Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 35

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và
xây dựng nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực trong nước là chính, nguồn lực bên
ngoài giữ vai trò quan trọng. Thực tiễn các quốc gia đang phát triển nói chung
và Việt Nam nói riêng thời gian qua cho thấy, đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế.
Kể từ khi ban hành và có hiệu lực Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam
năm 1987 đến nay, FDI đã góp phần đáng kể vào bổ sung nguồn vốn, chuyển
giao công nghệ, tăng xuất khẩu và giải quyết việc làm, trở thành nhân tố quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Mặc dù cuộc khủng hoảng tài
chính – tiền tệ ở khu vực Đông Nam Á 1997 đã khiến cho lượng vốn FDI vào
nước ta bị suy giảm mạnh, song thời gian gần đây, lượng vốn này đang có xu
hướng gia tăng, theo báo cáo mới nhất của Cục Đầu tư nước ngoài năm 2008,
sau 2 năm gia nhập WTO Việt Nam đã đạt kỷ lục trong thu hút vốn đầu tư
nước ngoài kể từ trước tới nay với 64 tỷ USD vốn đăng ký, gấp 3 lần so với
năm 2007. Điều này chứng tỏ có một sự chuyển biến đáng kể trong tâm lý các
nhà đầu tư nước ngoài về tiềm năng và môi trường đầu tư ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố với những đặc thù khác nhau,
do đó lượng vốn FDI phân bổ vào các địa phương không đều. Đồng thời mức
độ phát huy tác động cũng không giống nhau, bên cạnh những tác động tích
cực thì FDI cũng đã và đang thể hiện những ảnh hưởng không mong muốn,
do đó vẫn đề bức xúc đặt ra không những chỉ là tăng cường thu hút FDI, mà
còn là làm sao để FDI phát huy được những tác động tích cực, giảm thiểu
những tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung
và từng địa phương nói riêng.




3
- Nguyễn Văn Tuấn: đầu tư nước ngoài với phát triển kinh tế Việt Nam,
nxb. Tư pháp, Hà Nội 2005.
- Hà Thanh Việt: Thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
duyên hải miền trung, luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội, 2006.
- Ts. Nguyễn Thị Tuệ Anh: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, nghiên cứu của dự án SIDA, Hà Nội, 2006.
- Hà Quang Tiến: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát
triển công nghiệp ở Vĩnh Phúc, luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội 2007.
- Ts. Hà Xuân Vấn: Hoàn thiện môi trường chính sách khuyến khích đầu
tư vốn ở tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện nay, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và
công nghệ cấp bộ, Huế 2008.
Trong các công trình đó, các tác giả đã có nhiều đóng góp quan trọng
trong làm rõ những lý luận chung về FDI, phân tích vai trò của FDI, đưa ra
những giải pháp chung để đẩy mạnh thu hút FDI vào nước ta, cũng như một
số địa bàn giai đoạn tới. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa
học nào nghiên cứu cụ thể tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng và tác động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế đề xuất những phương hướng và
giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của
đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thừa
Thiên - Huế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ đặt ra của luận văn là:
- Làm rõ một số lý luận và thực tiễn về đầu tư trực tiếp nước ngoài và
mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế - xã hội.



5
- Luận văn sử dụng trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic - lịch sử,
kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh...
6. Đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI và tác
động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, từ đó đề xuất những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát
huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của đầu tư
trực tiếp nước ngoài, góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của tỉnh
theo hướng bền vững.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với việc giảng dạy
nghiên cứu về FDI cũng như đối với cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại
của tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận
văn chia làm 3 chương, 8 tiết.


6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1.1. Lịch sử phát triển và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Về lịch sử phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện vào thời kỳ đầu của chủ nghĩa
tư bản – thời kỳ mà các nước tư bản bắt đầu đi xâm chiếm hình thành các

chúng nhân dân… thì không thể có hiện tượng tư bản thừa.
Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là chủ nghĩa tư bản, số
tư bản thừa vẫn còn được dùng không phải là để nâng cao mức
sống của quần chúng trong nước đó, vì như thế thì sẽ đi đến kết
quả làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản, - mà là để tăng thêm
lợi nhuận đó bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào
những nước lạc hậu. Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận
thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền
công hạ, nguyên liệu rẻ. [21, tr.456]
Như vậy “tư bản thừa” là do khi chúng đã nhìn thấy được những “mảnh
đất màu mỡ” mà tại đó chúng có khả năng sinh lợi cao, trong khi ở nước sở
tại các điều kiện để cho đầu tư sinh lợi đã trở nên rất hạn chế. Lênin cho rằng,
xuất khẩu tư bản là đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa
tư bản độc quyền) [21, tr.455].
Thời kỳ từ Cách mạng tháng Mười Nga thành công về sau, khi mà trên
thế giới đã hình thành hai hệ thống chính trị xã hội đối lập, đầu tư trực tiếp
nước ngoài có những thay đổi nhất định. Bên cạnh loại hình như vẫn tồn tại (ở
các nước thuộc địa) đã hình thành một loại hình mới đó là loại đầu tư chỉ có
thể thực hiện khi được sự chấp thuận của nước nhận đầu tư. Loại hình này, dù


8
còn có sự khác nhau về mức độ nhưng cả nhà đầu tư và nước nhận đầu tư đều
có lợi. Trong thời kỳ đầu của chính quyền Xô Viết, Lênin chủ trương sử dụng
đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức tô nhượng như là một biện pháp để
giải quyết khó khăn và thúc đẩy kinh tế phát triển. Ông cho rằng:
Đó là một giao kèo, một đồng minh, một liên minh giữa chính
quyền nhà nước Xô Viết, nghĩa là nhà nước vô sản, với chủ nghĩa tư
bản nhà nước. Trong đó, “…(nhà tư bản)”, họ kinh doanh theo
phương thức tư bản để lấy lợi nhuận: họ đồng ý thỏa thuận với

Trong điều kiện nền kinh tế thế giới vẫn bị phân chia theo hai con đường
phát triển tương ứng với hai hệ thống chính trị đối lập (xã hội chủ nghĩa và tư
bản chủ nghĩa), và cả hai hệ thống đều đạt tới một trình độ phát triển nhất định,
thì đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như là phương tiện riêng có, địa bàn
hoạt động của nó cũng chịu sự giới hạn trong phạm vi nội bộ của từng hệ thống.
Từ những năm cuối thập niên 80 đến nay, sự vận động và các điều kiện
của thế giới có những chuyển biến cơ bản, sâu sắc, sự cách biệt giữa hai hệ
thống đã giảm dần; nền kinh tế của hầu hết các quốc gia đều theo thể chế thị
trường; xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế đang trở
thành phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh; khoa học, kỹ thuật, công nghệ đạt
tới trình độ phát triển cao;… đầu tư trực tiếp nước ngoài không những được
sử dụng như trong những hình thức hợp tác kinh tế, như phương tiện thực
hiện phân công lao động quốc tế, mà còn được xem là điều kiện quyết định sự
phát triển của kinh tế thế giới.
Nhu cầu tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài đang tăng lên một cách
đáng kể trên phạm vi toàn thế giới. Cùng với việc hình thành các khu vực tự
do hóa đầu tư đã tạo ra một cục diện cạnh tranh quyết liệt về lĩnh vực này.
1.1.1.2. Về bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghiên cứu nguồn gốc lịch sử của xuất khẩu tư bản Lênin đã chỉ ra rằng
mặc dù, xuất khẩu tư bản nếu xét về mặt lượng một cách giản đơn thì nó đồng


10
nghĩa với việc làm giảm đi một phần năng lực phát triển, giảm bớt điều kiện
tạo việc làm, làm giảm khả năng cải thiện mức sống của nước sở hữu tư bản,
nhưng đây chính lại là điều kiện, là cơ hội giúp các nhà tư bản thu được lợi
nhuận từ việc đầu tư vào nước khác với mức cao hơn. FDI với tư cách là hình
thức của xuất khẩu tư bản có bản chất ăn bám với mức độ cao mà Lênin gọi là
ăn bám “bình phương”, bởi lẽ tư bản được xuất khẩu trực tiếp vốn là kết quả
mà các tổ chức độc quyền đã bóc lột được ở trong nước, nhưng lại được sử

mới. Theo cách phân tích và đánh giá của Lênin thì sự phát triển của đầu tư
trực tiếp nước ngoài luôn gắn liền với lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Xuất phát từ điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của thế giới lúc bấy giờ mà
Lênin cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài là công cụ bóc lột, là hình thức
chiếm đoạt của chủ nghĩa tư bản. Lý luận trên đây của Lênin, một mặt đã
phác họa bức tranh khá rõ nét nguồn gốc và động cơ của đầu tư trực tiếp nước
ngoài. Mặt khác, Lênin cũng khẳng định, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã là
nhân tố có khả năng thực hiện vai trò động lực thúc đẩy sự phát triển nói
chung và sự phát triển nền sản xuất xã hội nói riêng của các bên có liên quan
trực tiếp đến hoạt động này.
Sau Lênin một số nhà lý luận cho rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài về
thực chất là hình thức kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản xuất” (Vernon - học giả
Mỹ), “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật” (Harvey) và “nội bộ hóa di chuyển kỹ thuật”
(Rugman - nhà kinh tế học Canada). Bản chất kỹ thuật của đầu tư trực tiếp
nước ngoài là một trong những vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà lý luận.
Tuy còn có sự khác nhau về cơ sở nghiên cứu, về phương pháp phân tích, và
đối tượng xem xét… nhưng quan điểm của các ông đã gặp nhau ở kết luận:
Trong nền kinh tế hiện đại có một số yếu tố liên quan đến kỹ thuật sản xuất
kinh doanh đã buộc nhiều nhà sản xuất (có thể là hãng hay công ty) phải lựa
chọn phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài như là điều kiện cho sự tồn tại
phát triển của mình.


12
Sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài được qui định bởi những
quy luật kinh tế hoàn toàn khách quan với những điều kiện cần và đủ chín
muồi nhất định, nó chỉ là một trong số những mặt biểu hiện ra bên ngoài của
quá trình phân công lao động quốc tế và xã hội hóa sức sản xuất trên qui mô
quốc tế. Những nhân tố khác có thể kìm hãm hoặc đẩy nhanh hơn việc mở
rộng dòng di chuyển vốn, song nếu kìm hãm cũng không thể dập tắt được

 Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập do các chủ
đầu tư nước ngoài góp vốn chung với các chủ doanh nghiệp ở nước sở tại trên
cơ sở hình thành hợp đồng liên doanh. Các bên cùng tham gia điều hành
doanh nghiệp, chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên
vào vốn điều lệ của doanh nghiệp.
 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được ký
kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước, để tiến
hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà, trên cơ sở
quy định về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và xác định quyền lợi của mỗi
bên, nhưng không hình thành một pháp nhân mới.
 Các hình thức khác: ngoài các hình thức nêu trên, ở các nước và ở Việt
Nam còn có các hình thức khác như: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO),
hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT) nhằm khuyến khích thu hút vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài.
Tuy nhiên, vấn đề đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài được điều
chỉnh bởi hai luật riêng biệt đã dẫn đến những đối xử khác nhau giữa hai khu
vực này, để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt trong giai đoạn
lúc bấy giờ Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại quốc tế
WTO, những yêu cầu và rào cản về đầu tư, trợ cấp cần loại bỏ, ngày 29 tháng
11 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông


14
qua Luật đầu tư mới, hoàn chỉnh và phù hợp hơn với đối tượng, phạm vi điều
chỉnh được mở rộng. Luật đầu tư chung, đã làm rõ hơn một số khái niệm:


Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức

đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi



Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc
100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài.


15


Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và
nhà đầu tư nước ngoài.



Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO,
hợp đồng BT.



Đầu tư phát triển kinh doanh.



Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lí hoạt động đầu tư.



Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.



tránh khỏi tụt hậu.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có hiệu quả những
khó nhăn về vốn cho quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy kinh tế của một
nước phát triển. Trong điều kiện của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa,
nhìn chung các nước đang phát triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mức sống
thấp, khả năng tích lũy kém, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công nghệ kỹ thuật
lạc hậu, mức đầu tư thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở
rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật
tiên tiến của thế giới… giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm
đến với các nguồn đầu tư quốc tế. Nhưng trong số các nguồn đầu tư quốc tế
thì vốn viện trợ tuy có một số ưu đãi nhưng lại đòi hỏi phải đi kèm một số
điều kiện ràng buộc về chính trị, xã hội thậm chí cả về quân sự. Còn vốn vay
thì thủ tục vừa khắt khe mà lại phải chịu lãi suất cao. Ở các nước đang phát triển,
khi khả năng tiếp cận thị trường còn hạn chế, trình độ tổ chức sản xuất kinh
doanh cũng như quản lí chưa có kinh nghiệm thì việc đầu tư (nhất là đối với vốn
vay nước ngoài) rất khó đạt hiệu quả. Đối với vốn vay, cho dù đầu tư có lãi hay
không thì hàng năm cũng phải chi trả thêm một mức lãi suất nhất định.
Nguồn vốn được đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến
hành công nghiệp hóa của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Điều này cũng dễ hiểu, khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng
thời họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra,
do đó trước khi đầu tư họ buộc phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho
việc thực hiện dự án. Trước khi tiến hành đầu tư, các nhà đầu tư nước ngoài


17
thường có sẵn một số điều kiện cơ bản như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lí,
khả năng thị trường… tức là nhà đầu tư đã dự báo được phần nào hiệu quả có
thể thu được của đồng vốn đầu tư. Mặc dù vậy, cũng không ai dám chắc khi
có đầy đủ các điều kiện như vậy là sẽ đạt kết quả tốt trong đầu tư. Rất dễ nhận

Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp. Do
vậy, xét về nhu cầu vốn, FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho
đầu tư trong nước, nhằm đáp nhu cầu đầu tư cho phát triển, góp phần đẩy nhanh
tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà nước ta đang thực hiện.
Khi đã đi vào hoạt động, với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
các doanh nghiệp FDI có nghĩa vụ phải nộp thuế cho nước sở tại, qua đó
góp phần tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, nguồn thu này lại quay trở
lại phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế và đảm bảo phúc lợi xã hội
của nước tiếp nhận đầu tư. Ở Việt Nam trong thời gian qua khu vực FDI đã
đóng góp ngày càng tăng vào nguồn thu ngân sách của nhà nước. Bên cạnh
đó, FDI đã góp phần quan trọng vào việc tăng thặng dư của tài khoản vốn,
cải thiện cán cân thanh toán nói chung và tạo ra những cân đối vĩ mô trong
nền kinh tế.
1.2.2. Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất
lao động, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy ứng
dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản
phẩm cũng như khả năng cạnh tranh của nước tiếp nhận đầu tư. Theo yêu cầu
của kinh tế thị trường, muốn có được tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế
phải không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ của quá trình sản
xuất từ đó làm nền tảng cho nâng cao sức cạnh tranh của các ngành hàng, các
vùng cũng như toàn bộ nền kinh tế. Nâng cao sức cạnh tranh là đòi hỏi khách
quan và là điều kiện để tồn tại đối với từng chủ thể sản xuất kinh doanh trong
kinh tế thị trường. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có tác động lớn đối với quá
trình này.


19
Như chúng ta biết, muốn có lợi nhuận các chủ thể kinh doanh buộc phải,
một mặt, không ngừng hạ thấp hao phí lao động cá biệt so với hao phí lao

năng lực công nghệ của nước tiếp nhận FDI ngày càng phát triển hơn. Mặt
khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ hiện đại của nước ngoài đội
ngũ chuyên gia cũng như công nhân trong nước học được rất nhiều kinh
nghiệm. Muốn học được công nghệ hiện đại đòi hỏi lực lượng lao động
trong nước (chuyên gia và công nhân) phải nỗ lực rất nhiều mới có thể
nhanh chóng tiếp thu được công nghệ hiện đại, sau đó cải biến cho phù hợp
với điều kiện của nước mình và biến chúng thành công nghệ của mình.
Công nghệ của nước tiếp nhận FDI được cải thiện làm cho năng suất lao
động ngày càng được tăng lên, nâng cao khả năng cạnh tranh, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế.
Trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, thì công nghệ hiện đại có vai trò
quyết định đến năng suất lao động nó tác động trực tiếp đến năng lực cạnh
tranh của ngành. Nền kinh tế Việt Nam có xuất phát điểm thấp, trình độ công
nghệ lạc hậu thì việc nâng cao trình độ công nghệ thông qua FDI là bước đi
đúng đắn. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, công nghệ hiện đại không là
giải pháp duy nhất cho tất cả các trường hợp tiếp nhận công nghệ, vì còn phụ
thuộc vào năng lực tiếp nhận của người sử dụng.
Bên cạnh những tác động thuận lợi, chuyển giao công nghệ thông qua
FDI cũng đặt ra nhiều vấn đề cho nước tiếp nhận công nghệ như: nhập công
nghệ lạc hậu, công nghệ không phù hợp với các nước đang phát triển, giá đắt
hơn thực tế... Về lâu dài, công nghệ lạc hậu sẽ gây ra hậu quả xấu cho nước
chủ nhà vì loại công nghệ này kém sức cạnh tranh, năng suất lao động thấp và
gây ô nhiễm môi trường, tuy giá cả của nó có thể rẻ hơn, phù hợp với điều
kiện của những nước nghèo. Đây là một vấn đề mà các nước cần quan tâm khi
tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài.


21
1.2.3. FDI góp phần hình thành các hình thức kinh doanh đa dạng,
liên kết các ngành nghề

các khu công nghiệp nên xu hướng các công ty trong khu công nghiệp liên kết
với nhau nhằm giảm chi phí đầu vào.
Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu thông qua quá
trình trao đổi trực tiếp giữa các công ty nội địa với các công ty nước ngoài những
hàng hóa (tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào) và dịch vụ phục vụ cho hoạt
động sản xuất - kinh doanh. Mối liên kết này sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới cho
các ngành công nghiệp nội địa và các công ty trong nước.
1.2.4. Tăng cường khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối để
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là một trong những mục
tiêu kinh tế quan trọng của mỗi quốc gia, bản thân mỗi nền kinh tế luôn tồn
tại những lợi thế riêng, tùy theo những tương quan nhất định mà đó có thể là
lợi thế tuyệt đối hay lợi thế tương đối. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế
không thể thực hiện được nếu thiếu những nguồn lực quan trọng như vốn,
công nghệ, tài nguyên và con người (đặc biệt là những chủ thể có vai trò tạo
lập). Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc bổ sung về vốn cho nền kinh tế, đưa
thiết bị, công nghệ hiện đại và phương thức tổ chức quản lí vào đã tạo ra
những điều kiện mới cho việc khai thác những tiềm năng của nước nhận đầu
tư, từng bước hình thành những lợi thế mới trong hệ thống phân công lao động
quốc tế. Việc phát huy nội lực và tranh thủ ngoại lực giúp nước nhận đầu tư
xác định rõ hơn các ngành hàng chủ lực, từ đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng ngày càng tiến bộ với sự giảm dần về tỷ trọng của nông nghiệp, sự gia
tăng của công nghiệp, dịch vụ trong sản xuất GDP và cơ cấu lao động.
Một trong những biểu hiện về tăng cường khai thác các lợi thế của quốc
gia được thể hiện thông qua việc nhận chuyển giao công nghệ từ đầu tư trực


23
tiếp nước ngoài. Những công nghệ được chuyển giao bao gồm cả những công
nghệ không còn có sức cạnh tranh ở các nước tiên tiến do nguyên nhân giá trị

đã tiết kiệm cho nước chủ nhà một phần ngân sách để đào tạo lao động trong
nước (như trợ giúp về tài chính mở các lớp đào tạo dạy nghề trung và dài hạn,
mở các lớp huấn luyện nâng cao nghiệp vụ quản lí, v.v). Ngoài ra, để đáp ứng
được yêu cầu về nguồn nhân lực trong các dự án, doanh nghiệp FDI thường
đưa người lao động đi đào tạo ở nước ngoài để họ tiếp cận được với công
nghệ và kinh nghiệm quản lí hiện đại. Trong khi làm việc ở các doanh nghiệp
FDI, các chuyên gia kỹ thuật, quản lí trong nước có cơ hội tiếp cận với các
chuyên gia nước ngoài, học được các kinh nghiệm thực hành từ các chuyên
gia này. Mặt khác, do sức ép cạnh tranh trên thị trường lao động, người lao
động trong nước không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình qua
học tập và qua công việc, từ đó chất lượng nguồn nhân lực trong nước không
ngừng được nâng lên.
Từ những phân tích trên có thể nói FDI là một kênh quan trọng tạo việc
làm cho người lao động của nước tiếp nhận đầu tư.
Ở Việt Nam lực lượng lao động làm việc trong khu vực FDI hầu hết là
lao động giản đơn tập trung chủ yếu trong các ngành công nghiệp chế biến,
may mặc. Số lao động trực tiếp trong các dự án FDI ngày càng tăng, nhờ các
hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công cho các đối tác nước ngoài. Năm
2006, các dự án có vốn FDI tại Việt Nam đang sử dụng khoảng 730 ngàn lao
động, chiếm 1,5% tổng lao động có việc làm tại Việt Nam [01, tr.12]. Số lao
động này được tiếp cận với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học
hỏi được các phương thức lao động tiên tiến. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt
Nam làm việc tại các doanh nghiệp FDI đã có thể thay thế dần các chuyên gia
nước ngoài trong việc đảm nhiệm những chức vụ quản lí doanh nghiệp và
điều khiển các qui trình công nghệ hiện đại. Thúc đẩy sự hình thành tác phong


25
làm việc theo phương pháp công nghiệp đối với lực lượng lao động. Qua việc
tạo ra ngày càng nhiều chỗ làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra thu nhập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status