và hành động “bơm” thêm tiền để mua lượng thực của các Chính phủ khiến
tình hình lạm phát ở nhiều quốc gia càng thêm trầm trọng.
Hiện tượng đầu cơ, tạo khan hiếm giả tạo mặt hàng gạo đã xuất hiện trên thị trường
Việt Nam vào cuối tháng 4/2008. Chính phủ đã có những chỉ đạo quyết hướng tới bình
ổn giá cả và trấn an tâm lý. Sáng tháng 6/2008, xuất khẩu gạo đã được phục hồi. Trong
hai tháng 6 và 7/2008, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam còn cao hơn mức giá bình quân
thế giới.
Trong tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái, tình hình kinh tế vĩ mô của Việt Nam

đương 8 tỉ USD, thống kê chưa chính xác). Gói kích cầu của Chính phủ bao gồm 7 khoản
chi chính:
- Hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng (khoảng 17.000 tỷ đồng)
- Tạm hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước (khoảng 3.400 tỷ đồng),
ứng trước ngân sách nhà nước để thực hiện một số dự án cấp bách (khoảng 37.200 tỷ
đồng)
- Chuyển nguồn vốn đầu tư kế hoạch năm 2008 sang năm 2009 (khoảng 30.200 tỷ
đồng)
- Phát hành thêm trái phiếu Chính phủ (khoảng 20.000 tỷ đồng)
- Thực hiện chính sách giảm thuế (khoảng 28.000 tỷ đồng)
- Tăng thêm dư nợ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp (khoảng 17.000 tỷ đồng)
- Các khoản chi kích cầu khác nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo an sinh
xã hội (khoảng 7.200 tỷ đồng).
Báo cáo giám sát về gói kích cầu của UB Tài chính - Ngân sách của Quốc hội nhận
xét: “Việc triển khai thực hiện vốn kích cầu của Chính phủ khá kịp thời, đã tạo ra “cú
hích” cho nền kinh tế đang trong tình trạng trì trệ và suy giảm, đem lại những kết quả tích
cực bước đầu”.
“Nền kinh tế Việt Nam được “giải cứu” bởi gói kích thích trị giá 147.000 tỷ đồng (8,6
tỷ USD), đang phục hồi sau khi cuộc suy thoái toàn cầu đã thực sự thử thách “dũng khí”
của các nhà quản lý kinh tế đất nước. Sự tăng trưởng tích cực đã được dự báo cho năm
2010”. Đó là đánh giá của Giám đốc ADB tại Việt Nam Ayumi Konishi. Theo ông
Konishi, suy thoái kinh tế là một thử thách đối với nhà chức trách, hơn 20 năm sau khi
cuộc cải cách kinh tế bắt đầu bằng chính sách ”Đổi mới” (năm 1986) và đánh dấu sự khởi
đầu của con đường phát triển lâu dài. Tăng trưởng kinh tế đã mang lại thành quả lớn lao.
Năm 1993, gần một nửa dân số Việt Nam có mức sống dưới mức nghèo. Kể từ đó, thu
nhập bình quân đã tăng hơn gấp đôi, đẩy tỉ lệ nghèo xuống dưới 20%.
Cùng quan điểm với đại diện ADB, Trưởng đại diện của Phòng Thương mại Australia
tại Việt Nam Clive Randall nhận xét, Chính phủ Việt Nam đã nhanh chóng hành động
nhằm làm dịu bớt mối đe dọa kinh tế. “Họ kiểm soát chính sách tài chính theo một cách
thức rất gây ấn tượng, và điều đó đã có tác động làm cho lạm phát giảm xuống một mức

tại các tổ chức tài chính, do thiếu sự giám sát chặt chẽ. Chúng ta cần tách biệt rõ giữa ý
nguyện đúng đắn của chính sách kích cầu với khiếm khuyết hay rủi ro có thể xảy ra của
hệ thống tài chính (mà ngay cả Mỹ cũng có vấn đề), để có một cái nhìn thực tiễn.
PHẦN KẾT LUẬN
19
Hậu quả của việc không kiểm soát các hoạt động kinh doanh đối với các sản phẩm tài
chính phái sinh trên thị trường tài chính ở Mỹ đã dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính
toàn cầu tác động làm nền kinh tế thế giới lâm vào suy thoái và được các chuyên gia kinh
tế đánh giá là cơn suy thoái tồi tệ nhất từ sau thế chiến thứ II đến nay. Để chặn đà suy
giảm của kinh tế thế giới, chính phủ nhiều quốc gia đã, đang và sẽ hợp lực cùng nhau
thực hiện các gói giải pháp bao gồm các giải pháp về chính sách tiền tệ, lãi suất, lẫn các
giải pháp về chính sách tài khóa. Đối với Việt Nam, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
đã có những tác động tiêu cực đến các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội nhất là kim
ngạch xuất khẩu sụt giảm, đầu tư trong và ngoài nước gặp khó khăn do nhu cầu tiêu thụ
của thị trường trong và ngoài nước bị thu hẹp, sụt giảm. Trước tình hình đó, chính phủ
VIệt Nam đã phải điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô từ chống lạm phát sang chống suy
thoái kinh tế, điều này đòi hỏi sự cẩn trọng trong liều lượng thực hiện các công cụ kinh tế
vĩ mô để nhằm một mặt kiềm hảm đà suy giảm tăng trưởng cũng như đảm bảo không làm
gia tăng lạm phát trở lại. Thực chất đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải điều hành chính
sách kinh tế vĩ mô một cách thông minh và linh hoạt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Khủng hoảng kinh tế thế giới và bài học cho Việt Nam, TS. Lê Hồng Nhật.
20
2. Khủng hoảng tài chính toàn cầu và những vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế Việt
Nam , PGS. TS Nguyễn Văn Luân & PGS. TS Nguyễn Văn Trình.
3. Khủng hoảng tài chính Mỹ và những ảnh hưởng, Trần Văn Thọ – Trần Lê Anh.
4. kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng tài chính toàn cầu, TS. Nguyễn Văn Tạo
( />5. Khủng hoảng toàn cầu và ứng phó của Việt Nam, Vũ Khoan.
( />6. Kinh tế Việt Nam trong bão tài chính 2008-2009, TS. Vương Quân Hoàng
Đại học Tổng hợp Brussels đăng trên Tạp Chí Cộng Sản, Tháng 1 năm 2009


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status