BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
DƯƠNG QUỲNH HƯƠNG
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA
EU VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Mã số: 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRỊNH THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI- 2006
HÀ NỘI- 2005 Tên thành phố-năm
HÀ NỘI- 2006 DANH MỤC BẢNG
TRANG
Bảng 1.1
Thương mại hàng hoá của EU
7
Bảng 1.2
Tổng kim ngạch thương mại EU - châu á (ASEM) 2004
26
Bảng 1.3
Thương mại hàng hoá của EU - một số nước ASEAN năm
2004
28
Bảng 1.4
Thương mại hàng hoá của EU25 – Trung Quốc
29
Bảng 2.1
60
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1
Cấp độ ảnh hưởng của chính sách môi trường EU
47
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
ACP
Africa, Caribe, Pacific
Khối Phi, Caribê, Thái Bình
Dương
ASEAN
Association of South East Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
APEC
Asia Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á -
Thái Bình Dương
CAP
Common Agricultural Policy
Chính sách nông nghiệp chung
CCP
Tổng sản phẩm quốc nội
GSP
Generalized System of Preferences
Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
HACCP
Hazard Analysis Critical Control Point
Hệ thống phân tích mối nguy và
kiểm soát điểm kiểm soát tới hạn
ISO
International Standardization
Organization
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế
MFN
Most Favored Nations
Quy chế tối huệ quốc OECD
Organization of Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh
tế
UNCTAD
United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị Thương mại và Phát triển
của Liên hiệp quốc
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
2. Tình hình nghiên cứu:
Cho tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về EU, về
tầm quan trọng, triển vọng của thị trường EU đối với Việt Nam, nhưng chưa có đề
tài nào đi sâu nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế của EU, đặc biệt sau khi 2
EU mở rộng, không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với các nước khác nhưng lại
có ảnh hưởng, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc xuất khẩu của Việt Nam
sang thị trường EU.
3. Mục đích nghiên cứu:
Hiểu rõ chính sách thương mại quốc tế của EU và tác động của chính sách
thương mại quốc tế của EU đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam.
Làm rõ tác động của các chính sách đó đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa
của Việt Nam sang thị trường EU: thuận lợi, khó khăn và hạn chế.
Kiến nghị các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị
trường EU.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế của EU đối với một số nước và
khu vực, chủ yếu là châu Á, Trung Quốc.
Phân tích các tác động của chính sách đó đến hoạt động xuất khẩu hàng hoá
của Việt Nam sang thị trường EU.
Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường EU.
Đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang
thị trường EU.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA EU
1.1. VAI TRÒ CỦA EU TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI
1.1.1 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của EU
Liên minh Châu Âu (EU) từ 1/5/2004 là một tổ chức liên kết khu vực, với 25
nước thành viên độc lập về chính trị, bao gồm: 15 quốc gia ở Tây, Bắc và Nam Âu
(Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Lúc Xăm Bua, Hà Lan, Anh, Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha, Ai
Len, Đan Mạch, Áo, Thuỵ Điển, Hy Lạp, Phần Lan); 10 quốc gia Đông Âu và Địa
Trung Hải – CEEC (Czech, Estonia, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Slovakia,
Slovennia, Hungary, đảo Cyprus, Malta) liên kết với nhau nhằm thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, chính trị và xã hội. Nó bắt đầu với việc tự do hoá mậu dịch giữa các
nước thành viên và các chính sách kinh tế có liên quan.
Mốc lịch sử đánh dấu sự hình thành EU lúc đó là bản “Tuyên bố Schuman”
của Bộ Trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 09/05/1950 với đề nghị
đặt toàn bộ nền sản xuất than và thép của CHLB Đức và Pháp dưới một cơ quan
quyền lực chung trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu khác cùng tham
gia. Do vậy, Hiệp ước thành lập Cộng đồng Than – Thép châu Âu được ký kết ngày
18/4/1951 là tổ chức tiền thân của EU.
Nếu tính từ khi Hiệp ước thành lập Cộng đồng Than – Thép châu Âu (Paris
1951) thì đến nay Liên minh châu Âu đã bước vào năm thứ 55. Trong suốt thời gian
qua, nhìn tổng quát, có thể thấy Liên minh châu Âu đã trải qua 3 giai đoạn phát
triển chủ yếu sau:
Giai đoạn 1 (1951-1957), hợp tác trong phạm vi Cộng đồng Than – Thép
châu Âu (ECSC) gồm 6 nước Pháp, Cộng hoà Liên bang Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan và
Lúc Xăm Bua.
Giai đoạn 2 (1957-1992), phát triển mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế
và chính trị gồm 12 nước: 6 nước của ECSC cộng thêm Anh, Đan Mạch, Ai Len,
Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha và Hy Lạp.
6
trường; (6) Kiên trì định hướng xây dựng nền kinh tế mở cửa, củng cố và tăng
cường địa vị của EU trong các quan hệ kinh tế quốc tế.
Cho đến nay, EU đã có những thành công mang tính đột phá, như thực hiện
chiến lược xây dựng Thị trường nội địa, xây dựng Liên minh kinh tế tiền tệ châu Âu
(EMU) với đồng tiền chung Euro, cải cách khá căn bản các thị trường theo hướng tự
do hoá và cạnh tranh, điều chỉnh một bước mô hình nhà nước phúc lợi xã hội EU
hiện nay có những bước tiến vượt bậc so với EU trước đây một thập niên, xét về
mức độ liên kết kinh tế và tính năng động.
Sự lớn mạnh kinh tế qua quá trình nhất thể hoá và những bước tiến tới một
liên minh chính trị đã và đang đem lại cho EU một sức mạnh kinh tế và chính trị to
lớn trên thế giới. EU ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thúc đẩy sự
phát triển kinh tế toàn cầu. Vai trò kinh tế của EU trên trường quốc tế thể hiện ở
lĩnh vực thương mại và đầu tư quốc tế.
* Đối với lĩnh vực thương mại quốc tế:
Thương mại tự do là một trong những mục tiêu chủ yếu của EU. Với số dân
455 triệu người, EU đã tạo ra một thị trường quan trọng của thế giới, đẩy mạnh
thương mại giữa 25 nước thành viên và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế so
với Mỹ.
EU đã có những đóng góp không nhỏ đối với việc phát triển thương mại thế
giới. Khối lượng thương mại ngày càng tăng lên đáng kể so với 50 năm qua nhờ vào
việc tiếp tục loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Từ năm 1985-1996, tỷ
trọng thương mại trong GDP thế giới đã tăng 3 lần so với thập kỷ trước và tăng 2
lần so với những năm 60.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của EU giai đoạn từ 1997 đến nay luôn
chiếm từ 15-17% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá toàn cầu, trong khi đó kim ngạch
xuất khẩu hàng hoá của Hoa Kỳ là 10-12%, Nhật Bản là 5-7%. Xuất khẩu dịch vụ
của EU chiếm 42-44% xuất khẩu dịch vụ toàn cầu, con số đó của Hoa Kỳ là khoảng
16-18%, của Nhật Bản là 4-6% [22].
%
Thứ tự
Các đối tác
Triệu Euro
%
Thế giới
1.027 .580
100,0 Thế giới
962.305
100,0
1
Hoa Kỳ
157.386
15,3
1
Hoa Kỳ
233.803
24,3
2
Trung Quốc
126.712
12,3
2
8
Các sản
phẩm thô
khác
9.1%
Nông sản
7.7%
Năng
lượng
17.6%
Sản phẩm
chế tạo
65.6%
Nông sản
6.1%
Các sản
phẩm thô
khác
6.5%
Năng
lượng
2.9%
Sản phẩm
chế tạo
84.5%
Qua bảng 1.1 trên ta thấy, cơ cấu nhập khẩu của EU bao gồm: sản phẩm chế
tạo chiếm trên 65,6%, năng lượng 17,6%, nông sản 7,7%, các sản phẩm thô khác
Bản chiếm 32,1%, ASEAN chiếm 12,6% và 15,6% FDI còn lại của EU đầu tư vào
các nước thành viên mới của EU, Trung Cận Đông và châu Phi [17].
1.1.2.2. Triển vọng kinh tế EU 20 năm đầu thế kỷ XXI
Hiện nay, có các đánh giá rất khác nhau về tương lai của EU trong hai thập
niên đầu thế kỷ XXI. Một số đánh giá cho rằng, EU đang ở trong tình thế khủng
hoảng, mắc phải nhiều căn bệnh kinh niên và không bền vững về dài hạn, do vậy
EU đứng trước một tương lai ảm đạm. Song theo một số đánh giá khác, EU đang
trong tiến trình điều chỉnh các mặt mất cân đối. Martin Hufner, nhà kinh tế chính
của Ngân hàng Hypo Vereins (Đức) nói “châu Âu là khu vực năng động nhất thế
giới trong thập niên 1990”. Kết luận logic rút ra từ đây là, tại sao thế kỷ XXI lại
không phải là thế kỷ của châu Âu?
Trong những năm đầu khi mở rộng, các nhà lãnh đạo EU không tham vọng
nhiều trong việc cải thiện tình trạng kinh tế trì trệ của họ, vì các thành viên cũ phải
tập trung nguồn lực để cải cách thể chế của Liên minh vốn đang rất quan liêu và
cồng kềnh, cho phù hợp với một Liên minh gồm 25 hoặc 30 thành viên. Hơn nữa,
các thành viên cũ phải tập trung nhiều nguồn lực để hỗ trợ cho các thành viên mới,
để cải cách cơ cấu kinh tế của các thành viên mới cho đồng nhất với cơ cấu kinh tế
của thành viên cũ, để nâng mức sống của cộng đồng dân cư khu vực các thành viên
mới do mức GDP đầu người trung bình ở các thành viên mới chỉ bằng 24% mức 10
GDP đầu người trung bình ở các thành viên cũ. Tuy nhiên, khi lượng người tiêu
dùng tăng lên, thị trường được mở rộng sẽ kích thích kinh tế phát triển. Việc châu
Âu liên minh lại với nhau sẽ đưa đến một châu lục mạnh hơn và ổn định hơn, bổ
sung cho nhau về nhiều lĩnh vực như thị trường tiêu thụ sản phẩm, lao động, đầu tư,
v.v , như vậy có thể giúp châu Âu tận dụng được những lợi thế trong một thị
trường nội địa thống nhất. Sau thời gian từ 7-10 năm, khi thể chế chính trị của EU
ổn định, các thành viên mới hoà nhập hoàn toàn vào EU, sẽ là lúc EU trở thành một
các xã hội EU mở cửa hơn. Tuy nhiên, xét bối cảnh cạnh trạnh toàn cầu hiện nay,
với tiến bộ nhanh của đổi mới và R&D, có thể nói, cho đến năm 2020, EU khó có
thể vượt Mỹ về tiềm lực và hiệu năng kinh tế, về tiến bộ công nghệ.
Mặc dù vậy, thông qua các cải cách kinh tế và tăng cường liên kết kinh tế và
chính trị, có nhiều khả năng EU sẽ có ảnh hưởng ngày càng lớn trong nền kinh tế
toàn cầu. Có thể nói, vị thế quốc tế của EU sẽ được nâng cao do có các nhân tố
thuận lợi chính sau:
- Với tư cách là một trong ba trung tâm kinh tế mạnh nhất và có trình độ phát
triển của thế giới hiện nay, EU đã có sự chuẩn bị để có thể tác động nhất định đến
tiến triển của kinh tế thế giới và có khả năng góp phần khuôn định nó. Các cải cách
được EU thực hiện trong hai thập niên qua nhằm vào mục tiêu chiến lược tham
vọng là nâng cao ảnh hưởng đến luật chơi toàn cầu.
- Quy mô kinh tế và trình độ phát triển của khoa học- công nghệ vẫn là nhân
tố quan trọng quy định vị thế của một quốc gia. Nhiều nước trong EU đã có tốc độ
phát triển rất cao trong những năm 1990. Các nước Bắc Âu hiện đang đứng đầu thế
giới trong bảng xếp hạng toàn cầu về năng lực cạnh tranh do Diễn đàn kinh tế thế
giới thực hiện. Đây cũng là thế mạnh của EU.
- Về mô hình liên kết kinh tế khu vực, chủ nghĩa khu vực đang nổi lên mạnh
mẽ, là câu trả lời, đồng thời là sự bổ sung, cho xu thế toàn cầu hoá kinh tế được tổ
chức kém, gây nhiều tác động xấu đến các quốc gia. EU hiện nay đang đi đầu về
mặt này và có thể cung cấp các kinh nghiệm cho các khu vực khác.
- Về quan hệ kinh tế quốc tế, mô hình thương mại quốc tế có quản lý của EU
phù hợp nhất định với lợi ích của nhiều nước đang phát triển. Với các thoả thuận 12
song phương EU ký với các nước đang phát triển, các nước đang phát triển có điều
kiện chuẩn bị nhất định cho hội nhập kinh tế quốc tế.
- Về văn hoá: trong khi “lò luyện” Mỹ bị chi phối bởi văn hoá Ănglô-xắc
xông, EU đang trở thành xã hội đa văn hoá thực sự. EU đã học được cách đối phó
Theo Điều khoản 9-37, Hiệp ước về Liên minh châu Âu, để hàng hoá được tự
do lưu thông trong thị trường chung, các nước thành viên EU đều nhất trí áp dụng
những biện pháp sau đây:
(1) Xoá bỏ hoàn toàn mọi loại thuế đánh vào hàng hoá xuất nhập khẩu giữa các
nước thành viên.
(2) Xoá bỏ hạn ngạch áp dụng trong thương mại nội khối
(3) Xoá bỏ tất cả các biện pháp tương tự hạn chế về số lượng (các biện pháp hạn
chế dưới mọi hình thức là các quy chế và quy định về cấu thành sản phẩm,
đóng gói tiêu chuẩn công nghiệp và an toàn kỹ thuật).
(4) Xoá bỏ tất cả các rào cản về thuế giữa các nước thành viên
Để thực hiện được biện pháp thứ ba, EU phải vận dụng hai nguyên tắc: điều
hoà và công nhận lẫn nhau. Nguyên tắc điều hoà có nghĩa là sự kết hợp các nguyên
tắc quốc gia theo một chuẩn mực thống nhất. Nguyên tắc công nhận lẫn nhau có
nghĩa là một nước thành viên này chấp nhận tiêu chuẩn của một nước khác tiêu
chuẩn đó đáp ứng được tiêu chuẩn tối thiểu nhất định về an toàn và sức khoẻ do
Liên minh châu Âu đề ra. Theo quy định của Uỷ ban châu Âu năm 1996, đối với
việc thực hiện biện pháp thứ tư, EU trực tiếp xoá bỏ các rào cản về thuế giữa các
thành viên, thực chất là việc đổi mới thủ tục thu thuế; chuyển các chức năng kiểm
soát thuế từ biên giới tới các hãng.
* Tự do lưu chuyển dịch vụ: Theo Điều khoản 59-66, Hiệp ước Liên minh
châu Âu, việc lưu chuyển dịch vụ có thể được thực hiện theo những cách sau:
(1) Tự do cung cấp dịch vụ
(2) Tự do hưởng các dịch vụ
(3) Tự do chuyển tiền bằng điện tín
(4) Công nhận lẫn nhau các văn bằng
14
1.2.1.2. Tự do đi lại và cư trú trên toàn lãnh thổ EU
Trong sự phát triển kinh tế của EU, thương mại quốc tế đóng một vai trò hết
sức quan trọng. Nó đã đem lại sự tăng trưởng kinh tế và tạo ra việc làm trong các
ngành sản xuất, nghiên cứu, bảo hiểm, ngân hàng và rất nhiều ngành khác. Tự do
hoá thương mại là một trong những mục tiêu chủ yếu của EU. Với dân số 455 triệu
người, EU trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất thế giới
với cả hai ý nghĩa: vừa là thị trường nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá và dịch vụ, vừa
là nhà xuất khẩu hàng hoá và thiết bị công nghệ nguồn quan trọng của thế giới. Do
vậy, chính sách phát triển thương mại quốc tế của EU giúp định hướng các hoạt
động thương mại nhằm phục vụ mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của EU.
Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương
chung đối với các nước ngoài khối. Uỷ ban Châu Âu (EC) là người đại diện duy
nhất cho Liên minh châu Âu trong việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại
và dàn xếp tranh chấp trong lĩnh vực này.
1.2.2.1. Chính sách thương mại chung của EU (Common Commercial Policy-
CCP)
* Sự ra đời, mục tiêu của CCP
Chính sách thương mại chung của EU cùng với chính sách tiền tệ chung có
lẽ là chính sách thành công và hiệu quả nhất của EU, cho phép EU có một tiếng nói
chung trong diễn đàn toàn cầu và nâng cao sức mạnh của mình trong các cuộc
thương lượng và tranh chấp thương mại. Tháng 7 năm 1968, 8 tháng trước khi hạn
cuối cùng đề ra trong Hiệp ước Rome năm 1957, Liên minh thuế quan của EEC bắt
đầu có hiệu lực. Các loại thuế quan còn lại đối với thương mại bên trong Cộng đồng
được bãi bỏ và một Biểu thuế quan ngoại khối chung (CET) được thay thế các loại
thuế quan quốc gia trong hoạt động thương mại với thế giới bên ngoài (RoW). Kể từ
đó, CCP và công cụ chủ yếu của nó (CET) đã cùng phát triển với yêu cầu thay đổi
của EU và đóng góp to lớn vào việc làm cho EU trở thành một đối tác thương mại
hàng đầu thế giới. 17
để có thể đảm bảo cả tính hiệu quả và sự gắn kết nội bộ. Những tính toán chủ yếu
khiến EC và hiện nay là EU thực hiện các thoả thuận ưu đãi này và quyết định nội
dung thực tế của nó là mức độ phát triển của hoạt động thương mại với các đối tác
liên quan và khả năng trở thành thành viên trong tương lai. Trong trường hợp hai
nội dung này không trùng hợp thì thoả thuận ưu đãi sẽ bao gồm sự nhượng bộ lẫn
nhau, do đó được coi là giai đoạn chuẩn bị quyền thành viên đầy đủ. Nếu không
thoả thuận sẽ hạn chế hơn và không có sự nhượng bộ qua lại.
Hầu hết thương mại của EU thực hiện theo các thoả thuận đặc biệt được Uỷ
ban châu Âu điều phối. Theo đó, khi Liên minh thuế quan và Chính sách thương
mại chung được thực hiện thì Uỷ ban có nhiệm vụ đàm phán về mức thuế quan với
các quốc gia thứ ba và nhiệm vụ này được Uỷ ban châu Âu thực hiện với đầy đủ
quyền tự chủ đối với chính phủ các quốc gia thành viên. Tuy nhiên, dù hầu hết việc
lập các chính sách thương mại là do các thể chế của Cộng đồng (Điều 113 và GD1)
giống như đối với chính sách nông nghiệp chung (CAP). Song thực tế, việc các
chính sách quốc gia vẫn có tác động nhất định đã gây ra các vấn đề nghiêm trọng về
điều phối. Chỉ đến thoả thuận Nizza (Tháng 12/2000), Điều khoản 113 này mới
được thay đổi và thẩm quyền đối ngoại của Cộng đồng được mở rộng sang hầu hết
các hoạt động thương mại dịch vụ và các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ. Các lĩnh vực còn lại là dịch vụ, văn hoá, y tế và giáo dục vẫn thuộc thẩm quyền
của chính phủ các nước. Do vậy, thẩm quyền của chính sách thương mại hoàn toàn do
Uỷ ban quản lý trên cơ sở các chỉ thị của Hội đồng. Trên thực tế, Hội đồng châu Âu có
thẩm quyền thông qua các thoả thuận quốc tế theo đa số xác định.
* Đặc điểm chính của CCP
Những đặc điểm chính của CCP- “cốt lõi của quan hệ kinh tế đối ngoại “của
EU- là tính phức tạp bẩm sinh và chủ nghĩa ưu đãi. Đặc tính đầu tiên hình thành từ
việc tập hợp một cách không có trật tự các thoả ước thương mại quốc gia cũng như
khu vực, dựa trên những thoả hiệp không bao giờ chấm dứt cần có nhằm khắc phục
cho chính sách thương mại EU tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc GATT/WTO
nhưng những nghi ngờ sâu sắc vẫn tồn tại do nguyên tắc không phân biệt đối xử
thường xuyên bị vi phạm trong quan hệ của họ với nhiều quốc gia chậm phát triển.
Hiển nhiên, việc nhượng bộ trong các ưu đãi này đã gây ra sự phân biệt chống lại cả 19
các quốc gia thứ ba và thậm chí là sự phân biệt chống lại cả các quốc gia được ưu
đãi khi mức độ ưu đãi thay đổi. Do đó, vai trò của EU thể hiện một nhân tố quan
trọng trọng cuộc tranh cãi đang diễn ra giữa chủ nghĩa khu vực và chủ nghĩa đa
phương. Trên thực tế, có thể dễ dàng chỉ ra rằng chủ nghĩa khu vực châu Âu làm
tăng nhanh quá trình tự do hoá đa phương. Điều khó hơn là phải điều chỉnh để chủ
nghĩa ưu đãi Cộng đồng có thể hoà hợp với chủ nghĩa đa phương. Do vậy, đó là tất
cả những cuộc bút chiến mà chính sách thương mại EU gây ra trong diễn đàn
GATT/WTO.
Các nguyên tắc của Chính sách thương mại chung CCP phát huy hiệu lực
thông qua các công cụ chính sách thương mại. Các công cụ này là hàng rào thuế
quan, các ưu đãi thuế quan và nhiều loại hàng rào phi thuế quan khác nhau (NTB-
Non-tariff barrier) như hạn ngạch, các hạn chế xuất khẩu tự nguyện, trợ cấp xuất
khẩu, các nguyên tắc mua hàng công cộng, các quy định về dịch vụ, các điều khoản
phòng vệ, các biện pháp chống phá giá và thuế chống độc quyền. Đối với các công
cụ sau này, EU cũng tuân theo nhiều bộ luật ứng xử khác nhau như đã đề ra trong
các cuộc đàm phán GATT tiếp theo. Rào thuế quan đã được giảm bớt đáng kể, đặc
biệt là đối với các mặt hàng sản xuất và điều này cũng được thực hiện đối với hạn
ngạch hàng dệt may và các sản phẩm ở nông thôn vốn đã bị GATT/WTO nghiêm
cấm từ trước.
* Chính sách thương mại của EU được chia làm hai loại: chính sách
thương mại tự trị và chính sách thương mại dựa trên cơ sở các hiệp định. Nói
cách khác, trong quan hệ quốc tế, EU cho phép xác lập các quan hệ thương mại với
các nước ngoài khối theo những hình thức sau: