LUẬN VĂN: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế doc - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới
phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh
Thừa Thiên - Huế MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền
kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã khẳng
định: nguồn lực trong nước là chính, nguồn lực bên ngoài giữ vai trò quan trọng. Thực
tiễn các quốc gia đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng thời gian qua cho thấy,
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế.

khăn, song không vì thế mà thu hút bằng mọi giá. Để phát huy vai trò của FDI trong phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vấn đề cấp thiết đặt ra là phải nghiên cứu làm rõ những tác
động của FDI tới phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức được tác động hai mặt của FDI là
cơ sở khoa học để xây dựng và thực các giải pháp phù hợp nhằm phát huy tác động tích
cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI trên địa bàn cả nước nói chung và tại Thừa
Thiên – Huế nói riêng. Đó là lý do học viên cao học lựa chọn đề tài ''tác động của đầu tư
trực tiếp nước ngoài tới phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên -
Huế'' làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu luận văn
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình nghiên
cứu và được công bố, chẳng hạn như:
- Hoàng Thị Kim Thanh: những giải pháp nâng cao hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, luận án tiến sĩ kinh
tế, Hà Nội, 2003.
- Nguyễn Văn Tuấn: đầu tư nước ngoài với phát triển kinh tế Việt Nam, nxb. Tư
pháp, Hà Nội 2005.
- Hà Thanh Việt: Thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn duyên hải
miền trung, luận án tiến sĩ kinh tế, Hà Nội, 2006.
- Ts. Nguyễn Thị Tuệ Anh: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam, nghiên cứu của dự án SIDA, Hà Nội, 2006.
- Hà Quang Tiến: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển công
nghiệp ở Vĩnh Phúc, luận văn thạc sĩ kinh tế, Hà Nội 2007. - Ts. Hà Xuân Vấn: Hoàn thiện môi trường chính sách khuyến khích đầu tư vốn ở
tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện nay, Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ,
Huế 2008.
Trong các công trình đó, các tác giả đã có nhiều đóng góp quan trọng trong làm rõ
những lý luận chung về FDI, phân tích vai trò của FDI, đưa ra những giải pháp chung để
đẩy mạnh thu hút FDI vào nước ta, cũng như một số địa bàn giai đoạn tới. Tuy nhiên, cho

5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa vào lý luận của Lênin về xuất khẩu tư bản, quan điểm của Đảng,
chính sách của Nhà nước về thu hút FDI, kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu
trong các công trình khoa học đã công bố để làm rõ tác động của FDI tới phát triển kinh
tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế và đề xuất các giải pháp phù hợp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận.
- Kết hợp lý luận, quan điểm đường lối của Đảng với thực tiễn địa phương để lý giải
những vấn đề mà luận văn nghiên cứu.
- Luận văn sử dụng trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgic - lịch sử, kết hợp với
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, đối chiếu so sánh
6. Đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI và tác động của
FDI đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, từ đó đề xuất
những định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy những tác động tích cực
và hạn chế những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần thúc đẩy
quá trình phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng bền vững.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo đối với việc giảng dạy nghiên cứu về
FDI cũng như đối với cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại của tỉnh.
7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn chia
làm 3 chương, 8 tiết. Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG
CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TỚI

một tất yếu. Lênin cho rằng nếu chủ nghĩa tư bản chú ý đến phát triển nông nghiệp, đến
việc nâng cao mức sống của quần chúng nhân dân… thì không thể có hiện tượng tư bản
thừa.
Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn còn là chủ nghĩa tư bản, số tư bản
thừa vẫn còn được dùng không phải là để nâng cao mức sống của quần
chúng trong nước đó, vì như thế thì sẽ đi đến kết quả làm giảm bớt lợi
nhuận của bọn tư bản, - mà là để tăng thêm lợi nhuận đó bằng cách xuất
khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu. Trong các nước lạc hậu
này, lợi nhuận thường cao, vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp,
tiền công hạ, nguyên liệu rẻ. [21, tr.456]
Như vậy “tư bản thừa” là do khi chúng đã nhìn thấy được những “mảnh đất màu
mỡ” mà tại đó chúng có khả năng sinh lợi cao, trong khi ở nước sở tại các điều kiện để
cho đầu tư sinh lợi đã trở nên rất hạn chế. Lênin cho rằng, xuất khẩu tư bản là đặc điểm
kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại (chủ nghĩa tư bản độc quyền) [21, tr.455].
Thời kỳ từ Cách mạng tháng Mười Nga thành công về sau, khi mà trên thế giới đã
hình thành hai hệ thống chính trị xã hội đối lập, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những
thay đổi nhất định. Bên cạnh loại hình như vẫn tồn tại (ở các nước thuộc địa) đã hình
thành một loại hình mới đó là loại đầu tư chỉ có thể thực hiện khi được sự chấp thuận của
nước nhận đầu tư. Loại hình này, dù còn có sự khác nhau về mức độ nhưng cả nhà đầu tư
và nước nhận đầu tư đều có lợi. Trong thời kỳ đầu của chính quyền Xô Viết, Lênin chủ
trương sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức tô nhượng như là một biện
pháp để giải quyết khó khăn và thúc đẩy kinh tế phát triển. Ông cho rằng:
Đó là một giao kèo, một đồng minh, một liên minh giữa chính quyền nhà
nước Xô Viết, nghĩa là nhà nước vô sản, với chủ nghĩa tư bản nhà nước. Trong
đó, “…(nhà tư bản)”, họ kinh doanh theo phương thức tư bản để lấy lợi nhuận:
họ đồng ý thỏa thuận với chính quyền vô sản để cốt thu được lợi nhuận bất
thường, lợi nhuận siêu ngạch hoặc để có được nguyên liệu mà họ không thể tìm được bằng cách khác. Chính quyền Xô Viết cũng có lợi: lực lượng sản xuất

kinh tế của hầu hết các quốc gia đều theo thể chế thị trường; xu hướng khu vực hóa, toàn
cầu hóa các hoạt động kinh tế đang trở thành phổ biến và diễn ra với tốc độ nhanh; khoa
học, kỹ thuật, công nghệ đạt tới trình độ phát triển cao;… đầu tư trực tiếp nước ngoài
không những được sử dụng như trong những hình thức hợp tác kinh tế, như phương tiện
thực hiện phân công lao động quốc tế, mà còn được xem là điều kiện quyết định sự phát
triển của kinh tế thế giới.
Nhu cầu tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài đang tăng lên một cách đáng kể trên
phạm vi toàn thế giới. Cùng với việc hình thành các khu vực tự do hóa đầu tư đã tạo ra
một cục diện cạnh tranh quyết liệt về lĩnh vực này.
1.1.1.2. Về bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Nghiên cứu nguồn gốc lịch sử của xuất khẩu tư bản Lênin đã chỉ ra rằng mặc dù,
xuất khẩu tư bản nếu xét về mặt lượng một cách giản đơn thì nó đồng nghĩa với việc làm
giảm đi một phần năng lực phát triển, giảm bớt điều kiện tạo việc làm, làm giảm khả
năng cải thiện mức sống của nước sở hữu tư bản, nhưng đây chính lại là điều kiện, là cơ
hội giúp các nhà tư bản thu được lợi nhuận từ việc đầu tư vào nước khác với mức cao
hơn. FDI với tư cách là hình thức của xuất khẩu tư bản có bản chất ăn bám với mức độ
cao mà Lênin gọi là ăn bám “bình phương”, bởi lẽ tư bản được xuất khẩu trực tiếp vốn là
kết quả mà các tổ chức độc quyền đã bóc lột được ở trong nước, nhưng lại được sử dụng
để làm công cụ đi bóc lột nước ngoài với mức lợi nhuận ngang bằng hoặc cao hơn lợi
nhuận độc quyền cao. Hơn thế nữa, kết quả bóc lột được từ xuất khẩu tư bản không chỉ là
nguồn làm giàu trước mắt cho các tổ chức độc quyền, mà còn là nguồn để củng cố địa vị
thống trị và điều kiện ổn định cho việc thu lợi nhuận cao của các tổ chức độc quyền, bởi
lẽ một phần của lợi nhuận đó còn được dùng để mua chuộc các tầng lớp lãnh đạo của
phong trào công nhân trong nước và tại thuộc địa, tạo ra tầng lớp công nhân quý tộc và
thậm chí cả dân tộc thực lợi để phá vỡ phong trào công nhân.
Đối với nước nhập khẩu tư bản thì đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy kinh tế,
kỹ thuật phát triển, song về hậu quả, trong không ít trường hợp, do năng lực tổng thể của
các nước này kém, nên nhân dân ở các nước nhập khẩu tư bản bị bóc lột nhiều hơn, các
nước này sẽ bị lệ thuộc nhiều hơn về kinh tế, kỹ thuật nước ngoài và theo “phản ứng dây



doanh đã buộc nhiều nhà sản xuất (có thể là hãng hay công ty) phải lựa chọn phương thức
đầu tư trực tiếp nước ngoài như là điều kiện cho sự tồn tại phát triển của mình.
Sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài được qui định bởi những quy luật kinh
tế hoàn toàn khách quan với những điều kiện cần và đủ chín muồi nhất định, nó chỉ là
một trong số những mặt biểu hiện ra bên ngoài của quá trình phân công lao động quốc tế
và xã hội hóa sức sản xuất trên qui mô quốc tế. Những nhân tố khác có thể kìm hãm hoặc
đẩy nhanh hơn việc mở rộng dòng di chuyển vốn, song nếu kìm hãm cũng không thể dập
tắt được đường đi của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến những nơi có lợi thế so sánh tốt
hơn, hoặc nếu có thúc đẩy cũng không vượt qua được những điều kiện thực tế hiện có
cho phép về những điều kiện cần và đủ cả nơi đi đầu tư lẫn nơi nhận đầu tư. Vậy, sự thay
đổi thái độ từ “chống lại” qua “chấp nhận” đến “hoan nghênh” đầu tư trực tiếp nước
ngoài có thể xem là nhân tố tác động tạo ra những bước thay đổi nhận thức theo hướng
ngày càng đúng hơn và chủ động hơn của con người đối với quy luật kinh tế khách quan,
về sự phát triển sức sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội đang mở rộng ra một
cách thực tế trên qui mô quốc tế. Xu hướng này có ý nghĩa quyết định trong việc chi phối
các biểu hiện vận động khác nhau của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
1.1.2. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Năm 1987 lần đầu tiên Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông
qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chính thức đánh dấu một bước ngoặt lớn trong
quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế nước ta. Sau đó, luật này đã lần lượt được
sửa đổi và bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996. Trước khi được đưa vào Luật đầu tư
chung, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1996) gồm 68 điều, chia thành 6
chương, trong đó các hình thức đầu tư được quy định ở Chương II. Theo đó, đầu tư trực
tiếp nước ngoài có 3 hình thức: 1) Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh
doanh; 2) Doanh nghiệp liên doanh; 3) Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Luật
quy định về phương thức đầu tư mới: hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao, hợp
đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh và hợp đồng xây dựng - chuyển giao. Trong
đó các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu cụ thể là:



kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu
tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
 Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (gọi tắt là hợp đồng BTO) là hình
thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng
công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó
cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó
trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.
 Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư
được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết
cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước
Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn
đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT.
Nói về hình thức đầu tư, không phân biệt trong nước hay ngoài nước tại điều 21 chương
IV Luật đầu tư đã quy định các hình thức đầu tư trực tiếp [36, tr.7-8] bao gồm:
 Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn
của nhà đầu tư nước ngoài.
 Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư
nước ngoài.
 Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng
BT.
 Đầu tư phát triển kinh doanh.
 Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lí hoạt động đầu tư.
 Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
 Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
Như vậy, so với Luật Đầu tư nước ngoài trước đây thì Luật Đầu tư đã quy định rõ
hơn về những hình thức đầu tư trực tiếp. Luật Đầu tư mới đã kết nối đầu tư của doanh
nghiệp trong nước và nước ngoài theo một hệ thống và khuyến khích các nhà đầu tư yên
tâm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Hình thức đầu tư trực tiếp áp
dụng cho nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng hơn rất nhiều so với luật trước đây, và
không thì hàng năm cũng phải chi trả thêm một mức lãi suất nhất định.
Nguồn vốn được đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành công
nghiệp hóa của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều này
cũng dễ hiểu, khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu trách nhiệm
về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra, do đó trước khi đầu tư họ buộc phải tính toán
kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án. Trước khi tiến hành đầu tư, các nhà
đầu tư nước ngoài thường có sẵn một số điều kiện cơ bản như vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm
quản lí, khả năng thị trường… tức là nhà đầu tư đã dự báo được phần nào hiệu quả có thể
thu được của đồng vốn đầu tư. Mặc dù vậy, cũng không ai dám chắc khi có đầy đủ các
điều kiện như vậy là sẽ đạt kết quả tốt trong đầu tư. Rất dễ nhận thấy rằng khi nhà đầu tư
bắt đầu bỏ vốn thực hiện dự án đầu tư thì xác suất giữa thành công và thất bại là ngang
nhau. Khi doanh nghiệp đầu tư 100% vốn nước ngoài kinh doanh có lãi, thì phần lãi thu
được họ phải trích một phần đóng góp cho nước sở tại, nhưng nếu kinh doanh thua lỗ thì
nhà đầu tư phải gánh chịu toàn bộ. Trong trường hợp kinh doanh gặp khó khăn thì chính
các công ty mẹ ở chính quốc phải tìm cách hỗ trợ… nói đúng hơn đây là những rủi ro có
thể xảy ra mà tất cả các nhà đầu tư đều phải tính toán trước. Điều này chỉ ra rằng không
có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài nào lại không tính toán kỹ trước khi đầu tư. Hay nói
cách khác, các nhà đầu tư chỉ xin phép và triển khai dự án khi họ tính toán thấy độ rủi ro
ít và khả năng thu lợi cao. Đây là lợi thế hơn hẳn của loại vốn đầu tư trực tiếp so với các
loại vốn vay khác.
Như vậy, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài là bước đi hiệu quả nhất cho các nước để
phát triển, trong đó nguồn vốn FDI đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Thực chất của việc làm này là tận dụng điều kiện khách quan thuận lợi mà
thế giới đã tạo ra thay vì phải mất trăm năm phát triển để tích lũy. Tức là các nước đi sau
có thể “mượn sức” những nước đi trước để thực hiện chiến lược “đi tắt đón đầu” để thu
dần khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển.
Mặt khác, tìm kiếm lĩnh vực và địa bàn đầu tư có khả năng thu lợi nhuận cao là bản
chất của nhà đầu tư nước ngoài. Do các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn những ngành sản

Như chúng ta biết, muốn có lợi nhuận các chủ thể kinh doanh buộc phải, một mặt,
không ngừng hạ thấp hao phí lao động cá biệt so với hao phí lao động xã hội cần thiết theo đòi hỏi của quy luật giá trị, mặt khác phải không ngừng cải tiến mẫu mã, chủng loại,
chất lượng sản phẩm, cách thức phục vụ khách hàng dựa trên sự phát triển ngày càng đa
dạng với những yêu cầu ngày càng cao của hệ thống các nhu cầu xã hội. Điều này chỉ có
thể thực hiện được khi các chủ thể kinh tế không ngừng ứng dụng những thành tựu mới
nhất của khoa học kỹ thuật - công nghệ vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao năng suất
lao động. Bản thân các nước đang phát triển với trình độ sản xuất còn lạc hậu nên dẫn
đến năng suất lao động không cao, sản phẩm kém chất lượng, không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường. Trong khi đó, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn được thực
hiện dựa trên những công nghệ hiện có nhất định, nên đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đồng
thời thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào nước tiếp nhận đầu tư. Trước sức
ép cần phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước không thể
không tiến hành ứng dụng kỹ thuật - công nghệ vào sản xuất, điều này đã góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh nội bộ ngành nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung.
Như vậy, công nghệ là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của một quốc gia, đối với các nước đang phát triển thì vai trò của công nghệ lại càng
khẳng định rõ. FDI được coi là kênh quan trọng để phát triển công nghệ của nước chủ
nhà, trong dài hạn đây chính là lợi ích căn bản nhất đối với nước tiếp nhận đầu tư.
Chuyển giao công nghệ thông qua con đường FDI thường được thực hiện bởi các công ty
xuyên quốc gia. Tuy nhiên, việc chuyển giao những công nghệ mới, có tính cạnh tranh
cao thường khó thực hiện được, đây chính là hạn chế cơ bản trong chuyển giao công nghệ
thông qua FDI.
Bên cạnh chuyển giao các công nghệ sẵn có, các dự án FDI còn tham gia nghiên
cứu và phát triển (R&D) công nghệ của nước chủ nhà, nhờ đó mà năng lực công nghệ
của nước tiếp nhận FDI ngày càng phát triển hơn. Mặt khác, trong quá trình sử dụng
các công nghệ hiện đại của nước ngoài đội ngũ chuyên gia cũng như công nhân trong
nước học được rất nhiều kinh nghiệm. Muốn học được công nghệ hiện đại đòi hỏi lực

năng động, thúc ép bản thân các doanh nghiệp nhà nước và tập thể phải không ngừng
vươn lên. Sức ép đó ngày càng lớn với sự hình thành, phát triển của thành phần kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài cùng với lộ trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nền kinh
tế nước ta. Sự tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác nhau với sự góp mặt của các doanh nghệp FDI đã làm đa dạng hơn các loại hình
doanh nghiệp, tạo ra xung lực mới cho phát triển kinh tế. Từ đó làm đa dạng thêm các
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, góp phần tạo dựng một nền kinh tế năng
động, tận dụng tối đa các nguồn lực của quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế.
Không những làm đa dạng các hình thức kinh doanh, đầu tư trực tiếp nước ngoài
còn góp phần tạo sự liên kết giữa các ngành với nhau, đặc biệt trong lĩnh vực công
nghiệp, sự liên kết này xuất hiện do các nguyên nhân: Thứ nhất, các công ty trong nước
thường nắm giữ nguồn nguyên liệu, hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho các công ty nước
ngoài trong lĩnh vực công nghiệp; Thứ hai, bất kỳ một ngành công nghiệp nào cũng cần
các ngành công nghiệp phụ trợ, các ngành công nghiệp phụ trợ này phải do các công ty
trong nước đảm nhiệm; Thứ ba, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào các khu
công nghiệp nên xu hướng các công ty trong khu công nghiệp liên kết với nhau nhằm
giảm chi phí đầu vào.
Liên kết giữa các ngành công nghiệp được biểu hiện chủ yếu thông qua quá trình trao
đổi trực tiếp giữa các công ty nội địa với các công ty nước ngoài những hàng hóa (tư liệu sản
xuất, nguyên vật liệu đầu vào) và dịch vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất - kinh doanh. Mối
liên kết này sẽ tạo ra năng lực sản xuất mới cho các ngành công nghiệp nội địa và các công
ty trong nước.
1.2.4. Tăng cường khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ là một trong những mục tiêu kinh tế
quan trọng của mỗi quốc gia, bản thân mỗi nền kinh tế luôn tồn tại những lợi thế riêng,
tùy theo những tương quan nhất định mà đó có thể là lợi thế tuyệt đối hay lợi thế tương
đối. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể thực hiện được nếu thiếu những

dân có thể phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của mình, tạo nhiều việc làm
cho lao động ở nước tiếp nhận đầu tư. Có thể nói, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo cơ hội
cho người dân có khả năng tìm kiếm và tự tạo việc làm, mở mang ngành nghề giúp làm giảm
tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế, đồng thời tạo cơ hội và điều kiện cho sự hình thành và
phát triển thị trường lao động. Cùng với việc tạo ra việc làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực của nước tiếp nhận đầu tư. Để các dự án của mình hoạt động
ngày càng hiệu quả hơn, các chủ doanh nghiệp FDI buộc phải đào tạo đội ngũ công nhân,
cán bộ quản lí làm việc cho mình, điều này đã tiết kiệm cho nước chủ nhà một phần ngân
sách để đào tạo lao động trong nước (như trợ giúp về tài chính mở các lớp đào tạo dạy
nghề trung và dài hạn, mở các lớp huấn luyện nâng cao nghiệp vụ quản lí, v.v). Ngoài ra,
để đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực trong các dự án, doanh nghiệp FDI thường
đưa người lao động đi đào tạo ở nước ngoài để họ tiếp cận được với công nghệ và kinh
nghiệm quản lí hiện đại. Trong khi làm việc ở các doanh nghiệp FDI, các chuyên gia kỹ
thuật, quản lí trong nước có cơ hội tiếp cận với các chuyên gia nước ngoài, học được các
kinh nghiệm thực hành từ các chuyên gia này. Mặt khác, do sức ép cạnh tranh trên thị
trường lao động, người lao động trong nước không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn
của mình qua học tập và qua công việc, từ đó chất lượng nguồn nhân lực trong nước
không ngừng được nâng lên.
Từ những phân tích trên có thể nói FDI là một kênh quan trọng tạo việc làm cho
người lao động của nước tiếp nhận đầu tư.
Ở Việt Nam lực lượng lao động làm việc trong khu vực FDI hầu hết là lao động
giản đơn tập trung chủ yếu trong các ngành công nghiệp chế biến, may mặc. Số lao động
trực tiếp trong các dự án FDI ngày càng tăng, nhờ các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia
công cho các đối tác nước ngoài. Năm 2006, các dự án có vốn FDI tại Việt Nam đang sử
dụng khoảng 730 ngàn lao động, chiếm 1,5% tổng lao động có việc làm tại Việt Nam
[01, tr.12]. Số lao động này được tiếp cận với công nghệ hiện đại, có kỷ luật lao động tốt,
học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam

quy mô, năng suất cao nhờ chuyên môn hóa sản xuất Nhập khẩu bổ sung được hàng
hóa, dịch vụ khan hiếm đặc biệt là thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng.
Mặt khác, xuất nhập khẩu còn thúc đẩy trao đổi thông tin, dịch vụ, tìm kiếm thị trường
cho các doanh nghiệp nội địa.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển chủ yếu tập trung đầu tư
vào lĩnh vực công nghiệp, nhờ xuất khẩu mà nước chủ nhà khai thác có hiệu quả hơn các
nguồn lực trong nước, mở rộng thâm nhập thị trường quốc tế, gia tăng các quan hệ kinh tế đối ngoại. Do đó, khuyến khích đầu tư nước ngoài hướng vào xuất khẩu thường là ưu tiên
hàng đầu trong chính sách thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư.
Trong thời gian qua, FDI vào Việt Nam chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp.
Nhờ đó, Việt Nam đã cải thiện được nhiều ngành kinh tế quan trọng như thăm dò, khai
thác dầu khí, bưu chính viễn thông, điện tử, xây dựng hạ tầng v.v. Năm 2004, khu vực có
vốn FDI đóng góp 35,68% tổng giá trị sản xuất công nghiệp cả nước. Đến nay, khu vực
có vốn FDI đóng góp 100% sản lượng của một số sản phẩm công nghiệp như dầu khí, ô
tô, máy giặt, điều hoà, tủ lạnh, thiết bị máy tính; 60% cán thép; 28% xi măng; 33% máy
móc thiết bị điện, điện tử; 76% dụng cụ y tế; 55% sản lượng sợi; 49% sản lượng da giày;
25% thực phẩm đồ uống [01, tr.11]. Nhìn chung, tốc độ tăng giá trị sản xuất công
nghiệp của khu vực có vốn FDI luôn duy trì ở mức cao.
Về kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI ở nước ta luôn có tốc độ tăng cao và
chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 1991,
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 2 tỷ USD, trong đó khu vực FDI chiếm tỷ trọng
4%, năm 2004 con số này là 26,5 tỷ USD khu vực FDI chiếm 54,6%. Riêng trong 11
tháng đầu năm 2008 Việt Nam đã có tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 58 tỷ USD, tuy nhiên
tổng kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp FDI chỉ chiếm 38,53% đạt 22,35 tỷ USD
[48].
1.2.7. Thông qua FDI, nước tiếp nhận đầu tư có thể cải thiện đáng kể cở hạ
tầng, phát triển kinh tế
Một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là sự lạc hậu và thiếu

có xu hướng bị thải loại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Những công nghệ đó
có thể trở thành đối tượng để xuất khẩu sang các nước đang phát triển thông qua FDI, do
đó thu hút FDI ngày nay của các nước đang phát triển đang song hành với nguy cơ ô
nhiễm môi trường. Mục tiêu chủ yếu của các nhà đầu tư nói chung và các nhà đầu tư trực
tiếp nước ngoài nói riêng là thu được lợi nhuận cao. Để đạt được mục tiêu đó các nhà đầu
tư luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất, tận dụng khai thác tối đa những công nghệ hiện
có. Tại các nước phát triển những yêu cầu cao của xã hội về môi trường đã làm cho các
chi phí về môi trường đối với một số những ngành sản xuất ngày càng tăng cao, ảnh
hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư. Vì vậy, một trong những nguyên nhân của đầu tư

Trích đoạn 31/12 phõn theo loại hỡnh doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status