MỤC LỤC
Danh mục viết tắt............................................................................iii
Danh mục bảng và hình...................................................................v
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................vii
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008 và những tác động chính đến nền kinh tế thế giới ............... 1
1.1. Một số vấn đề về khủng hoảng tài chính ......................................... 1
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về khủng hoảng tài chính ..................... 1
1.1.2. Khủng hoảng tài chính dưới góc nhìn của học thuyết kinh tế của Keynes
J.M ...................................................................................................................... 5
1.2. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 .................................. 11
1.2.1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu ........................... 11
1.2.2. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008. ....................... 15
1.3. Những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
đến nền kinh tế thế giới ......................................................................... 22
1.3.1. Tác động tới thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng ................... 22
1.3.2. Tác động tới thương mại quốc tế ............................................................. 24
1.3.3. Tác động tới đầu tư quốc tế ..................................................................... 26
1.3.4. Tác động tới tăng trưởng ......................................................................... 27
1.3.5. Tác động tới cơ cấu ngành ....................................................................... 29
1.3.6. Tác động tới các khoản nợ quốc gia ........................................................ 37
Chương 2. Nền kinh tế các nước Châu Âu dưới tác động của
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 ........................................... 39
2.1. Bối cảnh nền kinh tế các nước Liên minh Châu Âu - EU trước
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 ................................................... 39
2.1.1. Khái quát chung về lịch sử hình thành và các nước thành viên ................ 39
2.1.2. Tình hình kinh tế EU trước khủng hoảng 2008 ........................................ 40
2.2. Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu tới kinh tế, thương
mại các nước EU ................................................................................... 42
2.2.1. Tác động tới thị trường chứng khoán và hệ thống ngân hàng ................... 42
- i -
viên, trước ngày 01/04/2004
EU-25 European Union
Liên minh Châu Âu gồm 25 thành
viên, trước ngày 01/01/2007
EUR Euro Đồng Euro
Eurostat
Statistical Office of the European
Communities
Cơ quan thống kê Châu Âu
Euratom European community of atomic energy
Cộng đồng Năng lượng nguyên tử
Châu Âu
FAO Food and Agriculture Organization
Tổ chức Lương thực và Nông
nghiệp Liên Hợp Quốc
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
FED Federal Reserve System Cục dự trữ liên bang Mỹ
JPY Japanese Yen Đồng Yên Nhật
GBP British Pound Đồng Bảng Anh
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
- iii -
ILO International Labor Organization Văn phòng lao động quốc tế
IMF Internation Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
MBS Mortgage-Backed Security
Khoản vay thế chấp/Chứng khoán
đảm bảo bằng tài sản thế chấp
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng Thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
OECD
Hình 2. Sự tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp ..................29
Hình 3. Lượt khách du lịch quốc tế ..............................................31
Hình 4. Thương mại quốc tế về hàng hóa năm 2005 .................42
Hình 5. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của EU, EA-16, Mỹ và
Nhật Bản...........................................................................................52
Hình 6. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế của các nước EU từ
2007 đến 2010...................................................................................54
- v -
Hình 7. Chỉ số tổng sản phẩm công nghiệp trong EU-27 và
EA-16 ................................................................................................55
Hình 8. Sự thay đổi về doanh thu các lĩnh vực dịch vụ tháng
9-10/2008 ..........................................................................................61
Hình 9. Sự thay đổi doanh thu trong ngành dịch vụ ở một số
nước thành viên EU, tháng 11/2008 .............................................62
Hình 10. Sự thay đổi việc làm trong EU......................................64
Hình 11. Nợ công của các nước thành viên EU..........................69
- vi -
LỜI NÓI ĐẦU
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài
chính Mỹ từ cuối năm 2007, lan rộng ra các nước Châu Âu và ảnh hưởng sâu rộng
đến nền kinh tế toàn thế giới. Năm 2008 trôi qua với nhiều sự kiện kinh tế đáng chú
ý, tiêu biểu nhất là nền kinh tế thế giới trải qua 3 cú sốc liên tiếp: khủng hoảng lương
thực, khủng hoảng dầu mỏ và nổi bật là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tình
hình phát triển kinh tế của thế giới gặp nhiều khó khăn và thử thách dưới những diễn
biến phức tạp
và những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng. Bước sang năm 2009,
cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế làm cho nền kinh tế các nước
càng trở nên trầm trọng. Vì vậy vấn đề về khủng hoảng tài chính toàn cầu đã và đang
là đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm, chú ý không chỉ của các chuyên gia kinh
tế mà của mỗi cá nhân trên toàn thế giới bởi chúng ta là những người đang phải gánh
khủng hoảng tài chính toàn cầu tới các nước thành viên của Liên minh Châu Âu – EU
(27 nước).
Phương pháp nghiên cứu của khóa luận là thu thập, tổng hợp và sử dụng tài
liệu và số liệu thứ cấp, sau đó phân tích, đáng giá, so sánh số liệu thống kê. Bên cạnh
đó khóa luận cũng sử dụng phương pháp phân tích đi từ chung đến riêng, nghiên cứu
lý luận kết hợp tổng hợp từ thực tiễn.
Bố cục của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những
tác động chính đến nền kinh tế thế giới.
Chương 2: Nền kinh tế các nước Châu Âu dưới tác động của khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2008.
Chương 3: Các chính sách đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu của các
nước Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- viii -
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy giáo TS. Vũ Hoàng Nam –
Trưởng khoa Hợp tác quốc tế trường đại học Ngoại Thương, đã hướng dẫn chỉ bảo
tận tình để tôi có thể hoàn thành khóa luận này. Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn sự
chỉ bảo dạy dỗ của tất cả các thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương. Tuy nhiên,
mặc dù đã cố gắng hết sức tìm tòi và khai thác tài liệu nhưng do kiến thức chuyên
môn còn hạn chế và thời gian viết khóa luận ngắn nên chắc chắn khóa luận khó tránh
khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của các thầy cô và
các bạn để bài khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Trần Việt Anh
- ix -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
đến nền kinh tế thế giới
Theo nhà kinh tế học người Mỹ Federic Mishkin thì khủng hoảng tài chính là
sự đổ vỡ thị trường tài chính mà trong đó những sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức
trở nên tồi tệ hơn, làm cho thị trường không có khả năng hướng 1 cách hiệu quả các
quỹ đến những người có cơ hội đầu tư hiệu quả nhất.
Tóm lại, khủng hoảng tài chính chính được hiểu là sự thất bại của một hay
một số nhân tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ bổn phận, nghĩa vụ tài
chính của mình. Hay nói cách khác khủng hoảng tài chính là tình trạng tài chính
(quỹ) mất cân đối nghiêm trọng có thể dẫn đến sụp đổ quỹ. Khủng hoảng tài chính
xảy ra khi nhu cầu tiền vượt quá so với nguồn cung. Nhu cầu về tiền mặt của người
dân hay các nhà đầu tư nước ngoài đã gây sức ép cho hệ thống ngân hàng và thị
trường tài chính khiến cho hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính có thể sụp đổ.
Trong nền kinh tế hiện tại, sự lan rộng của khủng hoảng tài chính trong một thời gian
dài kéo theo tình trạng suy thoái kinh tế (Laeven, L & Valencia, F 2008).
1.1.1.2.Đặc điểm
Khủng hoảng tài chính thường có những biểu hiện cơ bản sau:
Thứ nhất, có hiện tượng khan hiếm tín dụng, cầu về dự trữ quá lớn khiến cho
ngân hàng không thể cùng một lúc đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người. Giá trị tài
sản của ngân hàng giảm mạnh dẫn đến mất khả năng trả nợ. Điều này dẫn đến một số
ngân hàng sụp đổ và xuất hiện tình trạng đổ xô đến các ngân hàng, các “bong bóng”
giá tài sản nổ tung, sự sụt giá ban đầu trong các giá trị tài sản buộc các ngân hàng
phải bán tiếp tài sản và làm giá tài sản giảm mạnh hơn nữa. Các khoản tín dụng hình
thành trong thời điểm bùng nổ thì được mang ra bán tháo.
Thứ hai, các ngân hàng đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn.
Thứ ba, toàn bộ bộ máy tài chính – tín dụng quốc gia lâm vào tình trạng tồi tệ:
sự phá vỡ hệ thống thanh toán, tài chính nhà nước; sự phá sản của các định chế tài
chính trung gian; phá giá đồng nội tệ, áp lực lạm phát.
Thứ tư, cán cân thanh toán, cán cân mậu dịch, ngân sách nhà nước bị mất cân
bằng nghiêm trọng.
- 2 -
tiền do mất lòng tin vào khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng và lo lắng cho tài
- 3 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
sản của mình gửi ở đó (Laeven, L & Valencia, F 2008). Tại một thởi điểm nhất định,
một tổ chức tín dụng thường không giữ nhiều tiền mặt và không thể ngay lập tức thu
hồi các khoản cho vay của mình nên khi người gửi tiền đổ xô đến rút tiền thì dẫn đến
hiện tượng khan hiếm tín dụng, tổ chức này trở nên mất khả năng thanh toán thực sự
và thường phải ngừng giao dịch, thậm chí có thể phải tuyên bố phá sản. Nhiều tổ
chức tín dụng lâm vào tình trạng như vậy sẽ dẫn tới khủng hoảng cả hệ thống ngân
hàng.
Thứ hai là khủng hoảng tiền tệ. Theo nghĩa hẹp, khủng hoảng tài chính gắn
liền với chế độ tỷ giá hối đoái cố định, khi nền kinh tế đi xuống hoặc vấp phải những
làn sóng đầu cơ cực mạnh sẽ phải điều chỉnh ở trong nước chuyển sang chế độ tỷ giá
hối đoái thả nổi. Mức độ tỷ giá thả nổi mà thị tường qui định thường cao hơn so với
tỷ giá cố định mà chính phủ cố gắng duy trì rất nhiều. Mức biên độ tỷ giá hối đoái
này thường rất khó kiểm soát, hiện tượng này chính là khủng hoảng tiền tệ. Theo
nghĩa rộng, khủng hoảng tiền tệ chính là hiện tượng mà khi đó mức độ biến động của
tỷ giá hối đoái vượt quá phạm vi một quốc gia có thể gánh chịu. Khủng hoảng tiền tệ
còn có thể hiểu đơn giản là hiện tượng giá trị đối ngoại của nội tệ bị suy giảm một
cách nghiêm trọng và nhanh chóng. Chính phủ gặp rất nhiều khó khăn để kiểm soát
tỷ giá hối đoái và khi Ngân hàng Trung ương (NHTW) cố gắng can thiệp tỷ giá để
bảo vệ giá trị đồng nội tệ thì dự trữ ngoại hối của quốc gia bị sụt giảm nhanh chóng
trên một quy mô lớn (Burnside, C et al. 2008).
Thứ ba là khủng hoảng nợ. Khủng hoảng nợ là trường hợp quốc gia vay nợ
nước ngoài quá nhiều và sự dụng không hiệu quả nên không trả được nợ đúng hạn,
lâm vào khủng hoảng nợ buộc phải xin hoãn nợ, xóa nợ hoặc tuyên bố vỡ nợ. Khủng
hoảng nợ thường xảy ra ở một số nước đang phát triển. Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá
khả năng thanh toán của một quốc gia trong đó chỉ tiêu quan trọng nhất là chỉ tiêu tỷ
lệ thanh toán nợ nước ngoài. Chỉ tiêu này thường nằm dưới 20%, nếu vượt quá 20%
đại khủng hoảng này và cũng chính là một lập luận quan trọng mô tả chi tiết cuộc
khủng hoảng là lý thuyết kinh tế học của Keynes. Những giải pháp của ông đã giúp
nước Mỹ thoát ra được khỏi cuộc đại khủng hoảng những năm 1930s này. Vậy
Keynes là ai? Lý thuyết của ông có ảnh hưởng ra sao? Nó có tầm quan trọng như thế
nào?
- 5 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
1.1.2.1.Lý thuyết kinh tế học của Keynes
John Maynard Keynes – được mệnh danh là người thầy của nền kinh tế học
hiện đại, là một nhà kinh tế học người Anh (1883 – 1946), xuất thân từ tầng lớp
thượng lưu, tiểu sử của ông có rất nhiều mặt nổi bật với những ý tưởng hình thành
nên Kinh tế học Keynes – một trong những lý thuyết về kinh tế có ảnh hưởng lớn trên
toàn thế giới và có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến kinh tế học hiện đại thế kỷ 20.
Trong giai đoạn trước khi cuộc đại khủng hoảng lịch sử 1929 nổ ra, theo tất cả
các mô hình cổ điển và tân cổ điển về kinh tế thì thị trường tự giải quyết tất cả các
vấn đề của nó và tự điều tiết, chính phủ có vai trò gần như bằng không trong việc
điều tiết cũng như quản lý thị trường. Mô hình kinh tế điển hình trong giai đoạn này
là mô hình kinh tế học của Adam Smith (1723 – 1790). Theo lý thuyết bàn tay vô
hình của Adam Smith thì tự người lao động biết rõ nhất cái gì có lợi cho họ, do vậy
nếu không có bàn tay của Chính phủ kiểm soát, người lao động sẽ thu được lợi nhuận
từ đó thúc đẩy sản xuất hàng hóa và thông qua thị trường tự do này lợi ích cá nhân sẽ
gắn với lợi ích xã hội. Ông cho rằng: “Mọi cá nhân không có ý thức thúc đẩy lợi ích
công cộng mà chỉ nhằm vào lợi ích của riêng mình, người đó được bàn tay vô hình
dẫn dắt để phục vụ một mục đích không nằm trong ý định của mình”. Rồi trên cơ cở
đó, ông đưa ra đánh giá về vai trò của chính phủ: “Bạn nghĩ rằng bạn đang giúp cho
hệ thống kinh tế bằng những quản lý đầy ý định tốt đẹp và bằng những hành động
can thiệp của mình. Không phải vậy đâu, hãy để mặc, hãy để mọi sự việc xảy ra,
đừng nhúng tay vào. Dầu nhờn của lợi ích cá nhân sẽ làm cho các bánh xe kinh tế
hoạt động gần như kỳ diệu. Không ai cần kế hoạch, không cần quy tắc, thị trường sẽ
kinh tế, như tiền tiêu dùng của một người trở thành tiền thu nhập của người khác và
ngược lại tiền tiêu dùng của người khác sẽ là tiền thu nhập lại của một người. Nhưng
khi có một động cơ hay lý do nào đó làm cho người tiêu dùng mất đi sự tin tưởng vào
thị trường, khi người tiêu dùng lo sợ bất ổn kinh tế, họ sẽ cố gắng giảm bớt mọi
khoản chi tiêu. Nhưng do khoản chi tiêu của một người cũng là một phần thu nhập
của người khác, nên nếu một người ngừng chi tiêu, nó sẽ ảnh hưởng xấu đến mức thu
nhập của người khác. Người khác sẽ rơi vào một tình thế khó xử và bắt đầu giảm
mức chi tiêu cá nhân. Khi đó nó lại tác động xấu lại một người. Hiện tượng “hình
vòng luẩn quẩn” xảy ra, mọi người càng tiết kiệm chi tiêu trong thời kỳ khó khăn thì
nền kinh tế càng trở nên nghiêm trọng khi tất cả đều giảm chi tiêu. Điều này cũng
- 7 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
được thể hiện ở một số luận điểm chính mà Keynes trình bày trong cuốn Lý thuyết
tổng quát được trích dẫn ngay sau đây.
Trước hết, tiền công có tính cứng nhắc. Mức tiền công được thỏa thuận giữa
chủ và thợ là tiền công danh nghĩa chứ không phải tiền công thực tế và mức tiền công
này được ghi trong hợp đồng, được công đoàn và được luật pháp bảo vệ. Do đó, mức
tiền công không phải là linh hoạt như giới học thuật kinh tế vẫn giả định. Giới chủ
chỉ tăng thuê mướn lao động khi tiền công thực tế giảm; mà muốn thế thì tiền công
danh nghĩa phải giảm nhiều hơn mức giá chung của nền kinh tế. Song nếu vậy, thì
cầu tiêu dùng sẽ giảm, kéo theo tổng cầu giảm. Đến lượt nó, tổng cầu giảm lại làm
tổng doanh số giảm, lợi nhuận giảm làm triệt tiêu động lực đầu tư mở rộng sản xuất -
việc cần thiết để thoát khỏi suy thoái.
Bên cạnh đó, kỳ vọng về giảm tiền công và giá cả sẽ khiến người ta giảm chi
tiêu do nghĩ rằng tiền trong túi của mình đang tăng giá trị. Cầu tiêu dùng và tổng cầu
giảm. Cứ thế, vòng xoáy đi xuống của nền kinh tế hình thành.
Đồng thời, thắt chặt chi tiêu trong thời kỳ khủng hoảng chỉ làm cho khủng
hoảng thêm trầm trọng. Khi kinh tế suy thoái, chính phủ nên đẩy mạnh chi tiêu nhằm
tăng tổng cầu như một chính sách chống suy thoái. Và nói chung, chính phủ nên tích
Thứ hai là chính sách tiền tệ (CSTT). CSTT hiểu theo nghĩa hẹp là tổng thể
các biện pháp, các công cụ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhằm góp phần đạt
được các mục tiêu kinh tế thông qua việc chi phối dòng tiền di chuyển, khối lượng
tiền và mặt bằng lãi suất. Hiểu theo nghĩa rộng thì CSTT là tổng thể các biện pháp
của Nhà nước pháp quyền nhằm mục đích cung ứng những phương tiện thanh toán
cần thiết và tạo dựng những khuôn khổ tiền tệ cho các mối quan hệ kinh tế của nền
kinh tế nhằm những mục tiêu cơ bản như: ổn định tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân
thanh toán, giữ nền kinh tế tăng trưởng đều. Công cụ của CSTT bao gồm các công cụ
gián tiếp và các công cụ trực tiếp.
Nhóm công cụ trực tiếp là nhóm các công cụ tác động thẳng vào mục tiêu
trung gian của CSTT (hay tác dụng thẳng vào khối lượng tiền cung ứng và lãi suất).
- 9 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Nhóm công cụ này bao gồm hạn mức tín dụng, khung lãi suất, biên độ dao động của
tỷ giá mua bán ngoại tệ và chính sách quản lý ngoại hối.
Nhóm công cụ gián tiếp là nhóm các công cụ tác động trước hết vào các mục
tiêu hoạt động của CSTT, thông qua cơ chế thị trường mà tác động đến khối lượng
tiền cung ứng và lãi suất. Nhóm công cụ này bao gồm nghiệp vụ thị trường mở, chính
sách tái chiết khấu, dự trữ bắt buộc và chính sách tỷ giá hối đoái.
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ trong đó NHTW sử dụng các nghiệp vụ
mua bán chứng khoán trên thị trường tiền tệ mở để thay đổi khối lượng tiền cơ sở, từ
đó tác động đến khối lượng tiền cung ứng và mức lãi suất trên thị trường. Khi NHTW
mua hoặc bán các chứng khoán, nó sẽ làm tăng hoặc giảm ngay lập tức dự trữ của các
NHTM. Đây là công cụ điều tiết các mục tiêu trung gian có hiệu quả nhất vì nó linh
hoạt và chủ động. Tuy nhiên việc thực hiện công cụ này đòi hỏi sự phát triển của thị
trường tài chính và tiền tệ.
Chính sách tái chiết khấu là chính sách trong đó NHTW thường cho các
NHTM vay dưới hình thức chiết khấu lại các giấy tờ có giá ngắn hạn do các NHTM
đưa đến. Chính sách cho vay của NHTW đối với các NHTM gọi là chính sách tái
1.2.1.Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính này đầu tiên xảy ra tại Mỹ - một nước có nền
kinh tế chiếm tới 25% GDP toàn cầu và có một tỷ lệ lớn trong các giao dịch quốc tế.
Sau đó cuộc khủng hoảng lan sang các nước công nghiệp Tây Âu – những trung tâm
tài chính lớn của thế giới và nhanh chóng lan rộng ra toàn thế giới
Các nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng Mỹ
là chính sách phi điều tiết các hoạt động đầu tư của ngành ngân hàng và chính sách
lãi suất quá thấp trong một thời gian quá lâu của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).
Và các công cụ tài chính trực tiếp gây ra thảm họa này là các món nợ có thế chấp bất
động sản dưới chuẩn, các công cụ tài chính phái sinh, ví dụ như Khoản vay thế chấp
hay còn gọi là Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS - Mortgage-Backed
Security) hoặc Tín phiếu trao đổi các món nợ xấu (CDS - Credit Default Swap). Bên
- 11 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
cạnh đó, sự suy sụp của thị trường bất động sản và “vỡ nợ” tín dụng, hàng loạt các
ngân hàng thua lỗ cũng được xem là những nguyên nhân trực tiếp và cơ bản gây ra
cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ.
Trước hết là những hậu quả từ sự suy sụp của thị trường bất động sản tại Mỹ .
Ở Mỹ, theo luật có điều khoản khi một cá nhân hay công ty muốn mua một bất động
sản, thì họ phải trả ngay một số tiền trị giá khoảng 10% - 25% trị giá nhà. Phần còn
lại NHTM có thể cho vay, với điều kiện căn nhà đó được thế chấp để bảo lãnh khoản
tiền nợ (Mortgage) và khách hàng có thể trả dài hạn, khoảng từ 10 đến 25 năm. Như
vậy, người mua không cần có nhiều tiền mà vẫn mua được nhà, nhưng họ phải có
việc làm và thu nhập ổn định để trả lãi hàng tháng cho ngân hàng. Nếu vì lý do nào
đó, người mua không có tiền trả lãi, ngân hàng có thể tịch thu căn nhà đó và bán cho
người khác. Phần tiền 80% trị giá căn nhà sẽ được chủ nợ mang đi bảo hiểm với một
tổ chức tài chính lớn (ví dụ công ty AIG của Mỹ). Như thế, nếu bán căn nhà bị lỗ,
ngân hàng chủ nợ sẽ được công ty bảo hiểm bồi thường phần bị lỗ. Nếu áp dụng
đúng luật như vậy thì các ngân hàng chủ nợ cho vay đều được an toàn, vì tỷ lệ nợ khó
nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu cắt
giảm mạnh lãi suất) đến 2005. Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá
nhà sẽ tiếp tục lên. Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị
thực và khả năng trả nợ sau này vì họ nghĩ nếu cần sẽ bán lại để trả nợ ngân hàng mà
vẫn có lời. Khi đó, các ngân hàng cạnh tranh nhau và tìm mọi cách ưu đãi khách
hàng. Thậm chí nhiều ngân hàng không yêu cầu người mua phải trả khoản tiền mặt
20% trị giá ngôi nhà. Đây là tình trạng rủi ro rất cao cho các ngân hàng chủ nợ. Các
khoản vay này được gọi là dưới chuẩn (subprime), vì người vay nợ không đủ tiêu
chuẩn để đi vay. Do đó một bong bóng đã hình thành trong thị trường bất động sản.
Sau đó, do lo lắng về diễn biến lạm phát, FED bắt đầu tăng dần lãi suất, dẫn
đến việc thị trường bất động sản bắt đầu chững lại vào đầu năm 2006. Trong khi vào
giữa năm 2003 lãi suất căn bản của FED chỉ có 1% thì vào giữa năm 2006 nó đã tăng
lên đến 5,25%. Điều này bắt buộc các NHTM phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà
lên cao hơn nhiều nữa. Tình hình lãi suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà
giảm xuống. Giá nhà bắt đầu trượt dốc vì cung vượt cầu. Nhiều người mua nhà giá
- 13 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
cao trước đây bắt đầu thấy giá thị trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoản nợ
mà mình đang vay. Bên cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất
dưới chuẩn bắt đầu mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo
lãi suất mới hiện hành khá cao. Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá
nhà thấp hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc. Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân
hàng trưng thu lại. Trên 12 triệu căn nhà bị các ngân hàng chủ nợ tịch thu và không
bán được.
Mặt khác, việc ngày càng nhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng
mỗi tháng dẫn đến việc trị giá của các MBS bị tụt dốc. Như đã nói lúc đầu, có rất
nhiều nhà đầu tư ở Wall Street đã mua MBS. Do đó, khi MBS mất giá thì đồng nghĩa
với việc tài sản của họ cũng bị mất theo, dẫn đến việc thiếu hụt vốn. Bên cạnh đó,
các công ty bảo hiểm MBS, chẳng hạn như AIG, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi
tuổi lớn như Washington Mutual, Wachonia, IndyMac.
Như vậy cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 với đỉnh điểm
là sự sụp đổ của các ngân hàng đầu tư khổng lồ và những công ty bảo hiểm lớn nhất
nước Mỹ vào tháng 9/2008. Các công ty này có trụ sở tọa lạc ở khu Wall Street. Sau
hàng trăm năm hiện hữu với tư cách là trung tâm tài chính của nước Mỹ và của cả thế
giới, khu Wall Street đã hoàn toàn sụp đổ trong một tuần lễ, kể từ ngày 15/9/2008,
với sự phá sản của ngân hàng đầu tư Lehman Brothers. Tiếp đến là phản ứng dây
chuyền gây nên sự sụp đổ hàng loạt các ngân hàng, quĩ tín dụng, không chỉ ở Mỹ mà
lan ra toàn cầu, sang cả các thị trường chứng khoán, rồi tới mọi ngành sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế thực của các quốc gia, làm suy giảm thương mại, đầu tư, gia
tăng đói nghèo và thất nghiệp trên toàn thế giới. Vì vậy có thể nói cuộc khủng hoảng
tài chính Mỹ là nguyên nhân cơ bản của cuộc đại khủng hoảng toàn cầu 2008.
1.2.2.Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008.
Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 và ngày càng trầm trọng
hơn kéo theo sự sụp đổ đối với thị trường tài chính, hệ thống tài chính ngân hàng Mỹ
đồng loạt đổ vỡ, ngành dịch vụ sản xuất bắt đầu chững lại và đi xuống. Kinh tế Mỹ
lâm vào suy thoái với tốc độ nhanh khoảng -0,3% trong quý III/2008. Mức chi tiêu
- 15 -