MỤC LỤC
Danh mục viết tắt...........................................................................ii
Danh mục bảng và hình................................................................iv
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................vi
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
2008 và những tác động chính đến nền kinh tế thế giới...............1
Chương 2. Nền kinh tế các nước Châu Âu dưới tác động của
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008..........................................39
Các chính sách đối phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu của
các nước Châu Âu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam........74
KẾT LUẬN...................................................................................91
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................93
- i -
Danh mục viết tắt
AUD Australian Dollar Đô la Úc
CDS Credit Default Swap Tín phiếu trao đổi các món nợ xấu
CIS Commonwealth of Independent States Cộng đồng các quốc gia độc lập
CNY Chinese Yuan Đồng Nhân Dân Tệ
CSTK Fiscal Policy Chính Sách Tài Khóa
CSTT Monetary Policy Chính Sách Tiền Tệ
EA-16 Eurozone/ Euro area Khu vực đồng tiền chung Châu Âu
EC European Commission Ủy ban Châu Âu
ECB European Central Bank Ngân hàng Trung ương Châu Âu
ECSC European Coal & Steel Community Cộng đồng than thép Châu Âu
EDA European Debt Agency Cơ quan nợ Châu Âu
EIB European Investment Bank Ngân hàng đầu tư Châu Âu
EU/EU-27 European Union Liên minh Châu Âu
EU-15 European Union
Liên minh Châu Âu gồm 15 thành
viên, trước ngày 01/04/2004
EU-25 European Union
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế
TTCK Thị Trường Chứng Khoán
UNCTAD
United Nations Conference on Trade
and Development
Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về
Thương mại và Phát triển
USD United States Dollar Đô la Mỹ
VND Việt Nam Đồng
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
- iii -
Danh mục bảng và hình
Bảng 1. Diễn biến thị trường chứng khoán toàn cầu .................22
Bảng 2. Tốc độ tăng trưởng của toàn thế giới và các khu vực . 27
Bảng 3. Xuất khẩu thương mại dịch vụ toàn thế giới năm 2008
.........................................................................................................32
Bảng 4. Thương mại dịch vụ toàn thế giới theo từng khu vực. .33
Bảng 5. Tốc độ tăng trưởng hàng năm của EU, Mỹ và Nhật Bản
.........................................................................................................41
Bảng 6. Sự thay đổi các chỉ số chứng khoán Châu Âu...............44
Bảng 7. Xuất nhập khẩu của EU trong 7 tháng đầu năm 2009.47
Bảng 8. Chỉ số thu nhập từ ngành nông nghiệp trong EU-27 và
EU-15..............................................................................................60
Bảng 9. Nợ chính phủ của EU-27 và EA-16................................68
Hình 1. Sự suy giảm của thương mại thế giới trong cuộc khủng
hoảng 2008-2009............................................................................25
Hình 2. Sự tăng trưởng trong sản xuất công nghiệp .................29
Hình 3. Lượt khách du lịch quốc tế ............................................31
Anh, Pháp, đặc biệt là Liên minh Châu Âu. Năm 2007, Tổng sản phẩm quốc nội
(GDP) của toàn Châu Âu đạt 20.103 tỷ USD, chiếm 36% GDP của toàn thế giới.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra tác động mạnh mẽ đến mọi khía cạnh
của nền kinh tế Châu Âu từ thị trường chứng khoán, hệ thống ngân hàng đến vấn đề
tăng trưởng kinh tế. Để đối phó với tình hình đó Chính phủ, Ngân hàng Thương mại
các nước và các tổ chức khác đã phải hết sức khẩn trương thực hiện các biện pháp
can thiệp, giải cứu thị trường như liên tục giảm lãi suất, tung ra các gói giải pháp kích
thích tăng trưởng kinh tế và hỗ trợ tài chính nhằm đảm bảo lòng tin của công chúng,
thị trường và đã đạt được những kết quả khả quan. Do đó, việc tìm hiểu tác động của
cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến nền kinh tế các nước Châu Âu là hết sức
quan trọng. Bên cạnh đó các giải pháp đối phó với khủng hoảng kinh tế của các nước
Châu Âu sẽ là những bài học quý báu cho nền kinh tế Việt Nam.
- vi -
Nắm bắt được tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã chọn đề tài khóa luận mang
tên “Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những ảnh hưởng tới kinh tế,
thương mại các nước Châu Âu”.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích nguyên nhân, diễn biến của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu; từ đó đưa ra một bức tranh toàn cảnh về các tác động
của cuộc khủng hoảng này tới nền kinh tế, thương mại của các nước Châu Âu. Bên
cạnh đó, khóa luận cũng sẽ giới thiệu các giải pháp và kinh nghiệm của các nước
Châu Âu áp dụng để đối phó với cuộc đại khủng hoảng này, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là các tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu đến nền kinh tế, thương mại các nước thuộc liên minh Châu Âu và các biện pháp
mà các nước này áp dụng để khắc phục hậu quả từ cuộc đại khủng hoảng kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt thời gian là giai đoạn từ năm 2007, thời
điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sau đó lan sang các quốc gia khác
cho đến nay; về mặt không gian, khóa luận tập trung nghiên cứu tác động của khủng
hoảng tài chính toàn cầu tới các nước thành viên của Liên minh Châu Âu – EU (27
nước).
1.1. Một số vấn đề về khủng hoảng tài chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại về khủng hoảng tài chính
1.1.1.1. Khái niệm khủng hoảng tài chính:
Đầu tiên cần làm rõ khái niệm tài chính, tài chính được hiểu theo nghĩa rộng là
tập hợp của các quỹ tiền tệ được gọi là các nguồn tài chính, các mối quan hệ giữa
chúng và quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ
thể kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường luôn có sự luân chuyển giữa các luồng vốn
tiền tệ của tất cả các chủ thể trong xã hội mà giữa chúng có mối quan hệ rất chặt chẽ,
phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau tạo nên một hệ thống tài chính (Kindleberger, CP &
Aliber, R 2005)
Từ đó tìm hiểu khái niệm khủng hoảng tài chính. Khủng hoảng và khủng
hoảng tài chính không phải là vấn đề mới trong kinh tế học, mà là một trong những
vấn đề được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu kinh tế từ trước đến nay.
Các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra rất nhiều lý thuyết khác nhau, cách hiểu và lý
giải khác nhau về khủng hoảng tài chính. Từ đó cũng đưa ra rất nhiều các quan điểm
khác nhau trong việc điều tiết thị trường, nhận biết khủng hoảng và hạn chế những
tác động của nó. Do vậy, hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khủng
hoảng tài chính.
Theo Concise Oxford Dictionary, 2006, Khủng hoảng là thời kỳ cực kỳ khó
khăn hoặc nguy hiểm. Từ gốc Hilap là Krisis. Khủng hoảng tài chính là khủng hoảng
trong lĩnh vực tài chính và thị trường tài chính.
Theo trang web BusinessDictionary.com, khủng hoảng tài chính là tình trạng
cầu tiền vượt quá cung tiền. Tức là tính thanh khoản bị giảm đi nhanh chóng, bởi tiền
bị rút ồ ạt khỏi các ngân hàng (tháo chạy), và buộc các ngân hàng phải bán các tài sản
đầu tư khác để bù đắp khoản thiếu hụt hoặc phá sản, kéo theo suy thoái.
- 1 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Theo nhà kinh tế học người Mỹ Federic Mishkin thì khủng hoảng tài chính là
sự đổ vỡ thị trường tài chính mà trong đó những sự lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức
trầm trọng.
Ngoài những biểu hiện trên khủng hoảng tài chính còn được thể hiện qua
những tác động tiêu cực khác đến nền kinh tế của các nước, gây ra tăng trưởng kinh
tế chậm và có thể kéo theo suy thoái kinh tế ở nhiều nơi. Bên cạnh đó dự báo quan
trọng trước một cuộc khủng hoảng tài chính là khi một nền kinh tế tăng trưởng quá
nóng và có một tỷ giá hối đoái quá yếu hoặc quá mạnh. Điều này được lý giải là do
đẩy sự đầu tư vào thị trường chứng khoán, bất động sản, thu hút đầu tư nước ngoài,
đồng thời lượng tiền được đầu tư vào những nơi sinh lợi cao và đầu cơ tăng nhanh
của các nhà đầu tư.
1.1.1.3. Phân loại
Có nhiều cách để phân loại khủng hoảng tài chính, song cơ bản khủng hoảng
tài chính được chia ra làm các loại chính như sau:
Thứ nhất là khủng hoảng ngân hàng. Ngân hàng là trung gian tài chính lớn
nhất và phổ biến nhất hiện nay với chức năng nhận tiền gửi, huy động vốn để cho vay
lại. Các ngân hàng hoạt động cả trong lĩnh vực tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn, ngoài ra còn cung cấp các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và buôn bán ngoại
tệ. Vì vậy rủi ro là rất lớn xét cả về mặt số lượng, thời hạn cũng như chủng loại tiền.
Khủng hoảng ngân hàng là hiện tượng xảy ra khi các ngân hàng can thiệp quá sâu
hoặc cho doanh nghiệp vay vốn vào những hoạt động kinh doanh có rủi ro cao như
bất động sản, chứng khoán, vốn tín dụng được đầu tư quá nhiều cho lĩnh vực nhiều
rủi ro dẫn tới tình trạng mất cân đối tài chính kinh tế. Tỉ lệ nợ xấu quá lớn, những
khoản cho vay không trả được tăng nhanh khiến cho hoạt động kinh doanh tiền tệ bị
trì trệ, tất cả hoặc hầu hết nguồn vốn của hệ thống ngân hàng trong tình trạng kiệt quệ
và có thể dẫn tới nguy cơ phá sản. Kèm theo đó có thể là sự giảm đáng kể giá trị tài
sản (như giá trị thực của bất động sản) ngay trước khủng hoảng, sự tăng nhanh lãi
suất thật và sự giảm dần hoặc đảo ngược trong dòng vốn. Trong một vài trường hợp,
khủng hoảng ngân hàng là do hiện tượng đột ngột rút tiền gửi của những người gửi
tiền do mất lòng tin vào khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng và lo lắng cho tài
- 3 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
là sự rối loạn nặng nề trên thị trường tài chính vốn, có thể dẫn đễn sự sụp đổ nghiêm
- 4 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
trọng một cách đột biến do sự suy giảm khả năng thực hiện có hiệu quả chức năng
của thị trường. Nó có thể có những ảnh hưởng bất lợi trên diện rộng cho nền kinh tế
thật như: ồ ạt rút tiền gửi từ các Ngân hàng Thương mại (NHTM), thu hẹp đáng kể
quy mô tín dụng, tăng số vụ phá sản. Giá chứng khoán biến động mạnh (tuột dốc hay
leo thang quá nhanh) ngoài tầm kiểm soát hay do hiệu ứng “domino” làm cho chứng
khoán bị bán đổ bán tháo, thu hẹp phát hành. Khủng hoảng tài chính xảy ra khi thị
trường bị “đông cứng” vì không có giao dịch, gây ra sự mất cân đối giữa tiền (chứng
khoán) vào và ra Thị Trường Chứng Khoán (TTCK) (quỹ). Một cuộc khủng hoảng
thị trường tài chính có thể liên quan đến một cuộc khủng hoảng tiền tệ, nhưng một
cuộc khủng hoảng tiền tệ thì không cần thiết dẫn đến sự sụp đổ một cách trầm trọng
hệ thống thanh toán trong thị trường nội địa và như vậy nó không lớn bằng một cuộc
khủng hoảng thị trường tài chính. Khủng hoảng thị trường tài chính không nhất thiết
đi đôi với khủng hoảng hệ thống tài chính – tín dụng quốc gia. Tình trạng trở nên đặc
biệt nghiêm trọng khi cả hai dạng khủng hoảng xảy ra cùng một lúc và chuyển thành
khủng hoảng niềm tin vào chính quyền.
1.1.2. Khủng hoảng tài chính dưới góc nhìn của học thuyết kinh tế của
Keynes J.M
Trong lịch sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã xảy ra khá nhiều cuộc
khủng hoảng, trong đó không thể không nhắc đến cuộc đại khủng hoảng 1929 –
1933, bắt đầu sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Wall Street vào ngày 29
tháng 10 năm 1929 (còn được biết đến với cái tên: ngày Thứ Ba đen tối). Nó bắt đầu
ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và khắp các nơi trên thế giới,
phá hủy cả các nước phát triển. Một lý thuyết kinh tế chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cuộc
đại khủng hoảng này và cũng chính là một lập luận quan trọng mô tả chi tiết cuộc
khủng hoảng là lý thuyết kinh tế học của Keynes. Những giải pháp của ông đã giúp
nước Mỹ thoát ra được khỏi cuộc đại khủng hoảng những năm 1930s này. Vậy
Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith và các học thuyết kinh tế “thị
trường tự do” của trường phái cổ điển và tân cổ điển bị cho là thiếu tính xác đáng,
kém hiệu quả, không đảm bảo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh khi cuộc đại
khủng hoảng 1929 – 1933 nổ ra. Điều này đòi hỏi phải có một học thuyết kinh tế mới
có khả năng thích ứng với tình hình mới và khắc phục những nhược điểm của các học
- 6 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
thuyết cũ, bên cạnh đó cần tìm ra nguyên nhân cũng như giải pháp để vượt qua khó
khăn hiện tại. Cuộc đại khủng hoảng những năm 1930s này có ảnh hưởng hết sức sâu
sắc tới suy nghĩ và tư duy kinh tế học của Keynes. Nếu như trước đây, các nhà kinh
tế học cổ điển và tân cổ điển cho rằng, mỗi khi xảy ra khủng hoảng kinh tế, giá cả và
tiền công giảm đi và các nhà sản xuất sẽ có động lực tăng thuê mướn lao động và mở
rộng sản xuất, nhờ đó nền kinh tế sẽ phục hồi thì Keynes lại có cái nhìn rất khác. Ông
quan sát cuộc đại khủng hoảng, nghiên cứu, phân tích và cho rằng: tiền công không
hề giảm đi cũng như việc làm không tăng và sản xuất mãi không hồi phục được. Từ
đó, ông cho rằng thị trường không hoàn hảo như các nhà kinh tế trước đây từng nghĩ.
Theo Keynes, để khắc phục được tình trạng khủng hoảng kinh tế thì vai trò của chính
phủ trong việc điều tiết và quản lý thị trường là hết sức quan trọng. Và học thuyết
kinh tế của Keynes ra đời.
1.1.2.2. Học thuyết kinh tế của Keynes
Trong học thuyết của mình, Keynes đã nêu ra nguyên nhân làm sụt giảm nền
kinh tế một cách hết sức đơn giản. Sự giảm sút của nền kinh tế được giải thích như
sau:
Khi nền kinh tế đang ở thời kỳ ổn định, lượng việc làm cho công nhân sẽ ở
mức cao và vì thế, người tiêu dùng cũng sẽ có xu hướng chi tiêu bình thường. Ở đây
có sự hiện diện của một quá trình tuần hoàn, trao đổi qua lại của tiền tệ trong nền
kinh tế, như tiền tiêu dùng của một người trở thành tiền thu nhập của người khác và
ngược lại tiền tiêu dùng của người khác sẽ là tiền thu nhập lại của một người. Nhưng
khi có một động cơ hay lý do nào đó làm cho người tiêu dùng mất đi sự tin tưởng vào
nước phải áp dụng hiệu quả chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong hệ thống
những chính sách kinh tế vĩ mô. Đây chính là hai chính sách then chốt, là chiếc chìa
khóa có tác động nhanh và mạnh nhất trong việc giải quyết những vấn đề của nền
kinh tế.
Thứ nhất là chính sách tài khóa (CSTK). Đó là những chính sách liên quan
đến những điều chỉnh trong các hoạt động thu – chi ngân sách của chính phủ, cơ cấu
thu chi ngân sách chính phủ và quan hệ giữa chúng với nhau nhằm hướng nền kinh tế
tới mục tiêu vĩ mô mong muốn.
- 8 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Các công cụ chủ yếu của CSTK là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư của Chính
phủ. Khoản chi tiêu này có được từ các loại thuế trực thu, gián thu và các khoản thu
khác. Ngân sách chủ yếu có được từ thuế và các khoản chuyển nhượng mang lại. Vai
trò quan trọng nhất của các chính sách thuế ở các nước đang phát triển là huy động
các nguồn tài trợ cho chi tiêu công cộng. Bên cạnh đó, thuế còn có chức năng điều
tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, nó không chỉ hạn chế sức mua của người đóng thuế
nhằm dành những nguồn lực đó cho nhà nước, phân bổ lại thu nhập giữa các tầng lớp
dân cư mà còn là công cụ đắc lực để điều phối các nguồn và luồng đầu tư sao cho
hiệu quả, gián tiếp tác động cơ cấu lại sản xuất.
CSTK có thể nói là một trong những chính sách quan trọng trong việc thực
hiện được các mục tiêu về tăng trưởng sản lượng, tạo công ăn việc làm đầy đủ và
kiểm soát lạm phát ở mức hợp lý, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khi nền kinh tế tăng
trưởng chậm hoặc ở tình trạng suy thoái thì chính phủ có thể tăng chi tiêu chính phủ
hoặc giảm thuế. CSTK thông minh là phải biết phát huy được vai trò tích cực khi xử
lý vấn đề thâm hụt ngân sách nhà nước và hạn chế được những tác động tiêu cực đến
nền kinh tế.
Thứ hai là chính sách tiền tệ (CSTT). CSTT hiểu theo nghĩa hẹp là tổng thể
các biện pháp, các công cụ của Ngân hàng Trung ương (NHTW) nhằm góp phần đạt
được các mục tiêu kinh tế thông qua việc chi phối dòng tiền di chuyển, khối lượng
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà NHTM buộc phải duy trì trên một tài khoản tiền
gửi không hưởng lãi tại NHTW. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc này là tỷ lệ phần trăm nhất
định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian nào đó. Công cụ này ảnh
hưởng đến khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến lãi suất
và cung tiền.
Chính sách tỷ giá hối đoái là sự can thiệp của NHTW nhằm tác động tới tỷ giá
hối đoái được thực hiện thông qua các hoạt động mua vào hoặc bán ra ngoại tệ của
NHTW trên thị trường ngoại hối. Mức độ can thiệp của NHTW vào sự hình thành tỷ
- 10 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
giá hối đoái trên thị trường phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái do quốc gia đó áp
dụng.
Theo Keynes, giải pháp tối ưu dành cho chính phủ để giải quyết vấn đề khủng
hoảng thị trường gặp phải là Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cần phải đẩy mạnh cung
ứng tiền tệ (cung tiền tệ). Việc hỗ trợ thêm tiền cho chi tiêu sẽ giúp người tiêu dùng
không phải giảm chi dùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng, như vậy sẽ tạo ra hiệu
ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp sản xuất trở lại. Nguyên lý cầu hữu hiệu khẳng
định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định. Vì thế, khi bước vào thời
kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu
công cộng) thì sản xuất và việc làm cũng sẽ tăng theo, nhờ vậy nền kinh tế có thể
thoát khỏi suy thoái.
Học thuyết Keynes đã khẳng định rất rõ vai trò cần thiết và vô cùng quan
trọng của Chính phủ trong việc điều tiết thị trường, đặc biệt hơn trong giai đoạn
khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 hiện nay thì học thuyết này lại càng phát huy
được sức mạnh của mình.
1.2. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008
1.2.1. Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
Cuộc khủng hoảng tài chính này đầu tiên xảy ra tại Mỹ - một nước có nền
kinh tế chiếm tới 25% GDP toàn cầu và có một tỷ lệ lớn trong các giao dịch quốc tế.
tiền mua bất động sản. Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản của FED là trên 6%
nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm 2003 thì chỉ còn
1%. Bên cạnh đó, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ
lúc bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màu
được vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà. Việc này phần lớn được thực hiện thông qua
hai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac. Hai công ty
này giúp đầu tư vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại các khoản cho
vay của các NHTM, biến chúng thành các loại chứng từ được bảo đảm bằng MBS,
rồi bán lại cho các nhà đầu tư ở Wall Street, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng
lồ như Bear Stearns và Merrill Lynch.
- 12 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Mặt khác, vì có sự chuyển đổi các khoản cho vay thành các công cụ đầu tư
nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất động sản không còn là thị
trường duy nhất của các NHTM hoặc các công ty chuyên cho vay thế chấp bất động
sản nữa. Nó đã trở thành một thị trường đầu tư mới cho các nhà đầu tư, có khả năng
huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốn ngoại quốc. Điểm đặc biệt ở
đây là bởi vì việc hình thành, mua bán, và bảo hiểm MBS là vô cùng phức tạp cho
nên nó diễn ra gần như ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ. Bởi vì thiếu
sự kiểm soát cần thiết cho nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các
nhà đầu tư. Bên cạnh đó, bởi vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty
khác biến chúng thành MBS, các NHTM đã trở nên mạo hiểm hơn trong việc cho
vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay.
Như vậy, lãi suất thấp, các chính sách của chính phủ, sự mạo hiểm của các
ngân hàng giúp người dân mua địa ốc dễ dàng, các công ty và tư nhân đều có thể
mượn tiền dễ dàng để đầu tư hoặc mua bất động sản. Hậu quả là đẩy giá nhà lên, giá
nhà bình quân đã tăng đến 54% chỉ trong vòng bốn năm từ 2001 (năm bắt đầu cắt
giảm mạnh lãi suất) đến 2005. Việc này cũng dẫn đến vấn đề đầu cơ và ỷ lại là giá
nhà sẽ tiếp tục lên. Hệ quả là người ta sẵn sàng mua nhà với giá cao, bất kể giá trị
kiệt khi phải đương đầu với tỷ lệ mất khả năng trả nợ ngày càng cao của người vay
thuộc nhóm dưới chuẩn. Khoản tiền cho vay dành cho nhóm này đã tăng vùn vụt.
Theo các ước tính thì nó tăng từ 160 tỷ USD ở năm 2001 lên 540 tỷ vào năm 2004 và
trên 1.300 tỷ vào năm 2007 (Trần Văn Thọ & Trần Lê Anh 2008).
Tóm lại, bởi vì có nhiều mối liên hệ phức tạp giữa người vay và nhiều thành
phần cho vay trực tiếp cũng như gián tiếp, thị trường bất động sản đi xuống đã ảnh
hưởng trực tiếp đến thị trường tài chính nói chung. Mức độ lan tỏa và nghiêm trọng
của vấn đề là do sự mua đi bán lại các công cụ tài chính phái sinh (các MBS và
CDS). Vấn đề này càng trở nên nghiêm trọng hơn khi các nhà đầu tư bắt đầu bán tháo
các công cụ đầu tư mạo hiểm để tìm cách bảo tồn vốn. Đồng thời các nhà đầu tư có
tiền gửi ngân hàng bị hoảng loạn và đều đến rút tiền ở ngân hàng ra. Các tổ chức tài
chính lớn cũng phải chi các khoản bảo hiểm bất động sản và bị thiếu tiền mặt, có thể
cũng phải tuyên bố phá sản.
- 14 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
Bên cạnh đó vấn đề “vỡ nợ” tín dụng bất động sản và hàng loạt các ngân hàng
thua lỗ tại Mỹ cũng được xem là một nguyên nhân cơ bản khác của cuộc khủng
hoảng tài chính Mỹ. Hàng loạt vụ đổ vỡ xảy ta trong ngành tài chính – ngân hàng
Mỹ.
Trước hết phải kể đến sự sụp đổ của mô hình ngân hàng đầu tư độc lập
(investment bank) của Wall Street. Cả 5 ngân hàng độc lập của con phố tài chính này
đều trải qua những bước ngoặt quan trọng trong năm 2008: Lehman Brothers phá
sản, Bear Sterrns và Merill Lynch bị thâu tóm, Morgan Stanley và Goldman Sachs
phải chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp (bank holding company). Tính đến
ngày 15/12/2008, số NHTM của Mỹ phải đóng cửa đã lên tới con số 25, so với con số
3 ngân hàng bị ngưng hoạt động trong cả năm 2007. Trong số này, phải kể những tên
tuổi lớn như Washington Mutual, Wachonia, IndyMac.
Như vậy cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ bắt đầu từ năm 2007 với đỉnh điểm
là sự sụp đổ của các ngân hàng đầu tư khổng lồ và những công ty bảo hiểm lớn nhất
tiên "dính trấu" đều liên quan trực tiếp tới hoạt động cho vay dưới chuẩn như
Northern Rock và Countrywide Financial vào hai tháng 8 và 9/2007. Northern Rock,
ngân hàng lớn thứ năm tại Anh, vào tháng 9/2007, sau khi mất thanh khoản nghiêm
trọng do thua lỗ từ cho vay thế chấp bất động sản, đã phải cầu cứu NHTW Anh. Nhà
đầu tư ùn ùn kéo đến rút tiền khiến Chính phủ buộc phải tiếp quản tập đoàn ngân
hàng này. Trước đó, Country Financial, tập đoàn tài chính chuyên cho vay thế chấp
địa ốc của Mỹ cũng bị phá sản do nợ khó đòi vào tháng 8/2007. Đến tháng 1/2008,
ngân hàng lớn nhất nước Mỹ về giá trị vốn hóa và tiền gửi, Bank of America, đã mua
lại Country Financial với giá 4 tỷ USD. Tiếp đến, vào ngày 17/2/2008, Nothern Rock
chính thức bị quốc hữu hóa. Sự kiện Nothern Rock và Country Financial là dấu hiệu
báo trước cơn bão sắp đổ xuống thị trường tài chính toàn cầu cũng như làn sóng sáp
nhập, phá sản, và bị Chính phủ tiếp quản của các định chế tài chính.
Cơn địa chấn tài chính thực sự nổ ra vào ngày 7/9/2008 khi hai nhà cho vay
cầm cố khổng lồ của Mỹ là Freddie Mac và Fannie Mae buộc phải được Chính
phủ tiếp quản để tránh khỏi nguy cơ phá sản. Sự kiện này tiếp tục châm ngòi cho vụ
đổ vỡ với những tên tuổi lớn khác. Vào ngày 15/9/2008, Ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4
nước Mỹ Lehman Brothers sau 158 năm tồn tại đã tuyên bố phá sản. Đúng 10 ngày
- 16 -
Chương 1. Khái quát về cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động chính
đến nền kinh tế thế giới
sau, Washington Mutual tạo nên vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử với tổng
tài sản thiệt hại lên tới 307 tỷ USD. Ngoài ra, do khủng hoảng tài chính, ngân hàng
đầu tư số một nước Mỹ, Merill Lynch cũng bị thâu tóm bởi Bank of America. Chính
phủ đã buộc phải bơm 85 tỷ USD vào AIG, tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, để
tránh cho thị trường tài chính nước này một kết cục tồi tệ hơn. Tháng 9 và 10/2008
cũng trở thành giai đoạn đen tối với Wall Street khi chỉ số Dow Jones sụt tới 25% giá
trị chỉ sau một tháng kể từ ngày 15/9/2008. Kể từ sau giai đoạn này, biến động tại
Wall Street trở nên khó lường hơn với nhiều kỷ lục cả tăng và giảm tồn tại trong
hàng chục năm đã bị phá.
Xen giữa những sự kiện trên, 9 tháng đầu năm 2008 cũng chứng kiến các