Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Cuộc khủng hoảng tài chính ở Đông Nam á vẫn đang là đề tài hàng
ngày, với những chuyển động mới. Khởi đầu của cuộc khủng hoảng là
Thái Lan kể từ khi chính phủ nớc này tuyên bố thả nổi đồng Baht. Theo
hiệu ứng dây chuyền, nó lan sang các nớc trong khu vực làm đồng tiền
các nớc này liên tục giảm giá.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ này đã ảnh hởng đến sự vận động
của đầu t, thơng mại của các nớc trong khu vực khá rõ ràng. Suy thoái
kinh tế phổ biến trong khu vực và tác động toàn cầu còn kéo theo nạn
thất nghiệp, trong khi lạm phát có thể tăng lên đang là những thách thức
gay go.Việc khôi phục lại lòng tin vào hệ thống tài chính và các chính
sách của chính phủ gặp rất nhiều khó khăn.
Trên bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế các nớc trong xu thế mở
cữa hớng ngoại, thì khủng hoảng kinh tế tại một nớc hay một khu vực sẽ
có những ảnh hởng nhất định đến nền kinh tế thế giới nói chung cũng
nh từng nền kinh tế riêng biệt. Mức độ phụ thuộc hay ảnh hởng đối với
mỗi nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào các mối quan hệ kinh tế, tiền tệ với
khu vực xảy ra khủng hoảng. Với Việt Nam, mặc dù không nằm trong
phạm vi tàn phá trực tiếp của cơn bão tiền tệ này song cũng ảnh hởng
đáng kể. Đồng tiền Việt Nam đã bị mất giá khoảng 19%, tình hình sản
xuất, thơng mại và đầu t gặp nhiều khó khăn.
Khủng hoảng sẽ gây cho nớc ta nhiều khó khăn trớc mắt cũng nh
lâu dài. Do vậy cần có sự nghiên cứu các tác động đến quá trình phát
triển kinh tế nớc nhà. Để qua đó đề ra các giải pháp hạn chế các tác
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
động. Việc lựa chọn đề tài:
Tác động của khủng hoảng tài
chính khu vực đến phát triển kinh tế Việt Nam
đồng Baht Thái Lan đã giảm xuống mức 54,1 Baht/USD so với 52,3
Baht/USD ngày 6/1/1998.
Ngày 21/7/1997 đồng Rupiah bị mất giá 6,8% từ 2475 Rupiah/USD
xuống 2645 Rupiah/USD. Ngày 22/1/98 1USD đổi đợc 16500 Rupiah, có
nghĩa giá trị của đồng tiền này so với USD chỉ còn 14,74%. Ngày 10/2/98
tỷ giá giữa đòng Rupiah /USD là 7400 Rupiah/USD.
Đồng SGD phổ biến ở mức 1,4630 đến 1,4715 và 1,500 SGD/USD,
giảm 2 đến 2,5% so với tuần đầu tháng 7/1997. Cho tới ngaỳ 7/1/98 đồng
SGD đã giẩm xuống mức thấp nhất kể từ 9/1991 với 1,78 SGD/USD. Các
đồng Ringgit, Peso cũng bị giảm giá liên tục. Theo thời gian cuộc khủng
hoảng còn tác động mạnh đến Hàn Quốc, Hồng Kông, Nhật Bản và Nga.
Giá trị đồng tiền và chứng khoán tạicác nớc này bị mất giá một cách
nghiêm trọng, các thị trờng chứng khoán trên thế giới đều chịu ảnh hởng
mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng.
Đến nay, các nớc khủng hoảng đang thực hiện nhiều biện pháp để ổn
định kinh tế, đã xuất hiện dấu hiệu tích cực. Nhng đáng giá về việc thoát
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
khỏi khủng hoảng, phục hồi và phát triển kinh tế của các nớc này còn nhiều
ý kiến khác nhau. Tình hình có thể còn diễn biến phức tạp.
II. Về những hậu quả của khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, lâu dài tới
các nớc bị khủng hoảng, tới cả kinh tế khu vực và thế giới.
Do phải sử dụng một lợng lớn ngoại tệ để chống đỡ khủng hoảng, dự
trứ ngoại tệ của các nớc này giảm đi nhiệu (Thái lan từ 33 tỉ còn 15 tỷ USD
Philippin dự trứ ngoại tế chỉ 10 tỷ USD cúng đã phải dùng 20% can thiệp
thị trờng.
Nợ nớc ngoài tính bằng đồng nội tệ của các nớc này tăng lên từ 30 -
40% tuy theo mức độ mất giá của từng đồng tiền. (Nợ nớc ngoài của
Malaixia tín bằng nộ tệ theo tỷ giá cũ tăng từ 29 tỷ USD tăng lên 36,5 tỷ
vào xuất khẩu, về cơ bản là đúng đắn song cơ cấu mặt hàng xuất khẩu lại
quá nghèo nàn, chỉ tập trung chủ yếu vào điện tử và may mặc. Bình quân từ
năm 1994,1995 và đầu năm 1996 khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu của
Singapo là hàng điện tử chiếm gần 50% GDP, đối với Malaysia tỷ lệ này là
50% GDP và Hàn Quốc là 33,3% GDP, Thái Lan 21,2% GDP và Philippin
là 43,5%. Trong khi đó thị trờng thế giới về các mặt hàng này xuất hiện các
xu hớng bão hoà do sự cạnh tranh giữa các nớc lớn nh Trung Quốc và các
nớc khác. Điều này làm cho xuất khẩu của các nớc bị giảm sút, dẫn tới
thâm hụt cán cân vãng lai, sản xuất trong nớc bị đình trệ. Nhịp độ tăng xuất
khẩu của cả khu vực ASEAN đã giảm t 20% năm 1995 xuống còn cha đầy
10% năm 1996, hầu hết các nớc phải gánh chịu những tổn thất to lớn khi
tổng cầu đối với các sản phẩm điện tử giảm mạnh, tổng thu nhập tính theo
USD từ xuất khẩu đồ điện tử chỉ tính từ 12/1995 đến 7/1996 giảm 10%.
Trong đó Hàn Quốc giảm 22,5%, Singapo giảm 6,5%, Đài Loan giảm 13%.
Xuất khẩu giảm dẫn tới thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai tại các nớc
này ngày càng lớn. Khoản thâm hụt này năm 1996 của Malaysia và Thái
Lan đều đạt mức 13,3 tỷ USD tơng ứng chiếm 5,5% và 7,9% so với GDP,
đối với Indonesia vào khoảng 8,7 tỷ USD chiếm 3,4% GDP.
2. Sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu t
Với mức tănh trởng kinh tế bình quân từ 7_8%/năm làm cho khu vực
Đông Nam á trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu t trên thế giới. Lơng vốn
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
đầu t trực tiếp nớc ngoài vào các nớc này là 14 tỷ USD/năm chiếm 51%
tổng số vốn đầu t trực tiếp vào các nớc đang phát triển. Song có sự bất hợp
lý trong cơ cấu nhập khẩu vốn: Nếu nh năm 1990, tổng vốn đầu t vào bốn
nớc này chỉ đạt 7,3 tỷ USD, thì đến năm 1994 con số này đã đạt mức 20,1
tỷ USD tăng 2,8 lần. Trong đó, năm 1990 vốn đầu t vào Thái Lan chỉ là 2,8
tỷ USD, thì đến năm 1993 con số này đã lên tới 6,6 tỷ USD và năm 1994
đạt 3,8 tỷ. Đối với Malaysia, năm đầu thập kỷ 90, vốn đầu t nớc ngoài chỉ
về tỷ giá các dòng vốn sẽ lập tức rút ra. Bên cạnh đó, do duy trì tỷ giá cố
định đòi hỏi phải tiêu tốn một lợng ngoại tệ lớn trong khi thực lực tài chính
của Nhà nớc còn yếu nên khả năng chống đỡ cuộc khủng hoảng không
hiệu quả.
4. Hệ thống ngân hàng- tài chính yếu kém
Nhìn chung hệ thống ngân hàng- tài chính tại các nớc bị khủng hoảng
cha đáp ứng đợc yêu cầu của nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao. Trong
một thời gian dài sự yếu kém của hệ thống ngân hàng- tài chính tại các nớc
này đợc che đậy bởi những thành tựu kinh tế của các nớc dẫn đến các thông
tin phản ánh bị lệch lạc, méo mó. Sự yếu kém của hệ thống ngân hàng do
nhiều nguyên nhân đem lại song có thể rút ra một số nguyên nhân chính:
Một là, chính phủ các nớc có sự can thiệpvcào hoạt động kinh doanh
của các ngân hàng và công ty tài chính nhằm hớng các hoạt động ngân
hàng vào hỗ trỡ cho chính sách phát triển kinh tế dẫn tới việc quản lý tín
dụng lỏng lẻo và mở rộng đầu t quá mức khiến cho hiệu quả kinh tế thấp.
Hai là, bản thâm các ngân hàng chậm trễ trong việc đổi mới hoạt động
và bảo thủ trong việc hiện hoá các hoạt động nghiệp vụ của mình và phụ
thuộc rất lớn vào sự trợ giúp của chính phủ.
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chơng II
tác động của khủng hoảng đến phát triển
kinh tế việt nam
I - Lý do dẫn đến ảnh hởng.
1 1. Những điểm yếu tơng đồng dễ lây lan khủng hoảng.
- Nến kinh tế Việt nam có tốc độ tăng trởng cao trong 7,8 năm qua nhờ
kết quả của đờng lối đối mới, những sự phát triển cha ổn định và vững chắc.
Một phần đóng góp quan trọng cho tăng trởng kinh tế là tốc độ tăng
xuất khẩu cao (20-30%/năm) và vốn đầu t nớc ngoài (FDI, ODA). Nhu cầu
vốn đầu t tăng nhanh, nhng tỷ lệ tiết kiệm và đầu t trong nớc thấp. Cơ cấu
- Cơ cấu vốn đầu t có những bất hợp lý, vừa tập trung quá mức vào
một số lĩnh vực kém hiệu quả, vừa bị phân tán, chồng chéo, đầu t kéo dài,
gây lãng phí lớn và hiệu quả đầu t thấp. Vốn đầu t để tăng năng lực sản xuất
nhất là khu vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp, trong khi đó một phần
vốn khá lớn đã đầu t vào xây dựng khách sạn, văn phòng, đầu cơ đất đai ...
dẫn đến tính trạng cung vợt cầu, không phát huy đợc hiệu quả, vốn bị ứ
đọng lớn.
- Hệ thống tài chính - Ngân hàng Việt Nam những năm qua đã có
nhiều đổi mới, nhng cha phát triển kịp yêu cầu, còn non yếu trong quản lý
và kinh doanh., đặc biệt trong các khâu phòng ngừa rủi ro, thanh tra kiểm
soát, lỏng lẻo trong quản lý vốn, chất lợng tín dụng kém, nợ quá hạn, nợ
khó đòi chiếm tỷ lệ cao. Một số hoạt động dịch vụ Ngân hàng nh: cho vay
thế chấp bất động sản, bảo lãnh mở th tín dụng (L/C) nhập hàng trả chậm,
cho vay thanh toán đối ngoại và kinh doanh ngoại tệ ... mở rộng quá mức,
thiếu quản lý chặt chẽ.
2. Những điểm khác biệt tạo cho Việt Nam khả năng hạn chế ảnh h-
ởng của cuộc khủng hoảng.
- Thị trờng tài chính, tiền tệ ở Việt Nam mới ở giai đoạn sơ khai, cha
phát triển đầy đủ để có thể hoà nhập vào thị trờng tài chính khu vực. Thị tr-
ờng chứng khoán cha hình thành, các công cụ tài chính nh cổ phiếu, trái
phiếu ... cha phát triển, cha có sự mở cửa cho việc tự do mua, bán các
chứng khoán, việc đầu t của nớc ngoài vào các giấy tờ có giá trong nớc vẫn
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
còn bị kiểm soát chặt chẽ nên những khả năng mua bán chứng khoán có
tính chất đầu cơ, việc ồ ạt rút vốn khỏi Việt Nam gây nên những cú sốc tiền
tệ đột biến sẽ khó có thể xẩy ra. Đồng tiền Việt Nam cha phải là đồng tiền
chuyển đổi tự do trong khu vực, do đó còn ít chịu tác động trực tiếp của
cuộc khủng hoảng thông qua cơ chế chuyển đổi rộng rãi giữa các đồng tiền
đang mất giá mạnh trong khu vực.