tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh vĩnh phúc - Pdf 24

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HÀ QUANG TIẾN
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 62.31.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: 1. PGS.TS Đoàn Xuân Thủy
2. TS Vũ Thị Thoa
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng
của tôi. Các số liệu là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ
ràng, những kết luận nêu trong luận án chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận án
Hà Quang Tiế n
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1:
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH
7
1.1.
Khái quát về các công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài luận án

3.1.
Những điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng
tới tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát
triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
75
3.2.
Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc từ năm 1997 đến nay
80
3.3.
Đánh giá chung về tác động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc và
những vấn đề đặt ra
113
Chương 4:
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC TÁC
ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ CÁC TÁC ĐỘNG
TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH VĨNH PHÚC
121
4.1.
Dự báo về bối cảnh và nhu cầu thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến
năm 2030
121
4.2.
Quan điểm và phương hướng cơ bản về nâng cao tác

GTKNXK - Giá trị kim ngạch xuất khẩu
GTSX - Giá trị sản xuất
KCN - Khu công nghiệp
KCX - Khu chế xuất
LATS - Luận án tiến sĩ
Nxb - Nhà xuất bản
ODA - vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức"
OECD - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
TNCs - Công ty xuyên quốc gia
TNHH - Trách nhiệm hữu hạn
R&D - Nghiên cứu và phát triển
UBND - Ủy ban nhân dân
UNCTAD - Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
WTO - Tổ chức Thương mại thế giới
SXKD - Sản xuất kinh doanh
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1.
Giá trị vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
85
Bảng 3.2.
Tăng trưởng của tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc theo giá so sánh
86
Bảng 3.3.
Đóng góp của FDI vào GDP của tỉnh Vĩnh Phúc theo giá
thực tế
87
Bảng 3.4.
Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh

lý và kinh tế, đa dạng hoá các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực
của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
quan trọng.
Trong điều kiện hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, rất cần thiết phải tập trung huy động và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó FDI là nguồn lực quan trọng để đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu
đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp. Đại hội XI nhấn
mạnh thu hút đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường
nhằm phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng
cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh
tế; ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh thuộc các ngành công
nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, chế biến, công nghiệp năng lượng,
luyện kim, hoá chất, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông; phát
triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn;
gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, mở rộng xuất khẩu.
Thực hiện Nghị quyết kỳ họp thứ IX, Quốc hội khoá X, tỉnh Vĩnh Phúc
được tái lập từ ngày 01-01-1997. Với khởi điểm là một tỉnh nghèo, thuần nông
(nông nghiệp chiếm 56% GDP), Vĩnh Phúc có nhu cầu rất lớn về nguồn vốn để
2
thực hiện CNH, HĐH trên địa bàn. Trên cơ sở chính sách đầu tư cởi mở thông
thoáng của Việt Nam và sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo chính sách đó của Vĩnh
Phúc, sau 17 năm tái lập, bằng sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân
trong tỉnh, bằng các cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp, Vĩnh
Phúc đã đạt được nhiều kết quả, trở thành một tỉnh thu hút đầu tư trực tiếp của
nước ngoài với lượng lớn và đã mang lại hiệu quả tích cực. Đến hết năm 2013 cơ
cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực (tỷ trọng công nghiệp chiếm
60,39% trong GDP), kinh tế xã hội có bước phát triển vượt bậc, kinh tế duy trì
tốc độ tăng trưởng cao, bình quân đạt 17,4%/năm giai đoạn 2006 - 2010, năm
2011 - 14,62%; năm 2012 - 2,52%; năm 2013 - 7,89%. GDP bình quân đầu

và tác động tiêu cực.
- Phân tích thực trạng tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, trong đó đặc biệt đi sâu làm rõ những tác
động tích cực và những tác động tiêu cực, những vấn đề cấp bách đặt ra cần
giải quyết để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động
tiêu cực của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả FDI cho
phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc đến 2020 và tầm nhìn 2030.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Luận án có đối tượng nghiên cứu là những tác động của đầu tư trực tiếp
nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội thể hiện thông qua những thay đổi
của các mặt đời sống kinh tế - xã hội như tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, việc làm, môi trường… dưới ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, trong luận án sẽ tiến hành luận giải
những vấn đề có liên quan chặt chẽ tới tác động của FDI tới phát triển kinh tế
- xã hội như bản chất, đặc điểm, vai trò của FDI, mối quan hệ giữa FDI với
phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh và những quan hệ kinh tế - xã hội
có liên quan.
4
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
- Về không gian: Luận án tập trung nghiên cứu đánh giá thực trạng tác
động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc,
trong đó có tính tới việc điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh theo Nghị
quyết của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3, số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29
tháng 5 năm 2008 “Về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội
và một số tỉnh có liên quan”.
- Thời gian nghiên cứu: Luận án phân tích, đánh giá thực trạng tác động
của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc từ 1997 đến năm
2014 theo các phương diện kinh tế, xã hội, môi trường, nhằm đề xuất phương

nhằm làm rõ thực trạng tác động cụ thể của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, rút ra những kết quả tích cực, tác động tiêu cực
và nguyên nhân.
Chương 4: Sử dụng phương pháp khái quát hóa những vấn đề đã
nghiên cứu ở chương hai và chương ba cùng với đánh giá dự báo về bối cảnh
và nhu cầu về vốn FDI cho phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc để rút ra
những quan điểm định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả tác động của
FDI tới phát triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Luận giải khái niệm tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội;
bổ sung làm rõ thêm về tác động hai mặt của FDI đến phát triển kinh tế - xã
hội trên địa bàn tỉnh theo các phương diện kinh tế, xã hội và môi trường.
- Phân tích, đánh giá và luận giải rõ thêm những tác động cụ thể của
FDI tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997 - 2014, bao
gồm các tác động tích cực của FDI tới tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, công nghệ sản xuất, kết cấu hạ tầng, mở rộng kinh tế đối ngoại,
nguồn thu ngân sách, việc làm, môi trường cùng một số tác động tiêu cực về
kinh tế, xã hội, môi trường các nguyên nhân của những tác động đó.
- Đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy có
hiệu quả tác động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Những giải pháp đã đề xuất bao gồm:
6
Định kỳ đánh giá hiệu quả của từng dự án và hiệu quả của FDI đối với phát
triển kinh tế - xã hội ở Vĩnh Phúc để có chương trình điều chỉnh kịp thời; Tiếp
tục hoàn thiện công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát
triển các ngành kinh tế, quy hoạch các khu, cụm công nghiệp đến năm 2020
với tầm nhìn 2030; Phối hợp giữa địa phương với nhà đầu tư trong việc xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến
đầu tư, lựa chọn dự án đầu tư với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; Phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thu hút và sử dụng hiệu quả FDI để

đề cập tới một số những ảnh hưởng khác của FDI đối với phát triển kinh tế - xã
hội Việt Nam, biểu hiện thông qua xu thế tập trung đầu tư vào các ngành tạo ít
việc làm, được bảo hộ cao.
Trong bài phân tích của Institute of International economics “FDI in
Developing Countries and Economies in Transition: Opportunities, Dangers,
and New Changes”, (Đầu tư nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển và
các nền kinh tế đang chuyển đổi: Cơ hội, thách thức và những đổi mới) [103],
khi phân tích về FDI đối với các nước đang phát triển đã chỉ ra những tác
động trái chiều của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội của nước tiếp nhận.
Từ phân tích một số điểm nổi bật của đầu tư nước ngoài tại các nước đang
phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi như FDI có được sự tăng trưởng
vượt bậc từ những năm 1990, vốn đầu tư nước ngoài FDI chiếm tỉ lệ lớn nhất
và là nguồn vốn ổn định nhất trong các dòng vốn tư nhân như dòng nợ, dòng
vốn vay ngân hàng thương mại, trái phiếu và các dòng vốn khác, sự phân phối
của vốn đầu tư nước ngoài tới các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế
8
đang chuyển đổi là không đồng đều, đã đề cập đến vấn đề tác động của FDI
tới phát triển, bao gồm:
Thứ nhất, tạo ra dòng tài chính phụ thêm của các nhà đầu tư nước ngoài
từ đó tạo ra áp lực cạnh tranh mạnh mẽ tại nước nhập khẩu FDI.
Thứ hai, có ảnh hưởng không tốt tới thị trường của nước nhập khẩu FDI
do các nhà đầu tư nước ngoài đến từ các thị trường quốc tế, nơi đang diễn ra
cạnh tranh không hoàn hảo, từ đó gây ra những khó khăn, thách đố đối với
doanh nghiệp (DN) của nước nhập khẩu FDI.
Thứ ba, vốn đầu tư nước ngoài FDI góp phần thúc đẩy tiết kiệm nội địa
và cung cấp thêm hiệu quả trong quản lý, marketing, và công nghệ để nâng
cao năng suất lao động.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh hơn đối
với nước nhập khẩu. Mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế (Mô hình
Maign của FDI và phát triển) được thể hiện thông qua sự gia tăng đầu tư sản

ra được những biến số phù hợp hàm chứa tác động của FDI lên tăng trưởng
kinh tế.
Nghiên cứu của Todo và Miyamoto khác biệt so với các nghiên cứu khác
ở chỗ miêu tả được các biến số của FDI như một con số tuyệt đối của FDI
trong một lĩnh vực. Họ đã chứng minh được rằng phương pháp này liên quan
chặt chẽ tới thị trường chứng khoán nước ngoài và như vậy nó được ưu tiên
hơn cổ phần của họ trong ngành. Kết quả đã chỉ ra một tác động tích cực của
FDI lên năng suất lao động tại các DN nội địa sau khi thực hiện quản lý
nghiên cứu thị trường và đào tạo lực lượng lao động.
Báo cáo tại hội thảo của OECD: OECD-ILO Conference On Corporate
Social Responsibility, Report: The Impact of Foreign Direct Investment On
Wages And Working Conditions (Tác động của đầu tư nước ngoài lên tiền
lương và điều kiện làm việc) [107], đã khẳng định rằng đầu tư trực tiếp nước
ngoài đã trở thành một lĩnh vực năng động nhất của nền kinh tế thế giới trong
nhiều thập kỷ gần đây. Cổ phiếu toàn cầu của đầu tư trực tiếp nước ngoài đã
tăng từ 8% trong năm 1990 lên tới 24% trong năm 2006. Sự tăng trưởng mạnh
10
mẽ này đã được cấu thành bởi nhiều thay đổi về chất. Mặc dù một số lượng lớn
đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đổ vào các nước khối OECD, nhưng tầm
quan trọng của mối liên hệ giữa các quốc gia ngoài OECD với đầu tư trực tiếp
nước ngoài vẫn gia tăng không ngừng. Báo cáo đã chỉ ra tác động tích cực của
FDI đến phát triển kinh tế - xã hội các nước đang phát triển, bao gồm:
Thứ nhất, FDI đã trở thành nguồn tài chính chủ yếu từ bên ngoài cho các
quốc gia đang phát triển. Nhiều nước ngoài khối OECD cũng trở thành các
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hiệu quả và điều này được chứng minh bởi
con số tăng lên gần gấp đôi của cố phiếu của họ tại thị trường chứng khoán
toàn cầu từ năm 1990 tới năm 2005.
Thứ hai, vai trò ngày càng quan trọng của FDI tại các quốc gia đang phát
triển đã mở ra những kỳ vọng mới về tiềm năng nhằm xây dựng một quy trình
phát triển tại các quốc gia này, ví dụ như, các nền kinh tế nội địa có thể hưởng

nhằm nâng cao hiệu quả của FDI tới sự phát triển kinh tế và xã hội. Có nhiều
sáng kiến hữu ích về những phương pháp đánh giá của Chính phủ nhằm
chuẩn hóa lực lượng lao động và những sáng kiến của tư nhân cũng như cộng
đồng nhằm nâng cao trách nhiệm hành vi trong kinh doanh.
Tác giả Tulus Tambunan trong tác phẩm The Impact Of Foreign Direct
Investment On Poverty Reduction. A Survey Of Literature And A Temporary
Finding From Indonesia, (Tác động của FDI lên xóa đói giảm nghèo ở
Indonesia) khi phân tích kinh nghiệm lâu đời tại Indonesia trong suốt giai
đoạn Chính phủ thể chế mới ( the New Order government) đã khẳng định
rằng, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể tạo ra những đóng góp nhất định cho
sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, tác động của FDI là tích cực hay tiêu
cực tới đói nghèo tại nước chủ nhà tùy thuộc rất lớn vào bối cảnh mà hoạt
động đầu tư đó nhằm vào và kết quả của các hoạt động kinh tế. Điều này đặc
biệt đúng với các chính sách mà mang lại hiệu quả cho người nghèo từ FDI,
dù trực tiếp hay gián tiếp. Trong quá trình thực hiện các chính sách mở cửa
của Indonesia đối với FDI, Chính phủ nước này đã đưa ra những ưu đãi đáng
kể. Tuy nhiên, ở cũng thời điểm đó, Chính phủ Indonesia cũng thiết lập các
chính sách và điều lệ nhằm tối ưu hóa lợi ích từ FDI cho người nghèo, hoặc ít
12
nhất có thể bảo vệ họ khỏi những tác động tiêu cực từ các DN nước ngoài.
Các chính sách đó bao gồm cả sự đóng cửa một số lĩnh vực nhất định, một số
ngành công nghiệp, và một số hoạt động của FDI, cũng như những rào cản gia
nhập thị trường. Chính phủ nước này ưu tiên các chính sách nhằm đảm bảo
thu nhập cho lao động địa phương cũng như phát triển tại cộng đồng mà có sự
hợp tác với các DN nước ngoài.
Cho đến nay vẫn chưa đủ bằng chứng chứng về tính hiệu quả của chính
sách và quy định mở cửa của Chính phủ Indonesia về nhận vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, cũng
như tác động tiêu cực của FDI đối với các hoạt động kinh tế trong nước. Một
trong số các tác động tiêu cực của FDI thường biểu hiện ra thông qua sự thay

góp phần giải quyết vấn đề thâm hụt vốn nội địa. Từ đó, FDI đóng vai trò bổ
sung cho nguồn vốn nội địa.
Một nguyên nhân cần thu hút FDI là mối liên hệ giữa nhu cầu về kết cấu
hạ tầng xã hội và sự phát triển của NNL. FDI gắn liền với tự do hóa thương
mại, tư nhân hóa, quốc tế hóa và toàn cầu hóa.
Một vấn đề trong quản lý tài chính nước ngoài và cụ thể là làm thế nào
FDI có thể được phối hợp với các chính sách phát triển tại nước chủ nhà.
Một nỗ lực đáng quan tâm được tạo ra nhằm chỉ ra những vấn đề cơ bản và
cụ thể liên quan tới đầu tư trực tiếp nước ngoài và để tìm ra những tác động
của FDI tạo lợi ích cho các nhà đầu tư cũng như sự phát triển bền vững của
nước chủ nhà.
Các nhà kinh tế học tân cổ điển nhấn mạnh rằng sự giàu có của nước chủ
nhà luôn luôn có thể được gia tăng nhờ FDI, khi mà sự giàu có của chủ sở
hữu có thể giảm đi trong nước, thì có thể tăng lên khi đầu tư ra nước ngoài.
Các xu hướng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các hoạt động kinh
tế quốc tế, đó là: các nước với một nền kinh tế phát triển cũng như các nền
kinh tế đang phát triển tại Châu Á, Bắc Mĩ, Châu Mĩ Latin, Châu Phi và Châu
Âu đã và đang khuyến khích tự do hóa các dòng chảy của FDI. FDI có thể
chảy vào các lĩnh vực lao động chuyên sâu hoặc vốn chuyên sâu. Tính chất
14
địa lý của FDI là một vấn đề khác nữa. Mức độ FDI cao hơn được thu hút bởi
các thế lực chính trị và kinh tế phát triển.
Xu hướng FDI trên toàn cầu đó là, theo lý thuyết kinh tế thực sự làm
chủ, thì FDI trở thành công cụ chính của tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Theo Phonesay Vilaysack [26] trong luận án tiến sỹ, Thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, FDI có tác động
tích cực tới kinh tế - xã hội nước nhập khẩu như bổ sung nguồn vốn, cân bằng
cán cân thanh toán, kích thích chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển nhân
lực, tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thị trường
xuất khẩu. Tác động tiêu cực như gây thiệt hại cho nước nhận đầu tư với

trường hợp nhất định, nó có thể nhắm tới việc lấn át DN nội địa, làm giảm
khả năng vận hành tại một quy mô kinh tế hiệu quả của họ.
Một dấu hiệu mới cho thấy rằng đầu tư nước ngoài có thể có một tác
động tích cực đáng kể tới tiền lương tại DN chủ sở hữu nước ngoài ở nước
chủ nhà. Và theo quan điểm truyền thống, những tác động tích cực của tiền
lương được quyết định nhiều hơn tại các nền kinh tế mới nổi. Hơn nữa, dấu
hiệu tích cực của đầu tư nước ngoài trước tiên là ở cơ hội trao cho một công
việc tốt hơn cho người lao động mới, hơn là việc trả nhiều hơn cho người lao
động cũ tại DN bị mua lại hoặc sáp nhập, tức là đổi chủ sở hữu. Tuy nhiên, về
lâu dài những khác biệt lớn về tiền lương giữa người mới và cũ trong cùng
một DN là không mang lại sự hoạt động bền vững cho DN đó trên mọi
phương diện [108].
Báo cáo của UNCTAD, Technology and Innovation Report 2012:
Innovation, Technology and South-South Collaboration [113] (Báo cáo công
nghệ và đổi mới năm 2012: Đổi mới, Công nghệ và Hợp tác Nam-Nam), đã
tập trung bàn về tác động tích cực của hợp tác Nam-Nam đối với các quốc gia
đang phát triển. Hợp tác Nam-Nam không chỉ bị hạn chế trong các nhân tố
kinh tế. Một số các nước đang phát triển, cùng với thế mạnh truyền thống về
kinh tế, đang xây dựng những định hướng nhằm định hình thương mại toàn
cầu, viện trợ và các quan hệ kinh tế.
16
Một đóng góp đáng kể cho tiếp cận công nghệ và xây dựng tiềm lực là
nhập khẩu vốn hàng hóa. Tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu (GPNs) -
và mối quan hệ giữa người tiêu dùng - nhà cung cấp - người bán lẻ - gắn liền
với FDI là những nhân tố có thể nâng cao việc học hỏi và xây dựng những
nguồn lực thông qua những sự lan tỏa mang tính công nghệ giữa các DN nội
địa, dù là chuyển giao công nghệ và bằng sáng chế trực tiếp hay gián tiếp
thông qua sự tích lũy bí quyết của DN nội địa. FDI và bằng sáng chế có thể có
những ý nghĩa quan trọng đối với việc mua lại công nghệ và thích nghi sử
dụng công nghệ đó, trong một số bối cảnh.

Trung Quốc đã ký một thỏa thuận thành lập khu vực tự do thương mại tới
năm 2010 và một vài các quốc gia Châu Á đã ký hiệp định thương mại tự do
với Hoa Kỳ.
Những số liệu thống kê chính thức kể từ thời gian khủng hoảng, có thể
không cập nhật đầy đủ tốc độ quốc tế hóa của R&D. Số liệu hiện hành của các
dự án FDI chỉ ra rằng sự mở rộng của R&D tới các khu vực đang đạt được đà
tăng trưởng.
Các chính sách phát triển quan trọng liên quan tới bảo vệ các quyền sở
hữu trí tuệ (IPR), cải cách các hoạt động nghiên cứu công, phát triển cơ sở hạ
tầng, và phát triển đầu tư tập trung mạnh mẽ vào R&D liên quan tới FDI và
các lợi ích của R&D.
FDI nhận và xuất trong nghiên cứu và phát triển là hai phương pháp thực
hành. Quốc tế hóa R&D mở ra nhiều cơ hội mới cho các nước đang phát triển
để tiếp cận công nghệ, xây dựng những sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao,
phát triển các kỹ năng mới và nuôi dưỡng một nền văn hóa hiện đại thông qua
sức lan tỏa của các doanh nghiệp và tập đoàn nội địa. FDI với R&D có thể
giúp các quốc gia đẩy mạnh hệ thống đổi mới và nâng cao công nghiệp hóa và
công nghệ hóa, kết nối để thực hiện các chức năng của cầu, nâng cao hiệu quả
của trang thiết bị và tạo ra nhiều hơn các sản phẩm phức tạp.
Một số chính sách và các Khu công nghiệp (KCN) cần được thiết lập để
thu hút đầu tư nước ngoài thông qua R&D, để đảm bảo rằng lợi ích có thể
mang lại hiệu quả cho chi phí các loại. Điểm mấu chốt để xây dựng một mô
18
hình thể chế mà không ngừng đổi mới. Chính sách đặc biệt lưu ý tập trung
vào bốn khu vực: NNL, khả năng nghiên cứu cộng đồng, bảo vệ quyền sáng
chế và chính sách cạnh tranh.
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2010 Investing In A Low-Carbon Economy,
[111] (Đầu tư vào lĩnh vực hàm lượng Carbon thấp) đánh giá trong năm 2009
về dòng chảy FDI trong lĩnh vực Low-Carbon chủ yếu gồm ba khu vực trọng
điểm (tái tạo, tái chế và công nghệ chế tạo low-carbon) là đạt tới 90 tỷ đô la

tiếp cận công nghệ low-carbon, các quy trình và sản phẩm. Loại hình đầu tư
nước ngoài Low-carbon có thể kể đến, đó là: giới thiệu quy trình low-carbon
làm giảm lượng phát thải trong quá trình sản xuất hàng hóa. Điều này bao
gồm việc nâng cấp các hoạt động hợp tác xuyên quốc gia và các DN liên quan
cùng chuỗi giá trị toàn cầu của họ.
Các sản phẩm và dịch vụ low-carbon giảm thiểu lượng phát thải CO2
trong khi sử dụng. Các sản phẩm low-carbon bao gồm ô tô điện, các sản phẩm
tiết kiệm điện năng và các hệ thống giao thông tích hợp. Các dịch vụ low-
carbon có thể kể đến là các giải pháp công nghệ tái cấu trúc các quy trình hạn
chế lượng phát thải tại các DN địa phương.
Nhìn rộng ra khỏi các hoạt động đầu tư nước ngoài, thì đầu tư nước
ngoài low-carbon đang và sẽ trở nên cần thiết. Hoạt động này đưa ra những
lợi thế và lợi ích trong từng gói đầu tư FDI, đó là tiếp cận công nghệ tiên tiến,
đặc biệt trong hiệu quả sử dụng năng lượng và các yếu tố đầu vào khác nữa,
đồng thời là các cơ hội xuất khẩu trong những ngành mũi nhọn.
Báo cáo đầu tư thế giới năm 2011 Non-equity Modes Of International
Production And Development, [112] (Các chế độ không công bằng của sản
phẩm quốc tế và trong phát triển dự đoán rằng, bất chấp cú sốc nào về kinh tế,
dòng chảy FDI sẽ phục hồi trước khủng hoảng trong hơn hai năm tới. Thách
thức này dành cho những nỗ lực để đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Dòng chảy FDI toàn cầu đã tăng lên tới 1,24 nghìn tỷ USD trong năm
2010, nhưng vẫn thấp hơn 15% so với mức trung bình trước khủng hoảng.
Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc đánh giá rằng FDI toàn
cầu sẽ phục hồi lại mức trước khủng hoảng trong năm 2011, tăng từ 1,4 lên

Trích đoạn Kinh nghiệm của Bắc Ninh Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên Kinh nghiệm Trung Quốc Kinh nghiệm Hàn Quốc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status